Điếu văn Tưởng Niệm

10/08/201515:56(Xem: 10032)
Điếu văn Tưởng Niệm


Le Nhap Kim Quan_HT Giac Nhien (19)
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO TĂNG GIÀ KHẤT SĨ THẾ GIỚI

VIỆN HÀNH ĐẠO – TỔ ĐÌNH MINH ĐĂNG QUANG

-----------------------------------

ĐIẾU VĂN TƯỞNG NIỆM
CỐ TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG PHÁP CHỦ THÍCH GIÁC NHIÊN



- Pháp tử Tổ Sư Minh Đăng Quang

- Pháp chủ GHPG Tăng già Khất sĩ Thế giới tại Hoa Kỳ;

- Nguyên Viện trưởng Viện Hành đạo Giáo hội Tăng già Khất sĩ Việt Nam;

- Nguyên Trưởng Giáo đoàn IV Hệ phái Khất sĩ;

- Viện chủ khai sơn Tổ đình Minh Đăng Quang, Santa Ana, California;

- Viện chủ Viện Truyền Thống Minh Đăng Quang, Westminster, California;

 - Viện chủ khai sơn Pháp viện Minh Đăng Quang, quận 2, Sài Gòn; Việt Nam.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính lạy chư Phật Pháp Tăng mười phương ba đời

Kính lạy Đức Tổ sư Minh Đăng Quang

Kính lạy Giác linh Trưởng lão Hoà thượng Pháp Sư Thích Giác Nhiên tân Viên tịch

Đại diện dân biểu thành phố Santa Ana, thành phố Westminster

Kính thưa Ban Tổ chức Tang lễ

Kính thưa Thiện Nam, tín nữ Phật tử

 

Ngưỡng bạch Giác linh Trưởng lão Hòa thượng,

Hỡi ôi!

Vầng nguyệt đã lặn mây!

Hoa đàm vừa rụng suối!

Đất Pháp hôm nay trãi nắng vàng,

Hoa Nghiêm cảnh vật đượm màu tang,

Thầy đà yên nghĩ nghìn thu giấc,

Ngơ ngác chúng con lạc mất đàn!

Trong giờ phút nghìn thu vĩnh biệt, trước khi cử hành Lễ cung tống kim qua Trưởng lão Hòa thượng trở về Việt Nam, chúng tôi xin được thay mặt Ban Tổ chức Tang lễ, Môn đồ Pháp quyến có đôi lời ai điếu tưởng niệm Ân sư.

Kính bạch Giác linh Thầy,

Từ vùng đất địa linh nhân kiệt, Trấn Giang – Tây Đô một thuở vang danh, vùng đất mới một thời lập nghiệp, xứ Cần Thơ một đời thọ mạng, Trưởng lão đã hiện thân hiền sĩ, giữa phàm trần không nhiễm hồng trần. Thuở ấu niên, Phật pháp một lòng, tâm cầu học đạo, chí xuất trần ươm mầm giải thoát. Năm 8 tuổi cụ Thân Sinh lìa trần thế, ngài phát nguyện quy y đầu Phật, đức tôn sư Minh Trí ban Pháp hiệu Minh Châu. Năm 16 tuổi xuân xanh tròn, thọ giáo Đại Lão Hòa Thượng Minh Phụng, ban Pháp hiệu Tánh Chơn.

 

Nước sông Mê Kông Cần Thơ thao thao dòng Phật thủy,

Rồi đến độ nhân duyên hội đủ,

Tình Thầy Trò khế hợp cơ duyên,

Trong sắc thắm Huỳnh y giải thoát,

Quyết chí xuất trần,

Thực hành phạm hạnh,

Năm một chín năm mốt (1951),

Tầm cầu học đạo,

Thọ giáo ân đức Tổ sư,

Ban Pháp danh Khất sĩ Giác Nhiên.

Căn lành thiện trí uyên nguyên,

Minh Đăng Quang khai dòng Khất sĩ,

Đạo Khất sĩ nối truyền Thích Ca Chánh Pháp,

Thật hành theo hạnh du sĩ tha phương,

Mượn Y - Bát để làm phương giáo hóa,

 

Quả thật:

“Bậc hiền nhân đã dự vào dòng sử Phật,

Như Hạc vàng cất cánh nhàn du”.

