Quyển 512: Phẩm Bạn Lành

21/07/201514:29(Xem: 21902)
Quyển 512: Phẩm Bạn Lành

Tập 10

Quyển 512

Phẩm Bạn Lành
Bản dịch của HT Thích Trí Nghiêm
Diễn đọc: Cư Sĩ Chánh Trí


 

Bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Các Đại Bồ-tát mới học Đại thừa làm sao học được Bát-nhã, tịnh lự, tinh tấn, an nhẫn, tịnh giới, bố thí Ba-la-mật-đa?

Phật dạy:

- Thiện Hiện! Các Đại Bồ-tát mới học Đại thừa muốn học Bát-nhã cho đến bố thí Ba-la-mật-đa, trước hết phải gần gũi, phụng sự cúng dường bậc thiện hữu chơn tịnh, khéo thuyết giảng phân biệt Bát-nhã cho đến bố thí Ba-la-mật-đa. Nghĩa là khi thuyết kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa thâm sâu nên khuyên răn, dạy bảo hàng Bồ-tát mới học Đại-thừa: Hãy đến đây, Thiện nam tử! Ông nên siêng năng tu bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã ba-la-mật-đa. Khi siêng tu, ông nên dùng vô sở đắc làm phương tiện, cùng các hữu tình bình đẳng chung hưởng, cùng nhau hồi hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Ông chớ dùng sắc uẩn cho đến thức uẩn mà giữ lấy quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Đừng dùng nhãn xứ cho đến ý xứ mà giữ lấy quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Đừng dùng sắc xứ cho đến pháp xứ mà giữ lấy quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Đừng dùng nhãn giới cho đến ý giới mà giữ lấy quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Đừng dùng sắc giới cho đến pháp giới mà giữ lấy quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Đừng dùng nhãn thức giới cho đến ý thức giới mà giữ lấy quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Đừng dùng nhãn xúc cho đến ý xúc mà giữ lấy quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Đừng dùng các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra, cho đến các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra mà giữ lấy quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Đừng dùng địa giới cho đến thức giới mà giữ lấy quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Đừng dùng nhân duyên cho đến tăng thượng duyên mà giữ lấy quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Đừng dùng vô minh cho đến lão tử mà giữ lấy quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Đừng dùng bố thí Ba-la-mật-đa cho đến Bát-nhã ba-la-mật-đa mà giữ lấy quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Đừng dùng pháp nội Không cho đến pháp vô tính tự tính Không mà giữ lấy quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Đừng dùng chơn như cho đến cảnh giới bất tư nghì mà giữ lấy quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Đừng dùng Thánh đế khổ, tập, diệt, đạo mà giữ lấy quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Đừng dùng bốn niệm trụ cho đến tám chi thánh đạo mà giữ lấy quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Đừng dùng bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc mà giữ lấy quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Đừng dùng tám giải thoát, tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ mà giữ lấy quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Đừng dùng pháp môn giải thoát không, vô tướng, vô nguyện mà giữ lấy quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Đừng dùng Tịnh quán địa cho đến Như Lai địa mà giữ lấy quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Đừng dùng Cực hỷ địa cho đến Pháp vân địa mà giữ lấy quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Đừng dùng tất cả pháp môn Đà-la-ni, pháp môn Tam-ma-địa mà giữ lấy quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Đừng dùng năm loại mắt, sáu phép thần thông mà giữ lấy quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Đừng dùng mười lực Như Lai cho đến mười tám pháp Phật bất cộng mà giữ lấy quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Đừng dùng ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp mà giữ lấy quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Đừng dùng pháp không quên mất, tánh luôn luôn xả mà giữ lấy quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Đừng dùng quả Dự lưu cho đến Độc giác Bồ-đề mà giữ lấy quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Đừng dùng tất cả hạnh Đại Bồ-tát, và quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề của chư Phật mà giữ lấy quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Đừng dùng trí nhất thiết, trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng mà giữ lấy quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Vì sao? Thiện nam tử! Nếu không chấp thủ sắc liền đắc quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề, cho đến không chấp thủ trí nhất thiết tướng liền đắc quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề.

Thiện nam tử! Tuy hành Bát-nhã ba-la-mật-đa thâm sâu, ông chớ tham trước sắc, thọ, tưởng, hành, thức, nói rộng cho đến trí nhất thiết tướng. Vì sao? Vì sắc cho đến trí nhất thiết tướng chẳng đáng để tham đắm. Vì sao? Thiện nam tử! Vì tất cả pháp tự tánh là Không.

Bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật:

- Các Đại Bồ-tát thường làm được việc khó, ở trong tất cả pháp tự tướng là Không mà mong cầu quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề, muốn chứng quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề?

Phật dạy:

- Thiện Hiện! Đúng vậy! Đúng vậy! Các Đại Bồ-tát thường làm việc khó, ở trong tất cả pháp tự tướng là Không mà mong cầu quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề, muốn chứng quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề.

Thiện Hiện nên biết! Tuy các Đại Bồ-tát biết các pháp đều như huyễn hóa, nói rộng cho đến như thành Tầm hương (ảnh ảo) tự tướng đều là Không, nhưng vì thế gian được nghĩa lợi nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Vì muốn cho thế gian được lợi ích nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Vì muốn cho thế gian được an lạc nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Vì muốn cứu vớt các thế gian nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Vì muốn làm cho thế gian quay về nương tựa nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Vì muốn làm nhà ở cho thế gian nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Vì muốn chỉ đường cứu cánh cho thế gian nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Vì muốn làm hòn đảo cho thế gian nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Vì muốn làm nhật nguyệt cho thế gian nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Vì muốn làm đuốc sáng cho thế gian nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Vì muốn làm thầy dẫn đường cho thế gian nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Vì muốn làm tướng soái cho thế gian nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Vì muốn làm chỗ tới cho thế gian nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề.

Thế nào là Đại Bồ-tát vì muốn cho thế gian được nghĩa lợi nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề? Thiện Hiện! Đại Bồ-tát vì muốn giải thoát các việc khổ não cho tất cả các hữu tình nên tu hành bố thí cho đến Bát-nhã, nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Đó là Đại Bồ-tát vì muốn cho thế gian được nghĩa lợi nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề.

Thế nào là Đại Bồ-tát vì muốn cho thế gian được lợi ích nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề? Thiện Hiện! Đại Bồ-tát vì muốn cứu các hữu tình đang run sợ trong năm đường, đưa đến nơi bờ Niết-bàn cho an ổn khỏi sợ hãi, nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Đó là Đại Bồ-tát vì muốn cho thế gian được lợi ích nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề.

Thế nào là Đại Bồ-tát vì muốn cho thế gian được an lạc nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề? Thiện Hiện! Đại Bồ-tát vì cứu vớt hữu tình thoát khổ đau, sầu não để được an ổn nơi bờ Niết-bàn kia, nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Đó là Đại Bồ-tát vì muốn cho thế gian được an lạc nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề.

Thế nào là Đại Bồ-tát vì muốn cứu vớt các thế gian nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề? Thiện Hiện! Đại Bồ-tát thấy các hữu tình đọa trong ba đường ác, vì muốn cứu vớt và khiến họ tu nghiệp lành, lần lần nương vào Tam thừa mà đi đến xuất ly, nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Đó là Đại Bồ-tát vì muốn cứu vớt các thế gian nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề.

Thế nào là Đại Bồ-tát vì muốn làm chỗ quay về nương tựa cho thế gian nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề? Thiện Hiện! Đại Bồ-tát vì muốn hữu tình mau được giải thoát các khổ sanh sanh, lão, bệnh, tử, sầu, than, buồn, lo, bức bách v.v..., an trụ cảnh giới Vô dư y Niết-bàn, nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Đó là Đại Bồ-tát vì muốn làm chỗ quay về nương tựa cho thế gian nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề.

Thế nào là Đại Bồ-tát vì muốn làm nhà ở cho thế gian nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề? Thiện Hiện! Nếu Đại Bồ-tát muốn vì hữu tình nói tất cả pháp đều chẳng hòa hợp, nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Đó là Đại Bồ-tát vì muốn làm chỗ ở cho thế gian nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề.

Cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Thế nào là tất cả pháp đều chẳng hòa hợp?

Phật dạy:

- Thiện Hiện! Các sắc chẳng hòa hợp tức sắc chẳng lệ thuộc nhau. Nếu sắc chẳng lệ thuộc nhau tức sắc không sanh. Nếu sắc không sanh tức sắc không diệt. Nếu sắc không diệt tức sắc chẳng hòa hợp. Thọ, tưởng, hành, thức nói rộng cho đến trí nhất thiết tướng cũng lại như vậy. Các Đại Bồ-tát muốn vì hữu tình nói tất cả pháp đều có sự không hòa hợp này, nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề.

