Điếu văn của HT Giác Lượng

10/08/201516:04(Xem: 11120)
Điếu văn của HT Giác Lượng

Điếu văn của Hòa thượng Thích Giác Lượng

Viện trưởng Viện Hành Đạo Giáo Hội Phật giáo Tăng-già Khất sĩ Thế giới

Tưởng Niệm Cố Trưởng Lão HT. Pháp Chủ Thích Giác Nhiên

 

Mây trời Mỹ Quốc còn in bóng,

Biển nước California vẫn xuôi dòng,

Đất Mẹ Việt Nam… Khất sĩ Cội hồng,

Pháp Khất sĩ Giác Nhiên hôm nay cao lồng lộng,

Đến tận miền Mỹ, Úc, Âu châu,

Tổ đình, Tịnh xá… Minh Đăng Quang khai mở,

Giáo pháp hoằng truyền giáo hóa quần sanh,

Tứ chúng đồng tu an lạc hạnh,

Đạo thể vuông tròn nhập Niết-bàn bất diệt vô sanh,

Giáo hội kính ghi gương đạo hạnh,

Ta-bà lưu dấu bóng chân nhân.

 

Kính bạch Giác linh Đức Ngài Pháp Chủ Giáo Hội Phật giáo Tăng-già Khất sĩ Thế giới,

Trước kim quan của Hòa thượng Pháp chủ,

Trong giờ phút nghìn thu vĩnh biệt,

Trang nghiêm thanh tịnh,

Con thành kính nghiêng mình tiễn biệt Đức Ngài Cao đăng Phật quốc.

Hòa thượng  trở về nơi cõi Phật,

Dẫu biết rằng sinh tử là lẽ thường,

Nhưng làm sao tránh khỏi bùi ngùi vĩnh  biệt!

 

Nhớ Giác linh xưa:

Năm Quý Hợi (1923), tại Trấn Giang, Cần Thơ

Ghi dấu một cao tăng tái kiếp làm hài nhi

Thân tướng trượng phu, cốt cách phương phi

Trong gia đình, Thân Phụ Mẫu đều tin Phật.

 

Mồ côi cha khi vừa tròn tám tuổi

Lại vĩnh biệt mẹ lúc đương xuân trai trẻ

Nhìn thấy đời Vô thường, sinh tử

Nghiên tầm Phật pháp, quyết chí đi tu.

 Mười sáu tuổi xuân,

Từ bỏ cuộc đời trần tục, cầu đạo xuất gia,

Thầy Minh Trí ban Pháp hiệu Minh Châu,

Rồi đến Ngài Đại Lão Hòa Thượng Minh Phụng, ban Pháp hiệu Tánh Chơn.

Ngày đêm tinh tấn, ít ngủ, siêng tu

Kinh điển thuộc làu trong thời gian ngắn,

Dòng Thời gian lần hồi trôi  theo dòng pháp,

Bước chân Minh Đăng Quang xuất hiện trời Nam,

Ánh Nhiên Đăng ngời ngời sang tỏ;

Năm Tân Mão, xuôi dòng sông Mê Kông Cần Thơ học đạo

Nương bóng từ:

Thọ giáo với Đức Tổ sư Minh Đăng Quang

Thật hành theo hạnh du Tăng Khất sĩ,

Nối truyền Thích Ca Chánh Pháp,

Kể từ đó, bước chân người Khất sĩ vân du,

Xuân Thu khất thực chỉnh chu đạo vàng,

Năm Giáp Ngọ (1954), đức Tổ Sư vắng bóng;

Tiếp tục dẫn đoàn du Tăng Khất Sĩ hành đạo khắp nơi,

Khai mở thêm 30 ngôi Tịnh xá mới.

Trưởng lão Hòa thượng đem hết sức mình,

Hộ trì Phật pháp, phát triển Tăng đồ

Không ngại gian lao vất vả,

Cùng Tăng đoàn Khất sĩ rộng mở bốn phương,

Tinh tấn tu hành,

Nghiêm trì giới luật mô phạm, uy nghiêm.

Pháp chủ  kiên trì cần mẫn,

Lãnh đạo Tăng đoàn, giáo dục Tăng Ni, Phật tử;

Tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức.

Công đức ấy Giáo hội luôn luôn ghi tạc,

Nơi Phật quốc ánh Nhiên Đài mãi sáng.

