Điếu văn Tưởng Niệm

10/08/201515:56(Xem: 10218)
Điếu văn Tưởng Niệm


Le Nhap Kim Quan_HT Giac Nhien (19)
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO TĂNG GIÀ KHẤT SĨ THẾ GIỚI

VIỆN HÀNH ĐẠO – TỔ ĐÌNH MINH ĐĂNG QUANG

-----------------------------------

ĐIẾU VĂN TƯỞNG NIỆM
CỐ TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG PHÁP CHỦ THÍCH GIÁC NHIÊN



- Pháp tử Tổ Sư Minh Đăng Quang

- Pháp chủ GHPG Tăng già Khất sĩ Thế giới tại Hoa Kỳ;

- Nguyên Viện trưởng Viện Hành đạo Giáo hội Tăng già Khất sĩ Việt Nam;

- Nguyên Trưởng Giáo đoàn IV Hệ phái Khất sĩ;

- Viện chủ khai sơn Tổ đình Minh Đăng Quang, Santa Ana, California;

- Viện chủ Viện Truyền Thống Minh Đăng Quang, Westminster, California;

 - Viện chủ khai sơn Pháp viện Minh Đăng Quang, quận 2, Sài Gòn; Việt Nam.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính lạy chư Phật Pháp Tăng mười phương ba đời

Kính lạy Đức Tổ sư Minh Đăng Quang

Kính lạy Giác linh Trưởng lão Hoà thượng Pháp Sư Thích Giác Nhiên tân Viên tịch

Đại diện dân biểu thành phố Santa Ana, thành phố Westminster

Kính thưa Ban Tổ chức Tang lễ

Kính thưa Thiện Nam, tín nữ Phật tử

 

Ngưỡng bạch Giác linh Trưởng lão Hòa thượng,

Hỡi ôi!

Vầng nguyệt đã lặn mây!

Hoa đàm vừa rụng suối!

Đất Pháp hôm nay trãi nắng vàng,

Hoa Nghiêm cảnh vật đượm màu tang,

Thầy đà yên nghĩ nghìn thu giấc,

Ngơ ngác chúng con lạc mất đàn!

Trong giờ phút nghìn thu vĩnh biệt, trước khi cử hành Lễ cung tống kim qua Trưởng lão Hòa thượng trở về Việt Nam, chúng tôi xin được thay mặt Ban Tổ chức Tang lễ, Môn đồ Pháp quyến có đôi lời ai điếu tưởng niệm Ân sư.

Kính bạch Giác linh Thầy,

Từ vùng đất địa linh nhân kiệt, Trấn Giang – Tây Đô một thuở vang danh, vùng đất mới một thời lập nghiệp, xứ Cần Thơ một đời thọ mạng, Trưởng lão đã hiện thân hiền sĩ, giữa phàm trần không nhiễm hồng trần. Thuở ấu niên, Phật pháp một lòng, tâm cầu học đạo, chí xuất trần ươm mầm giải thoát. Năm 8 tuổi cụ Thân Sinh lìa trần thế, ngài phát nguyện quy y đầu Phật, đức tôn sư Minh Trí ban Pháp hiệu Minh Châu. Năm 16 tuổi xuân xanh tròn, thọ giáo Đại Lão Hòa Thượng Minh Phụng, ban Pháp hiệu Tánh Chơn.

 

Nước sông Mê Kông Cần Thơ thao thao dòng Phật thủy,

Rồi đến độ nhân duyên hội đủ,

Tình Thầy Trò khế hợp cơ duyên,

Trong sắc thắm Huỳnh y giải thoát,

Quyết chí xuất trần,

Thực hành phạm hạnh,

Năm một chín năm mốt (1951),

Tầm cầu học đạo,

Thọ giáo ân đức Tổ sư,

Ban Pháp danh Khất sĩ Giác Nhiên.

Căn lành thiện trí uyên nguyên,

Minh Đăng Quang khai dòng Khất sĩ,

Đạo Khất sĩ nối truyền Thích Ca Chánh Pháp,

Thật hành theo hạnh du sĩ tha phương,

Mượn Y - Bát để làm phương giáo hóa,

 

Quả thật:

“Bậc hiền nhân đã dự vào dòng sử Phật,

Như Hạc vàng cất cánh nhàn du”.

Kể từ đó, theo đức Tổ Sư đi hành đạo khắp mọi nơi. Mảnh Cà sa bình bát một thân, hành trì hạnh Du Tăng Khất sĩ, Tăng vô nhất vật, hạnh nguyện ba đời mời phương chư Phật, pháp giới là nhà, chúng sanh là quyến thuộc. Quyết chí xuất trần thượng sĩ, nêu cao gương xả kỷ và vị tha, thực hành hạnh nguyện lợi tha.  