Thế nào là Đại Bồ-tát muốn chỉ rõ con đường cứu cánh cho thế gian nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề? Thiện Hiện! Đại Bồ-tát hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề, vì hữu tình mà thuyết pháp như vầy: Sắc bờ kia tức chẳng phải sắc; thọ, tưởng, hành, thức bờ kia tức chẳng phải thọ, tưởng, hành, thức. Nói rộng cho đến trí nhất thiết bờ kia tức chẳng phải trí nhất thiết; trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng bờ kia tức chẳng phải trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng. Thiện Hiện nên biết! Như tướng của tất cả sắc v.v... bờ kia thì tất cả pháp cũng vậy.

Cụ thọ Thiện Hiện liền bạch Phật:

- Nếu tất cả pháp đều như sắc v.v… là tướng của bờ kia thì vì sao đối với tất cả pháp Đại Bồ-tát còn phải hiện Đẳng giác để làm gì? Vì sao? Vì chẳng phải trong sắc ở bờ kia có sự phân biệt như vầy: Nghĩa là đây là sắc, đây là thọ, tưởng, hành, thức, nói rộng cho đến trí nhất thiết tướng.

Phật dạy:

- Thiện Hiện! Đúng vậy! Đúng vậy! Chẳng phải trong sắc ở bờ kia có sự phân biệt như vầy: Nghĩa là đây là sắc, nói rộng cho đến trí nhất thiết tướng. Như vậy cho đến chẳng phải trong trí nhất thiết tướng ở bờ kia mới có sự phân biệt như vầy:  Nghĩa là đây là sắc, nói rộng cho đến trí nhất thiết tướng. Vì tất cả pháp bản tánh là Không.

Thiện Hiện nên biết! Các Đại Bồ-tát có thể làm việc khó làm. Nghĩa là tuy quán tướng của tất cả pháp đều vắng lặng, thậm thâm, vi diệu mà tâm chẳng bỏ mất, lại nghĩ như vầy: Ta đối với pháp này đã hiện Đẳng giác rồi chứng đắc quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề, vì các hữu tình tuyên thuyết, khai thị pháp vắng lặng sâu mầu ấy. Đó là Đại Bồ-tát muốn chỉ đường cứu cánh cho thế gian nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề.

Thế nào là Đại Bồ-tát làm hòn đảo cho thế gian nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề? Thiện Hiện! Thí như giữa biển, sông, hồ lớn hoặc nhỏ, có khoảng đất cao nổi lên có thể ở được, có nước xung quanh gọi là hòn đảo.

Thiện Hiện! Như vậy, sắc cho đến thức đoạn dứt giai đoạn trước sau, nói rộng cho đến trí nhất thiết tướng đều đoạn dứt giai đoạn trước sau. Do giai đoạn trước, giai đoạn sau này đoạn dứt nên tất cả pháp đều dứt. Giai đoạn trước, sau của tất cả pháp đều dứt tức là như thật vắng lặng, nhiệm mầu, nghĩa là Niết-bàn Không, vô sở đắc, đạo đoạn, ái tận, vô dư, tạp nhiễm, vĩnh diệt, cứu cánh. Thiện Hiện! Đại Bồ-tát cầu chứng quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề, muốn vì hữu tình tuyên thuyết, khai thị các pháp này đã đoạn dứt giai đoạn trước sau là như thật vắng lặng sâu xa, nhiệm mầu. Đó là Đại Bồ-tát làm hòn đảo cho thế gian nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề.

Thế nào là Đại Bồ-tát muốn làm nhật nguyệt cho thế gian nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề? Thiện Hiện! Đại Bồ-tát vì phá vỏ vô minh trong đêm dài từ lâu đã che khuất hữu tình nhiều lớp tối tăm, vì muốn trị bệnh mắt vô tri cho loài hữu tình, giúp cho họ sáng suốt, vì chiếu sáng cho tất cả hữu tình ngu mờ nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Đó là Đại Bồ-tát vì muốn làm nhật nguyệt cho thế gian nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề.

Thế nào là Đại Bồ-tát vì muốn làm đuốc sáng cho thế gian nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề? Thiện Hiện! Đại Bồ-tát muốn vì hữu tình tuyên thuyết sáu pháp Ba-la-mật-đa và nghĩa lý kinh điển chơn thật tương ưng bốn nhiếp sự, phương tiện dạy bảo, làm cho họ siêng năng tu học, diệt trừ các loại vô minh đen tối nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Đó là Đại Bồ-tát vì muốn làm đuốc sáng cho thế gian nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề.