Kể từ đó, theo đức Tổ Sư đi hành đạo khắp mọi nơi. Mảnh Cà sa bình bát một thân, hành trì hạnh Du Tăng Khất sĩ, Tăng vô nhất vật, hạnh nguyện ba đời mời phương chư Phật, pháp giới là nhà, chúng sanh là quyến thuộc. Quyết chí xuất trần thượng sĩ, nêu cao gương xả kỷ và vị tha, thực hành hạnh nguyện lợi tha.  

Đạo vàng một thưở nở trăm hoa,

Kế tiếp truyền thừa,

Phụng mệnh Tổ sư truyền trì Tổ Đạo,

Làm cho Tăng đoàn hòa hợp,

Pháp Khất sĩ tăng huy,

Sài Gòn xưa, khai sáng Pháp Viện Minh Đăng Quang,

Đạo vàng xán lạng,

Tứ chúng đồng tu,

Lục hòa cộng trụ.

Cho đến khi Tôn Sư vắng bóng;

Tiếp tục dẫn đoàn du Tăng Khất Sĩ Vân du,

Đi hành đạo khắp nơi nơi xứ xứ,

Khai mở thêm 30 ngôi Tịnh xá,

Hơn một nữa miền Nam đất Việt,

Đến tận miền Mỹ, Úc, Âu châu,

Thành phố Santa Ana,

Tổ đình Minh Đăng Quang khai mở,

Giáo pháp hoằng truyền,

Chúng sanh an lạc,

Đạo thể vuông tròn,

Tâm hồn vô ngã,

Từ bi hỷ xả,

Nhiếp hóa quần sanh,

Thể nhập Chân như,

Ban rãi lòng từ,

Nhiếp Tăng độ chúng,

Lợi lạc vô cùng,

An lành trong Chánh pháp,

Giải thoát trong việc làm,

Vô vi tự tại.

Hỡi ôi!

“Gương xưa biết mấy nhiêu đàng,

Bây giờ xem lại rõ ràng là đây”.

 

Cuộc đời và đạo nghiệp của Trưởng lão đã làm cho những Tăng Ni, Phật tử hữu duyên phát khởi tín tâm, tu hành tinh tấn, vững bền đạo nghiệp, tiến bước trên đường giải thoát, làm cho cõi đời sáng lạng tăng huy. Năm 1960, trên cương vị lãnh đạo Tăng đồ Khất sĩ, được Đại Hội đề cử chức vụ Tổng Trị Sự Trưởng Giáo Hội Tăng Già Khất Sĩ Việt Nam, kiêm Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Tăng Sự, Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Hoằng Pháp và Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Xã Hội. Đến năm 1964, được Đại Hội đề cử chức vụ Viện Trưởng Viện Hành Đạo Trung Ương.

Bằng tinh thần phụng sự chúng sanh là cúng dường Chư Phật, hạnh nguyện vô ngã vị tha Trưởng lão đã để lại cho đời quả pháp vị thanh cao.

Ta-bà, chín mươi ba năm tùy duyên hạnh ngộ,

Tròn 60 năm Hoằng dương Chánh pháp,

Trưởng lão đã trùng hưng giáo pháp,

Lên ngôi vị Pháp chủ cao minh,

Giáo Âm, pháp vị xương minh,

Chốn chốn thắm nhuần cội đức.

Kính dâng Tôn sư Minh Đăng Quang,

Công nếu đắm, lụy tinh thần,

Quyết mở càng khôn, đoạt lý chân,

Đệ tử cam lìa, lìa cội Tử,

Mồ phần cũng biệt, biệt cây Phần,

Say mùi đạo lý, tiêu mùi tục,

azzssNếm vị Thiền Na, mất vị trần,

Trổi gót Ta Bà, dìu dắt chúng,

Muôn loài tán thán đấng siêu nhân.

 

Thế nhưng tưởng trên bước đường Du Tăng Khất Sĩ, thừa hành Phật tại nhân gian, Trưởng lão còn thác tích lâu hơn nữa để lợi lạc khắp quần sanh. Giờ đây nơi cõi trần mây mù giăng phủ, Ngài đi về cõi Niết bàn vô tung bất diệt; Hỡi ôi! một phút vô thường, huyễn thân tạm xả, Ta bà hóa mãn pháp thân, tịnh thổ rụng hoa Ưu đàm, tuỳ duyên ứng hiện, đến đi vô ngại, như những cánh nhạn giữa trời không, Trưởng lão đã an nhiên thâu thần thị tịch, để lại cho đời tiếc nuối ngậm ngùi. Ôi tấm gương đạo hạnh sáng ngời.