Đạo vàng một thưở nở trăm hoa,

Kế tiếp truyền thừa,

Phụng mệnh Tổ sư truyền trì Tổ Đạo,

Làm cho Tăng đoàn hòa hợp,

Pháp Khất sĩ tăng huy,

Sài Gòn xưa, khai sáng Pháp Viện Minh Đăng Quang,

Đạo vàng xán lạng,

Tứ chúng đồng tu,

Lục hòa cộng trụ.

Cho đến khi Tôn Sư vắng bóng;

Tiếp tục dẫn đoàn du Tăng Khất Sĩ Vân du,

Đi hành đạo khắp nơi nơi xứ xứ,

Khai mở thêm 30 ngôi Tịnh xá,

Hơn một nữa miền Nam đất Việt,

Đến tận miền Mỹ, Úc, Âu châu,

Thành phố Santa Ana,

Tổ đình Minh Đăng Quang khai mở,

Giáo pháp hoằng truyền,

Chúng sanh an lạc,

Đạo thể vuông tròn,

Tâm hồn vô ngã,

Từ bi hỷ xả,

Nhiếp hóa quần sanh,

Thể nhập Chân như,

Ban rãi lòng từ,

Nhiếp Tăng độ chúng,

Lợi lạc vô cùng,

An lành trong Chánh pháp,

Giải thoát trong việc làm,

Vô vi tự tại.

Hỡi ôi!

“Gương xưa biết mấy nhiêu đàng,

Bây giờ xem lại rõ ràng là đây”.

 

Cuộc đời và đạo nghiệp của Trưởng lão đã làm cho những Tăng Ni, Phật tử hữu duyên phát khởi tín tâm, tu hành tinh tấn, vững bền đạo nghiệp, tiến bước trên đường giải thoát, làm cho cõi đời sáng lạng tăng huy. Năm 1960, trên cương vị lãnh đạo Tăng đồ Khất sĩ, được Đại Hội đề cử chức vụ Tổng Trị Sự Trưởng Giáo Hội Tăng Già Khất Sĩ Việt Nam, kiêm Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Tăng Sự, Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Hoằng Pháp và Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Xã Hội. Đến năm 1964, được Đại Hội đề cử chức vụ Viện Trưởng Viện Hành Đạo Trung Ương.

Bằng tinh thần phụng sự chúng sanh là cúng dường Chư Phật, hạnh nguyện vô ngã vị tha Trưởng lão đã để lại cho đời quả pháp vị thanh cao.

Ta-bà, chín mươi ba năm tùy duyên hạnh ngộ,

Tròn 60 năm Hoằng dương Chánh pháp,

Trưởng lão đã trùng hưng giáo pháp,

Lên ngôi vị Pháp chủ cao minh,

Giáo Âm, pháp vị xương minh,

Chốn chốn thắm nhuần cội đức.

Kính dâng Tôn sư Minh Đăng Quang,

Công nếu đắm, lụy tinh thần,

Quyết mở càng khôn, đoạt lý chân,

Đệ tử cam lìa, lìa cội Tử,

Mồ phần cũng biệt, biệt cây Phần,

Say mùi đạo lý, tiêu mùi tục,

azzssNếm vị Thiền Na, mất vị trần,

Trổi gót Ta Bà, dìu dắt chúng,

Muôn loài tán thán đấng siêu nhân.

 

Thế nhưng tưởng trên bước đường Du Tăng Khất Sĩ, thừa hành Phật tại nhân gian, Trưởng lão còn thác tích lâu hơn nữa để lợi lạc khắp quần sanh. Giờ đây nơi cõi trần mây mù giăng phủ, Ngài đi về cõi Niết bàn vô tung bất diệt; Hỡi ôi! một phút vô thường, huyễn thân tạm xả, Ta bà hóa mãn pháp thân, tịnh thổ rụng hoa Ưu đàm, tuỳ duyên ứng hiện, đến đi vô ngại, như những cánh nhạn giữa trời không, Trưởng lão đã an nhiên thâu thần thị tịch, để lại cho đời tiếc nuối ngậm ngùi. Ôi tấm gương đạo hạnh sáng ngời.

Kính bạch Giác Linh Thầy khả kính,

Đài Giác-ngộ, Thế tôn thuyết giáo,

Cõi Ta-bà, Đức Thầy giáo hóa độ nhân sanh,

Cõi an lành:

“Sắc tướng vốn không, mượn cảnh huyễn độ người như huyễn.