Thế nào là Đại Bồ-tát vì muốn làm thầy dẫn đường cho thế gian nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề? Thiện Hiện! Đại Bồ-tát muốn làm cho những hữu tình đi theo tà đạo phải xa lìa bốn chỗ không nên đi, và chỉ cho họ con đường duy nhất để quay về nẻo chính, vì làm cho kẻ tạp nhiễm được thanh tịnh, kẻ sầu não được phấn khởi, kẻ buồn khổ được vui mừng, kẻ phi lý được đúng lý, kẻ lưu chuyển được hoàn diệt nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Đó là Đại Bồ-tát vì muốn làm thầy dẫn đường cho thế gian nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề.

Thế nào là Đại Bồ-tát vì làm tướng soái cho thế gian nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề? Thiện Hiện! Đại Bồ-tát mong cầu quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề, muốn vì hữu tình giảng giải, chỉ bày sắc không sanh, không diệt, không nhiễm, không tịnh; thọ, tưởng, hành, thức không sanh, không diệt, không nhiễm, không tịnh. Nói rộng cho đến trí nhất thiết tướng không sanh, không diệt, không nhiễm, không tịnh; trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng không sanh, không diệt, không nhiễm, không tịnh. Đó là Đại Bồ-tát vì muốn làm tướng soái cho thế gian nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề.

Thế nào là Đại Bồ-tát vì muốn làm chỗ tới cho thế gian nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề? Thiện Hiện! Đại Bồ-tát mong cầu quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề, muốn vì hữu tình giảng giải, chỉ bày sắc nên lấy hư không làm chỗ tới; thọ, tưởng, hành, thức lấy hư không làm chỗ tới. Nói rộng cho đến trí nhất thiết lấy hư không làm chỗ tới; trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng lấy hư không làm chỗ tới. Vì tất cả pháp đều như hư không, không có sở hữu nên Đại Bồ-tát muốn vì hữu tình giảng giải, chỉ bày sắc chẳng phải tới, chẳng phải chẳng tới. Vì sao? Vì tánh của sắc là Không. Trong Không không có tới, không có chẳng tới. Thọ, tưởng, hành, thức chẳng phải tới, chẳng phải chẳng tới. Vì sao? Vì tánh của thọ, tưởng, hành, thức là Không. Trong Không không có tới, không có chẳng tới. Nói rộng cho đến trí nhất thiết chẳng phải tới, chẳng phải chẳng tới. Vì sao? Vì tánh của trí nhất thiết là Không. Trong Không không có tới, không có chẳng tới. Trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng chẳng phải tới, chẳng phải chẳng tới. Vì sao? Vì tánh của trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng là Không. Trong Không không có tới, không có chẳng tới. Đó là Đại Bồ-tát vì muốn làm chỗ tới cho thế gian nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề.