 

Vô thường, sinh diệt – định luật ngàn thu

Thân tứ đại mỏi mòn, tuy lâm trọng bệnh,

Nhưng Đức Ngài vẫn an nhiên tự tại,

Bởi sinh tử vô thường là sự đại,

Hôm nay đây duyên hết, đạo nghiệp viên thành,

Nơi Tịnh xá Minh Đăng Quang,

Viện truyền thống nối gót Phật, Tổ Thầy về đài Giác ngộ;

Từ đây,

Chúng con mất đi Thầy hướng đạo

Ta-bà vắng bóng bậc Ân sư.

Pháp tử chúng con kính cẩn nghiêng mình,

Vạn lần cúi đầu đảnh lễ,

Ngưỡng mong giác linh Trưởng lão Hòa thượng an lành nơi cõi Phật,

Hồi nhập Ta-bà,

Tiếp tục hạnh nguyện giác tha,

Tuyên dương giáo pháp.

 

Giờ đây trước án kim quan,

Hương từ tỏa ngát,

Trí tuệ đăng minh,

Xin dâng nén tâm hương,

Ngưỡng mong giác linh Trưởng Lão từ bi chứng giám.

 

Đúng là:

Minh Đăng Quang Cội an lành,

GIÁC Ngộ Ta-bà, dìu dắt chúng

NHIÊN Đăng, phổ chiếu khắp quần sanh.

 

Kính lạy Giác linh Thầy,

Vạn lần, vạn lần…. Kính lễ bái biệt bậc chân nhân.

 

Nam Mô Giác linh Trưởng Lão Hòa thượng Pháp chủ Thích Giác Nhiên Thùy từ chứng giám.

 