Tử sinh nào có, nương thuyền từ độ kẻ trong mê”.

……

Thiền tọa gốc cây hàng huệ sĩ,

Chôn mình trong đất bậc chân nhân.

Nay, chư tôn đức lãnh đạo các cấp Giáo hội và chúng con gập đầu khấp lệ ngậm ngùi bái biệt bậc Thầy hiền khả kính, Phật tử gần xa đều kính thương luyến tiếc, tiễn biệt nhục thân Trưởng lão về đất Mẹ Việt Nam, nơi khởi thủy nền Khất sĩ ngày xưa… Ôi, nghìn thu vĩnh biệt, cúi đầu đảnh lễ Giác linh Trưởng Lão thùy từ chứng giám, an trú Niết bàn, tịnh lạc thường nhiên:

Đất tiên nay nở mạch rồng,

Minh Đăng nay tỏ rạng hồng phương Nam.

…..

“Một cành mà nở trăm hoa,

Bóng y bát đẹp quê ta tự rày,

Chơn truyền Khất sĩ là đây, 

Bóng xưa với lại hình này dặm không”.  (Ánh Minh Quang)

Thành kính cầu nguyện Giác linh Trưởng lão Hoà thượng đức Pháp chủ Giáo hội Tăng Già Khất sĩ Thế giới thể nhập vô sinh, hội nhập Ta Bà, cùng với hàng Pháp lữ tiếp tục sứ mệnh hoằng dương chánh pháp, phổ độ quần sinh.