Vì sao? Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy không, vô tướng, vô nguyện làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì trong không, vô tướng, vô nguyện, đích và chẳng phải đích đều bất khả đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy vô khởi, vô tác làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì trong vô khởi, vô tác, đích và chẳng phải đích đều bất khả đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy vô sanh, vô diệt làm đích. Các Đại Bồ-tát đều không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì trong vô sanh, vô diệt, đích và chẳng phải đích đều bất khả đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy vô nhiễm, vô tịnh làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì trong vô nhiễm, vô tịnh, đích và chẳng phải đích đều bất khả đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy vô sở hữu làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì trong vô sở hữu, đích và chẳng phải đích đều bất khả đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy như giấc mộng cho đến như thành Tầm hương làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì trong mộng cho đến như thành Tầm hương, đích và chẳng phải đích đều bất khả đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy vô lượng, vô biên làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì trong vô lượng, vô biên, đích và chẳng phải đích đều bất khả đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy chẳng cho, chẳng giữ làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì trong chỗ chẳng cho, chẳng giữ ấy, đích và chẳng phải đích đều bất khả đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy chẳng nâng lên, chẳng hạ xuống làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì trong sự chẳng nâng lên, chẳng hạ xuống, đích và chẳng phải đích đều bất khả đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy không đến, không đi làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì trong không đến, không đi, đích và chẳng phải đích đều bất khả đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy không tăng, không giảm làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì trong không tăng, không giảm, đích và chẳng phải đích đều bất khả đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy không vào, không ra làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì trong không vào, không ra, đích và chẳng phải đích đều bất khả đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy không nhóm họp, không tan rã làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì trong không nhóm họp, không tan rã, đích và chẳng phải đích đều bất khả đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy không hợp, không lìa làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì trong không hợp, không lìa, đích và chẳng phải đích đều bất khả đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy ngã cho đến người thấy làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì ngã cho đến người thấy còn rốt ráo vô sở hữu, huống gì trong đây có đích và phi đích có thể đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy vô ngã cho đến không người thấy làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì vô ngã cho đến không người thấy còn rốt ráo vô sở hữu, huống gì trong ấy còn có đích và phi đích có thể đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy thường, lạc, ngã, tịnh làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì thường, lạc, ngã, tịnh còn rốt ráo vô sở hữu, huống gì trong ấy còn có đích và phi đích có thể đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh còn rốt ráo vô sở hữu, huống gì trong ấy còn có đích và phi đích có thể đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy việc tham, sân, si làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì việc tham, sân, si còn rốt ráo vô sở hữu, huống gì trong ấy còn có đích và phi đích có thể đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy việc kiến sở tác làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì việc kiến sở tác còn rốt ráo vô sở hữu, huống gì trong ấy còn có đích và phi đích có thể đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy chơn như cho đến cảnh giới bất tư nghì làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì chơn như cho đến cảnh giới bất tư nghì còn rốt ráo vô sở hữu, huống gì trong ấy còn có đích và phi đích có thể đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy không động làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì tánh không động còn rốt ráo vô sở hữu, huống gì trong ấy còn có đích và phi đích có thể đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy năm uẩn làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì sắc cho đến thức còn rốt ráo vô sở hữu, huống gì trong ấy còn có đích và phi đích có thể đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy sáu nội xứ làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì nhãn xứ cho đến ý xứ còn rốt ráo vô sở hữu, huống gì trong ấy còn có đích và phi đích có thể đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy sáu ngoại xứ làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì sắc xứ cho đến pháp xứ còn rốt ráo vô sở hữu, huống gì trong ấy còn có đích và phi đích có thể đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy sáu nội giới làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì nhãn giới cho đến ý giới còn rốt ráo vô sở hữu, huống gì trong ấy còn có đích và phi đích có thể đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy sáu ngoại giới làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì sắc giới cho đến pháp giới còn rốt ráo vô sở hữu, huống gì trong ấy còn có đích và phi đích có thể đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy sáu thức giới làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì nhãn thức giới cho đến ý thức giới còn rốt ráo vô sở hữu, huống gì trong ấy còn có đích và phi đích có thể đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy sáu xúc làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì nhãn xúc cho đến ý xúc còn rốt ráo vô sở hữu, huống gì trong ấy còn có đích và phi đích có thể đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy sáu thọ làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra, cho đến các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra còn rốt ráo vô sở hữu, huống gì trong ấy còn có đích và phi đích có thể đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy sáu giới làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì địa giới cho đến thức giới còn rốt ráo vô sở hữu, huống gì trong ấy còn có đích và phi đích có thể đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy bốn duyên làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì nhân duyên cho đến tăng thượng duyên còn rốt ráo vô sở hữu, huống gì trong ấy còn có đích và phi đích có thể đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy mười hai phần duyên khởi làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì vô minh cho đến lão tử còn rốt ráo vô sở hữu, huống gì trong ấy còn có đích và phi đích có thể đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy sáu pháp Ba-la-mật-đa làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì bố thí Ba-la-mật-đa cho đến Bát-nhã ba-la-mật-đa còn rốt ráo vô sở hữu, huống gì trong ấy còn có đích và phi đích có thể đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy mười sáu Không làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích. Vì sao? Vì pháp nội Không cho đến pháp vô tính tự tính Không còn rốt ráo vô sở hữu, huống gì trong ấy còn có đích và phi đích có thể đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy bốn Thánh đế làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì Thánh đế khổ, tập, diệt, đạo còn rốt ráo vô sở hữu, huống gì trong ấy còn có đích và phi đích có thể đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy ba mươi bảy pháp phần Bồ-đề làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì bốn niệm trụ cho đến tám chi thánh đạo còn rốt ráo vô sở hữu, huống gì trong ấy còn có đích và phi đích có thể đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc còn rốt ráo vô sở hữu, huống gì trong ấy còn có đích và phi đích có thể đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy tám giải thoát, tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì tám giải thoát, tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ còn rốt ráo vô sở hữu, huống gì trong ấy còn có đích và phi đích có thể đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy ba môn giải thoát làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì pháp môn giải thoát không, vô tướng, vô nguyện còn rốt ráo vô sở hữu, huống gì trong ấy còn có đích và phi đích có thể đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy Tam thừa, thập địa làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì Tịnh quán địa cho đến Như Lai địa còn rốt ráo vô sở hữu, huống gì trong ấy còn có đích và phi đích có thể đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy mười địa Bồ-tát làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì Cực hỷ địa cho đến Pháp vân địa còn rốt ráo vô sở hữu, huống gì trong ấy còn có đích và phi đích có thể đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy pháp môn Đà-la-ni, pháp môn Tam-ma-địa làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì pháp môn Đà-la-ni, pháp môn Tam-ma-địa còn rốt ráo vô sở hữu, huống gì trong ấy còn có đích và phi đích có thể đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy năm loại mắt, sáu phép thần thông làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì năm loại mắt, sáu phép thần thông còn rốt ráo vô sở hữu, huống gì trong ấy còn có đích và phi đích có thể đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy mười lực Như Lai, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì mười lực Như Lai cho đến mười tám pháp Phật bất cộng còn rốt ráo vô sở hữu, huống gì trong ấy còn có đích và phi đích có thể đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả còn rốt ráo vô sở hữu, huống gì trong ấy còn có đích và phi đích có thể đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp còn rốt ráo vô sở hữu, huống gì trong ấy còn có đích và phi đích có thể đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy pháp không quên mất, tánh luôn luôn xả làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì pháp không quên mất, tánh luôn luôn xả hoàn toàn vô sở hữu, huống gì trong ấy có đích và phi đích có thể đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy trí nhất thiết, trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì trí nhất thiết, trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng còn rốt ráo vô sở hữu, huống gì trong ấy còn có đích và phi đích có thể đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy quả Dự lưu cho đến Độc giác Bồ-đề làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì quả Dự lưu cho đến Độc giác Bồ-đề còn rốt ráo vô sở hữu, huống gì trong ấy còn có đích và phi đích có thể đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy tất cả hạnh Đại Bồ-tát, quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề của chư Phật làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì tất cả hạnh Đại Bồ-tát, quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề của chư Phật còn rốt ráo vô sở hữu, huống gì trong ấy còn có đích và phi đích có thể đắc.