Kính bạch Giác Linh Thầy khả kính,

Đài Giác-ngộ, Thế tôn thuyết giáo,

Cõi Ta-bà, Đức Thầy giáo hóa độ nhân sanh,

Cõi an lành:

“Sắc tướng vốn không, mượn cảnh huyễn độ người như huyễn.

Tử sinh nào có, nương thuyền từ độ kẻ trong mê”.

……

Thiền tọa gốc cây hàng huệ sĩ,

Chôn mình trong đất bậc chân nhân.

Nay, chư tôn đức lãnh đạo các cấp Giáo hội và chúng con gập đầu khấp lệ ngậm ngùi bái biệt bậc Thầy hiền khả kính, Phật tử gần xa đều kính thương luyến tiếc, tiễn biệt nhục thân Trưởng lão về đất Mẹ Việt Nam, nơi khởi thủy nền Khất sĩ ngày xưa… Ôi, nghìn thu vĩnh biệt, cúi đầu đảnh lễ Giác linh Trưởng Lão thùy từ chứng giám, an trú Niết bàn, tịnh lạc thường nhiên:

Đất tiên nay nở mạch rồng,

Minh Đăng nay tỏ rạng hồng phương Nam.

…..

“Một cành mà nở trăm hoa,

Bóng y bát đẹp quê ta tự rày,

Chơn truyền Khất sĩ là đây, 

Bóng xưa với lại hình này dặm không”.  (Ánh Minh Quang)

Thành kính cầu nguyện Giác linh Trưởng lão Hoà thượng đức Pháp chủ Giáo hội Tăng Già Khất sĩ Thế giới thể nhập vô sinh, hội nhập Ta Bà, cùng với hàng Pháp lữ tiếp tục sứ mệnh hoằng dương chánh pháp, phổ độ quần sinh.