Viện Hành Đạo – Tổ Đình Minh Đăng Quang,

Ngày cuối Hè Tang thương tháng 8, năm Ất Mùi - 2015, Tỳ kheo Giác Lượng thủ bút.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
12/01/2013(Xem: 8671)
Đã có rất nhiều sách vở, bài viết hoặc với tính chất nghiên cứu, hoặc là các bài giảng phổ cập bàn về tông Thiên Thai và kinh Pháp Hoa. Bài viết này nói đến vai trò, vị trí của Đại sư Trí Khải và tông Thiên Thai trong lịch sử Phật giáo, cũng như trong nền văn hóa tư tưởng của toàn thể nhân loại. Đại sư Trí Khải sinh năm 538, vào thời đại mà sau này các sử gia gọi là Nam Bắc triều (220-589). Sông Dương Tử được lấy làm gianh giới phân chia giữa hai miền Nam và Bắc. Trong thiền sử, ta thường nghe nói đến câu Nam Năng (Huệ Năng)-Bắc Tú (Thần Tú), để phân biệt hai dòng thiền: Đại sư Thần Tú xiển dương Thiền tiệm ngộ ngay tại Trường An; Đại sư Huệ Năng phát triển Thiền đốn ngộ tại vùng Quảng Đông và lân cận. Bấy giờ Trung Hoa bị chia thành nhiều nước nhỏ, nước này xâm lăng và thôn tính nước kia, gây nên nhiều cuộc chiến tương tàn, dân chúng sống trong cảnh lầm than đau khổ.
07/01/2013(Xem: 9773)
Phần lớn độc giả biết nhiều đến các tiểu luận và các tập thơ phản chiến, nhưng ít người biết đến những bài thơ Thiền của Nhất Hạnh. Tôi xin trích một bài được nhà xuất bản Unicorn Press xuất bản trong tâp thơ Zen Poems của Nhất Hạnh vào năm 1976 (bản dịch Anh Ngữ) của Võ Đình. Bài này được in vào tuyển tập thơ nhạc họa vào mùa Phật Đản 1964
10/12/2012(Xem: 10025)
Cả cuộc đời 86 tuổi của Ngài Đội trời đạp đất, đã tròn chưa bản nguyện Kiếp tu hành 81 năm của Ngài Gánh vác hy sinh...
09/10/2012(Xem: 15515)
Thiền sư Lê Mạnh Thátcho rằng Vua Trần Nhân Tông là một nhân vật tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam nhất là vì tư tưởng hòa giải dân tộc của ông vẫn còn tính thời sự. Trả lời câu hỏi của BBC vì sao tư tưởng của Trần Nhân Tông (trị vì từ năm 1278-1293) và là Phật Hoàng, sáng lập ra phái thiền phái Trúc Lâm vẫn còn có tính thời sự đối với Việt Nam và cả quan hệ Mỹ - Việt cũng như Việt - Trung, Tiến sỹ Lê Mạnh Thát nói:
01/10/2012(Xem: 8198)
Kính bạch Giác Linh Đức Thầy, Dẫu biết rằng: “Cuộc đời là ảo mộng, vạn vật vốn vô thường, chuyển di không ngừng nghỉ, biến diệt lẽ tự nhiên, tử sanh không tránh khỏi.” Nhưng ân đức cao dày, tình thương nồng thắm, Đức Thầy đã ban cho hàng đệ tử chúng con, chẳng những được kết thành giới thân huệ mạng, mà còn mang lại cho cuộc đời giải thoát của chúng con vô vàn hạnh phúc… Ân đức ấy, mãi mãi khắc sâu vào cuộc đời tu học của chúng con vô cùng vững chắc, dù cho thời gian, sự vô thường có thay đổi...
22/09/2012(Xem: 9872)
Ni sư Thích Nữ Như Phụng nguyên là viện chủ chùa Long Vân , sinh tiền Ni sư là cố vấn ni chúng chùa Long Vân , làm Hóa chủ trường hạ trong 6 năm , trưởng phòng châm cứu từ thiện của chùa,thành viên mặt trận tổ quốc xã Tam Phước , trưởng bếp cơm từ thiện Bệnh viện đa khoa Long Thành. Suốt cả cuộc đời ni sư tận tụy cho sự nghiệp tu hành và hoằng dương Đạo pháp , một lòng chuyên tâm Niệm Phật A Di Đà , công quả viên mãn Ni sư an nhiên tự tại vãng sanh trong lúc đứng Niệm Phật cùng đại chúng trên Đại hùng bảo điện không gian tràn ngập hương cúng dường thanh tịnh .Sau khi làm lễ trà tì ngài để lại rất nhiều xá lợi minh chứng cho công đức tu hành tinh nghiêm của một vị cao ni.
21/09/2012(Xem: 13802)
Phật hoàng Trần Nhân Tông, tên húy là Trần Khâm, sinh ngày 07/12/1258 (11/11/Mậu Ngọ), con trưởng của Vua Trần Thánh Tông và Hoàng Thái hậu Nguyên Thánh. Thân hình Ngài có những đặc điểm khác thường, nhất là có màu vàng, nên được vua cha đặt cho biệt hiệu là Phật kim.
20/09/2012(Xem: 7729)
Sáng nay con về lại Vạn Hạnh, không phải đi học, không phải nộp bài thi, không phải đi đảnh lễ,... mà để đi tiễn Ôn về với Phật. Con hòa mình vào dòng người tấp nập trên giao lộ Nguyễn Kiệm trong buổi sớm bình minh. Một ngày như mọi ngày nhưng cảnh vật hôm nay không còn bình yên nữa. Cây cỏ úa màu, hoa buồn ủ rũ. Mọi người tất bật, nôn nao bước nhanh về cổng chùa Vạn Hạnh, như sợ chậm chân sẽ không còn chỗ cho mình cung tiễn Thầy đi.
08/09/2012(Xem: 10322)
Với Hòa thượng Minh Châu, một đại sư đã ra đi. Một đại sư cỡ ấy, thế hệ chúng ta chỉ có vài vị. Vài vị, nhưng là những ngọn đuốc soi sáng đường đi cho cả một nửa thế kỷ. Hôm nay, ngọn đuốc gần như là cuối cùng ấy đã tắt. Đã tắt, để nói với chúng ta, như Phật đã nói khi nhập diệt: Hãy tự thắp đuốc lên mà đi.
08/09/2012(Xem: 8007)
Tin Sư Ông ra-đi-về cõi bất sinh đã dệt nên những cơn bồi hồi, xúc động. Biết nói cái gì, và sẽ nói cái gì về một vầng ánh sáng chói lọi vừa lịm tắt? Càng cố nói về cái “rạng rỡ” thì càng trở nên vụng về! Nhưng vượt lên trên tất cả và vẫn còn hiện hữu nơi đây là tấm lòng tri ân sâu sắc đối với công trình dịch thuật Kinh tạng của Người. Lòng tri ân sâu thẳm đó vẫn âm ỉ trong tâm thức của những người từng có cơ duyên được học hỏi “triết lý giác ngộ”- một thứ triết lý nguyên thủyhàm chứa những kinh nghiệm chứng ngộ rất ngườicủa Đức Thế Tôn.