Thiện Hiện! Tất cả pháp đều lấy Dự lưu cho đến Như Lai làm đích. Các Đại Bồ-tát không thể vượt khỏi đích này. Vì sao? Vì Dự lưu cho đến Như Lai còn rốt ráo vô sở hữu, huống gì trong ấy còn có đích và phi đích có thể đắc.

Thiện Hiện! Như vậy, các Đại Bồ-tát vì muốn làm chỗ tới cho thế gian, nên hướng đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề.

Bấy giờ, Thiện Hiện lại bạch Phật:

- Đối với Bát-nhã ba-la-mật-đa thâm sâu này, ai có thể tin hiểu sâu sắc?

Phật dạy:

- Thiện Hiện! Đối với quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề, Đại Bồ-tát nào phát ý mong cầu lâu dài tinh tấn tu hành, đã từng cúng dường vô lượng chư Phật, ở chỗ chư Phật đã phát thệ nguyện rộng lớn, gieo trồng nhiều căn lành đều đã thành thục, được vô lượng bạn lành hộ trì, hộ niệm, thì mới có thể tin hiểu sâu xa đối với Bát-nhã ba-la-mật-đa thâm sâu này.

Cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật:

- Đại Bồ-tát này dùng tánh nào, tướng nào, trạng nào, mạo nào để tin hiểu sâu xa Bát-nhã ba-la-mật-đa này?

Phật dạy:

- Thiện Hiện! Đại Bồ-tát này dùng tánh điều phục tham, sân, si làm tánh. Dùng tướng xa lìa tham, sân, si làm tướng. Dùng trạng xa lìa tham, sân, si làm trạng. Dùng mạo xa lìa tham, sân, si làm mạo.

Lại nữa, Thiện Hiện! Đại Bồ-tát này dùng tánh điều phục tham, sân, si và không tham, sân, si làm tánh. Dùng tướng xa lìa tham, sân, si và không tham, sân, si làm tướng. Dùng trạng xa lìa tham, sân, si và không tham, sân, si làm trạng. Dùng mạo xa lìa tham, sân, si và không tham, sân, si làm mạo.

Thiện Hiện nên biết! Đại Bồ-tát nào thành tựu tánh, tướng, trạng, mạo như thế mới có thể tin hiểu sâu xa Bát-nhã ba-la-mật-đa thâm sâu này.

Cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật:

- Nếu tin hiểu sâu xa Bát-nhã ba-la-mật-đa thâm sâu này thì Đại Bồ-tát này sẽ đạt tới đích nào?

Phật dạy:

- Thiện Hiện! Đại Bồ-tát ấy sẽ đạt tới trí nhất thiết trí.

Cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật:

- Nếu Đại Bồ-tát đạt tới trí nhất thiết trí thì vị ấy thường làm cho các hữu tình quay về ư?

Phật dạy:

- Thiện Hiện! Đúng vậy! Đúng vậy! Đối với Bát-nhã ba-la-mật-đa thâm sâu này, nếu Đại Bồ-tát tin hiểu sâu xa thì đạt tới trí nhất thiết trí. Nếu đạt tới trí nhất thiết trí thì làm chỗ quay về cho các hữu tình.

Cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:

- Đại Bồ-tát này thường làm việc khó. Gọi là mặc áo giáp, đội mũ kiên cố như vậy và nói rằng, ta sẽ độ thoát tất cả hữu tình, khiến họ chứng đắc Niết-bàn cứu cánh. Mặc dù làm việc như vậy đối với hữu tình nhưng hoàn toàn không thấy có hữu tình để kiến lập?

Phật dạy:

- Thiện Hiện! Đúng vậy! Đúng vậy! Đúng như lời ông nói.

Lại nữa, Thiện Hiện! Đại Bồ-tát này đã mặc áo, đội mũ không thuộc sắc cho đến thức. Vì sao? Vì sắc cho đến thức đều rốt ráo vô sở hữu, chẳng phải Bồ-tát, chẳng phải áo mũ, nên nói áo mũ kia không thuộc sắc cho đến thức. Như vậy cho đến Đại Bồ-tát này đã mặc áo, đội mũ không thuộc trí nhất thiết, trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng. Vì sao? Vì trí nhất thiết, trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng đều rốt ráo vô sở hữu, chẳng phải Bồ-tát, chẳng phải áo mũ, nên nói áo mũ kia không thuộc trí nhất thiết, trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng.

Đại Bồ-tát này đã mặc áo, đội mũ không thuộc ngã cho đến người thấy. Vì sao? Vì ngã cho đến người thấy đều rốt ráo vô sở hữu, chẳng phải Bồ-tát, chẳng phải áo mũ, nên nói áo mũ kia không thuộc ngã cho đến người thấy. Đại Bồ-tát này đã mặc áo, đội mũ không thuộc tất cả pháp. Vì sao? Vì tất cả pháp đều rốt ráo vô sở hữu, chẳng phải Bồ-tát, chẳng phải áo mũ, nên nói áo mũ kia không thuộc tất cả pháp.

Thiện Hiện! Đại Bồ-tát này tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa thâm sâu như thế nên thường mặc áo, đội mũ bền chắc này, và nói ta sẽ độ tất cả hữu tình khiến họ đều chứng đắc Niết-bàn cứu cánh.

Cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật:

- Nếu Đại Bồ-tát có thể mặc áo, đội mũ bền chắc như thế, và nói rằng ta sẽ độ tất cả hữu tình khiến họ đều chứng đắc Niết-bàn, chẳng rơi vào hàng Thanh văn và bậc Độc giác. Đại Bồ-tát này không xứ sở, không thể rơi vào hàng Thanh văn hoặc bậc Độc giác v.v... Vì sao? Vì đối với hữu tình, Đại Bồ-tát này chẳng phân chia giới hạn mà mặc áo, đội mũ bền chắc như thế.

Phật dạy:

- Thiện Hiện! Ông dựa vào đâu mà nói, nếu Đại Bồ-tát mặc áo, đội mũ bền chắc như thế chẳng rơi vào hàng Thanh văn hoặc bậc Độc giác?

Khi ấy, Thiện Hiện bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Đại Bồ-tát này chẳng phải vì độ thoát một số hữu tình mà mặc áo, đội mũ bền chắc như thế, cũng chẳng phải vì mong cầu một ít trí mà mặc áo, đội mũ bền chắc như thế. Vì sao? Vì Đại Bồ-tát này cứu độ khắp tất cả hữu tình, khiến họ vào Niết-bàn mà mặc áo, đội mũ bền chắc như thế; chỉ vì cầu được trí nhất thiết trí mà mặc áo, đội mũ bền chắc như thế. Do nhân duyên này nên chẳng rơi vào hàng Thanh văn và bậc Độc giác.

Phật dạy:

- Thiện Hiện! Đúng vậy! Đúng vậy! Đúng như lời ông nói. Đại Bồ-tát này vì cứu vớt khắp tất cả hữu tình khiến họ vào Niết-bàn, và chỉ vì cầu được trí nhất thiết trí mà mặc áo, đội mũ bền chắc như thế. Do nhân duyên này nên chẳng rơi vào hàng Thanh văn và bậc Độc giác.