  Nam Mô Giác Linh Trưởng lão Hòa thượng Pháp chủ Giác Nhiên thùy từ chứng giám.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
06/02/2013(Xem: 10596)
Hòa thượng Bích Liên, thế danh là Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình (Thận Thần Thị), sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876), tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn, nay là ấp Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ngài sinh trưởng trong một gia đình nho học, được theo nghiệp bút nghiên từ nhỏ. Cha là Tú Tài Nguyễn Tự, mẹ là bà Lâm Thị Hòa Nghị . Năm 20 tuổi, Ngài lập gia đình với cô Lê Thị Hồng Kiều, người làng An Hòa, (nay thuộc xã Nhơn Khánh cùng huyện). Năm 31 tuổi, Ngài lều chõng vào trường thi Hương Bình Định và đỗ Tú Tài. Ba năm sau, Ngài lại đỗ Tú Tài lần nữa. Từ đó, biết mình long đong trên bước đường khoa bảng, Ngài giã từ lều chõng, ở nhà mở trường dạy học, mượn trăng thanh gió mát di dưỡng tính tình, lấy chén rượu câu thơ vui cùng tuế nguyệt.
03/02/2013(Xem: 8856)
Tuệ Sỹ là ai mà thơ hào sảng, hùng tâm tráng khí như thế ? Tuệ Sỹ quê Quảng Bình, sinh năm 1943, nhỏ hơn Phạm Công Thiện 2 tuổi, cũng là một bậc thiên tài xuất chúng, làu thông kinh điển Nguyên thủy, Đại thừa và nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hán, Phạn, Pali. Khi mới vừa 26 tuổi đã viết Triết học về Tánh Không làm chấn động giới văn nghệ sĩ, học giả, thiện tri thức Việt Nam thời bấy giờ.
20/01/2013(Xem: 8825)
Phạm Công Thiện(1/6/1941 - 8/3/2011), là một nhà văn, triết gia, học giả, thi sĩ và cư sĩ Phật Giáo người Việt Nam với pháp danh Thích Nguyên Tánh. Tuy nhận mình là nhà thơ và phủ nhận nghề triết gia, ông vẫn được coi là một triết gia thần đồng, một hiện tượng dị thường của Sài Gòn thập niên 60 và của Việt Nam với những tư tưởng ít người hiểu và được bộc phát từ hồi còn rất trẻ. Dưới đây là bài viết của Tâm Nhiên nhân sắp đến ngày giỗ của ông.
12/01/2013(Xem: 8814)
Đã có rất nhiều sách vở, bài viết hoặc với tính chất nghiên cứu, hoặc là các bài giảng phổ cập bàn về tông Thiên Thai và kinh Pháp Hoa. Bài viết này nói đến vai trò, vị trí của Đại sư Trí Khải và tông Thiên Thai trong lịch sử Phật giáo, cũng như trong nền văn hóa tư tưởng của toàn thể nhân loại. Đại sư Trí Khải sinh năm 538, vào thời đại mà sau này các sử gia gọi là Nam Bắc triều (220-589). Sông Dương Tử được lấy làm gianh giới phân chia giữa hai miền Nam và Bắc. Trong thiền sử, ta thường nghe nói đến câu Nam Năng (Huệ Năng)-Bắc Tú (Thần Tú), để phân biệt hai dòng thiền: Đại sư Thần Tú xiển dương Thiền tiệm ngộ ngay tại Trường An; Đại sư Huệ Năng phát triển Thiền đốn ngộ tại vùng Quảng Đông và lân cận. Bấy giờ Trung Hoa bị chia thành nhiều nước nhỏ, nước này xâm lăng và thôn tính nước kia, gây nên nhiều cuộc chiến tương tàn, dân chúng sống trong cảnh lầm than đau khổ.
07/01/2013(Xem: 9888)
Phần lớn độc giả biết nhiều đến các tiểu luận và các tập thơ phản chiến, nhưng ít người biết đến những bài thơ Thiền của Nhất Hạnh. Tôi xin trích một bài được nhà xuất bản Unicorn Press xuất bản trong tâp thơ Zen Poems của Nhất Hạnh vào năm 1976 (bản dịch Anh Ngữ) của Võ Đình. Bài này được in vào tuyển tập thơ nhạc họa vào mùa Phật Đản 1964
10/12/2012(Xem: 10086)
Cả cuộc đời 86 tuổi của Ngài Đội trời đạp đất, đã tròn chưa bản nguyện Kiếp tu hành 81 năm của Ngài Gánh vác hy sinh...
09/10/2012(Xem: 15583)
Thiền sư Lê Mạnh Thátcho rằng Vua Trần Nhân Tông là một nhân vật tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam nhất là vì tư tưởng hòa giải dân tộc của ông vẫn còn tính thời sự. Trả lời câu hỏi của BBC vì sao tư tưởng của Trần Nhân Tông (trị vì từ năm 1278-1293) và là Phật Hoàng, sáng lập ra phái thiền phái Trúc Lâm vẫn còn có tính thời sự đối với Việt Nam và cả quan hệ Mỹ - Việt cũng như Việt - Trung, Tiến sỹ Lê Mạnh Thát nói:
01/10/2012(Xem: 8237)
Kính bạch Giác Linh Đức Thầy, Dẫu biết rằng: “Cuộc đời là ảo mộng, vạn vật vốn vô thường, chuyển di không ngừng nghỉ, biến diệt lẽ tự nhiên, tử sanh không tránh khỏi.” Nhưng ân đức cao dày, tình thương nồng thắm, Đức Thầy đã ban cho hàng đệ tử chúng con, chẳng những được kết thành giới thân huệ mạng, mà còn mang lại cho cuộc đời giải thoát của chúng con vô vàn hạnh phúc… Ân đức ấy, mãi mãi khắc sâu vào cuộc đời tu học của chúng con vô cùng vững chắc, dù cho thời gian, sự vô thường có thay đổi...
22/09/2012(Xem: 9916)
Ni sư Thích Nữ Như Phụng nguyên là viện chủ chùa Long Vân , sinh tiền Ni sư là cố vấn ni chúng chùa Long Vân , làm Hóa chủ trường hạ trong 6 năm , trưởng phòng châm cứu từ thiện của chùa,thành viên mặt trận tổ quốc xã Tam Phước , trưởng bếp cơm từ thiện Bệnh viện đa khoa Long Thành. Suốt cả cuộc đời ni sư tận tụy cho sự nghiệp tu hành và hoằng dương Đạo pháp , một lòng chuyên tâm Niệm Phật A Di Đà , công quả viên mãn Ni sư an nhiên tự tại vãng sanh trong lúc đứng Niệm Phật cùng đại chúng trên Đại hùng bảo điện không gian tràn ngập hương cúng dường thanh tịnh .Sau khi làm lễ trà tì ngài để lại rất nhiều xá lợi minh chứng cho công đức tu hành tinh nghiêm của một vị cao ni.
21/09/2012(Xem: 13903)
Phật hoàng Trần Nhân Tông, tên húy là Trần Khâm, sinh ngày 07/12/1258 (11/11/Mậu Ngọ), con trưởng của Vua Trần Thánh Tông và Hoàng Thái hậu Nguyên Thánh. Thân hình Ngài có những đặc điểm khác thường, nhất là có màu vàng, nên được vua cha đặt cho biệt hiệu là Phật kim.