  Nam Mô Giác Linh Trưởng lão Hòa thượng Pháp chủ Giác Nhiên thùy từ chứng giám.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/03/2013(Xem: 18096)
Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư, Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 01 (2007, Canada) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 02 (2008, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 03 (2019, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 04 (2010, Đức) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 05 (2011, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 06 (2012, Úc) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 07 (2013, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 08 (2014, Úc) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 09 (2015, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 10 (2016, Canada) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 11 (2018, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 12 (2020, Úc)
18/03/2013(Xem: 8619)
Viện Đại học Vạn Hạnh ở Sài Gòn, thủ đô miền Nam Việt Nam, trước năm 1975 là một trung tâm văn hóa Phật giáo nổi tiếng lừng lẫy. Nơi đây đã quy tụ biết bao hào kiệt trượng phu, biết bao tao nhân mặc khách, biết bao giáo sư, triết gia cự phách thượng đẳng. Đặc biệt là các thiên tài xuất chúng siêu việt như Phạm Công Thiện, Tuệ Sỹ, Lê Mạnh Thát, nổi bật nhất là Bùi Giáng, một thi sĩ kỳ dị, xưa nay chưa từng thấy xuất hiện trên bầu trời văn nghệ Việt Nam và thế giới.
11/03/2013(Xem: 8784)
Lê Quý Đôn (1726-1784) là một danh sĩ, nhà văn hóa, sử gia, sống vào đời Hậu Lê. Ông không những ba lần thi đều đỗ đầu, kinh qua nhiều chức quan, đã từng đi sứ sang Trung Quốc, mà còn là một nhà bác học, đã để lại một gia tài đồ sộ bao gồm khoảng 16 tác phẩm và nhiều thơ, phú bằng chữ Nôm khác. [1] Trong số những tác phẩm ấy, có Kiến văn tiểu lục, [2] là một tác phẩm dành riêng quyển 9 – thiên Thiền dật, để viết về Phật giáo và Thiền tông Phật giáo Việt Nam, chủ yếu là những vị Tổ thuộc Thiền phái Trúc lâm. Trong bài viết ngắn này, chúng ta thử chỉ tìm hiểu quan điểm của Lê Quý Đôn về Phật giáo, mà không bàn sâu đến phần Thiền tông Việt Nam mà ông đã chép.
21/02/2013(Xem: 9738)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái. Ngài sinh trưởng trong một gia đình Nho phong. Thân phụ Ngài tinh thông Hán học. Cả hai ông bà lại rất thâm tín Phật pháp. Do đó, Ngài được hấp thụ ngay từ thuở ấu thơ hai nền văn hóa cổ truyền của dân tộc là Khổng giáo và Phật giáo.
19/02/2013(Xem: 11517)
Mới đây các nhà khảo cổ Mỹ và Canada đưa ra chứng cứ cho rằng Phật giáo đã được truyền vào Mỹ trước khi ông Columbus tìm ra châu Mỹ. Tuy nhiên, theo các tài liệu có được hiện nay thì Phật giáo chỉ thật sự có mặt tại Mỹ sau kỳ Đại hội Tôn giáo Thế giới tổ chức tại bang Chicago vào năm 1893. Nhưng ai là người có công truyền bá và làm lớn mạnh "hạt giống Bồ đề" trên đất Mỹ? Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu một số nhà sư cư sĩ người châu Á, những người tiên phong có công đặt nền móng xây dựng ngôi nhà chánh pháp trên đất Mỹ.
10/02/2013(Xem: 13119)
Từ những con người bình thường, không được sinh ra ở cung vàng điện ngọc, nhưng rồi trở thành những vị vua anh minh tài kiêm văn võ, tư tưởng và nhân cách cao siêu, mãi còn đọng lại với thời gian. Dù sống ở hoàng cung nhưng tâm lúc nào cũng vượt thoát, làm bậc đế vương nhưng hạnh vẫn là một sơn Tăng, ưa vui với gió nội mây ngàn, thở nhịp cùng đất trời nhân gian cây cỏ. Để rồi trở thành những người con Phật vĩ đại, trí tuệ và công hạnh thắm đượm cả không gian, thức tỉnh chúng ta trên bến bờ sinh tử của mê ngộ, đậm nét trong lòng người đến tận hôm nay. Bồ Tát Lương Võ Đế ( 463-549 ) của Trung Hoa và Trần Thái Tông ( 1218-1277) của Việt Nam, dù ở hai phương trời xa cách, sinh ra ở hai thời điểm khác nhau, nhưng cùng chung một tấm lòng, mang an lạc thịnh vượng đến cho nhân dân, và một hạnh nguyện chuyển hoá cứu độ quần sanh.
07/02/2013(Xem: 24296)
Nửa thế kỷ Tôn Sư vắng bóng, Ánh Đạo Vàng tỏa rộng muôn phương Hôm nay tổ chức huy hoàn Hằng năm kỷ niệm, đàn tràng tôn nghiêm. Môn đồ Tứ chúng ngưỡng chiêm,
06/02/2013(Xem: 10354)
Hòa thượng Bích Liên, thế danh là Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình (Thận Thần Thị), sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876), tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn, nay là ấp Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ngài sinh trưởng trong một gia đình nho học, được theo nghiệp bút nghiên từ nhỏ. Cha là Tú Tài Nguyễn Tự, mẹ là bà Lâm Thị Hòa Nghị . Năm 20 tuổi, Ngài lập gia đình với cô Lê Thị Hồng Kiều, người làng An Hòa, (nay thuộc xã Nhơn Khánh cùng huyện). Năm 31 tuổi, Ngài lều chõng vào trường thi Hương Bình Định và đỗ Tú Tài. Ba năm sau, Ngài lại đỗ Tú Tài lần nữa. Từ đó, biết mình long đong trên bước đường khoa bảng, Ngài giã từ lều chõng, ở nhà mở trường dạy học, mượn trăng thanh gió mát di dưỡng tính tình, lấy chén rượu câu thơ vui cùng tuế nguyệt.
03/02/2013(Xem: 8682)
Tuệ Sỹ là ai mà thơ hào sảng, hùng tâm tráng khí như thế ? Tuệ Sỹ quê Quảng Bình, sinh năm 1943, nhỏ hơn Phạm Công Thiện 2 tuổi, cũng là một bậc thiên tài xuất chúng, làu thông kinh điển Nguyên thủy, Đại thừa và nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hán, Phạn, Pali. Khi mới vừa 26 tuổi đã viết Triết học về Tánh Không làm chấn động giới văn nghệ sĩ, học giả, thiện tri thức Việt Nam thời bấy giờ.
20/01/2013(Xem: 8603)
Phạm Công Thiện(1/6/1941 - 8/3/2011), là một nhà văn, triết gia, học giả, thi sĩ và cư sĩ Phật Giáo người Việt Nam với pháp danh Thích Nguyên Tánh. Tuy nhận mình là nhà thơ và phủ nhận nghề triết gia, ông vẫn được coi là một triết gia thần đồng, một hiện tượng dị thường của Sài Gòn thập niên 60 và của Việt Nam với những tư tưởng ít người hiểu và được bộc phát từ hồi còn rất trẻ. Dưới đây là bài viết của Tâm Nhiên nhân sắp đến ngày giỗ của ông.