Bấy giờ, Thiện Hiện lại bạch Phật:

- Như vậy, Bát-nhã ba-la-mật-đa rất là sâu xa, không người tu, không pháp để tu, cũng không chỗ để tu, cũng không phải do đây mà được tu tập. Vì sao? Vì chẳng phải trong ý nghĩa sâu xa của Bát-nhã ba-la-mật-đa thâm sâu này mà có một chút pháp thật nào để gọi là người tu và pháp để tu hành, hoặc chỗ tu tập, hoặc do đây mới tu.

Bạch Thế Tôn! Như tu hư không là tu Bát-nhã ba-la-mật-đa. Hoặc tu tất cả pháp là tu Bát-nhã ba-la-mật-đa. Hoặc tu pháp không thật là tu Bát-nhã ba-la-mật-đa. Hoặc tu vô sở hữu là tu Bát-nhã ba-la-mật-đa. Hoặc tu không nhiếp thọ là tu Bát-nhã ba-la-mật-đa. Hoặc tu pháp trừ bỏ là tu Bát-nhã ba-la-mật-đa.

Phật hỏi:

- Thiện Hiện! Tu trừ bỏ pháp nào là tu Bát-nhã ba-la-mật-đa?

Thiện Hiện bạch Phật:

- Tu trừ bỏ năm uẩn là tu Bát-nhã ba-la-mật-đa. Tu trừ bỏ sáu nội xứ là tu Bát-nhã ba-la-mật-đa. Tu trừ bỏ sáu ngoại xứ là tu Bát-nhã ba-la-mật-đa. Tu trừ bỏ sáu nội giới là tu Bát-nhã ba-la-mật-đa. Tu trừ bỏ sáu ngoại giới là tu Bát-nhã ba-la-mật-đa. Tu trừ bỏ sáu thức giới là tu Bát-nhã ba-la-mật-đa. Tu trừ bỏ sáu xúc là tu Bát-nhã ba-la-mật-đa. Tu trừ bỏ sáu thọ là tu Bát-nhã ba-la-mật-đa. Tu trừ bỏ sáu giới là tu Bát-nhã ba-la-mật-đa. Tu trừ bỏ bốn duyên là tu Bát-nhã ba-la-mật-đa. Tu trừ bỏ mười hai phần duyên khởi là tu Bát-nhã ba-la-mật-đa. Tu trừ bỏ ngã cho đến người thấy là tu Bát-nhã ba-la-mật-đa. Tu trừ bỏ bố thí Ba-la-mật-đa cho đến Bát-nhã ba-la-mật-đa là tu Bát-nhã ba-la-mật-đa. Tu trừ bỏ pháp nội Không cho đến pháp vô tính tự tính Không là tu Bát-nhã ba-la-mật-đa. Tu trừ bỏ chơn như cho đến cảnh giới bất tư nghì là tu Bát-nhã ba-la-mật-đa. Tu trừ bỏ bốn Thánh đế là tu Bát-nhã ba-la-mật-đa. Tu trừ bỏ bốn niệm trụ cho đến tám chi thánh đạo là tu Bát-nhã ba-la-mật-đa. Tu trừ bỏ bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc là tu Bát-nhã ba-la-mật-đa. Tu trừ bỏ tám giải thoát, tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ là tu Bát-nhã ba-la-mật-đa. Tu trừ bỏ pháp môn giải thoát không, vô tướng, vô nguyện là tu Bát-nhã ba-la-mật-đa. Tu trừ bỏ Tịnh quán địa cho đến Như Lai địa là tu Bát-nhã ba-la-mật-đa. Tu trừ bỏ Cực hỷ địa cho đến Pháp vân địa là tu Bát-nhã ba-la-mật-đa. Tu trừ bỏ tất cả pháp môn Đà-la-ni, pháp môn Tam-ma-địa là tu Bát-nhã ba-la-mật-đa. Tu trừ bỏ năm loại mắt, sáu phép thần thông là tu Bát-nhã ba-la-mật-đa. Tu trừ bỏ mười lực Như Lai cho đến mười tám pháp Phật bất cộng là tu Bát-nhã ba-la-mật-đa. Tu trừ bỏ đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả là tu Bát-nhã ba-la-mật-đa. Tu trừ bỏ ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp là tu Bát-nhã ba-la-mật-đa. Tu trừ bỏ pháp không quên mất, tánh luôn luôn xả là tu Bát-nhã ba-la-mật-đa. Tu trừ bỏ quả Dự lưu cho đến Độc giác Bồ-đề là tu Bát-nhã ba-la-mật-đa. Tu trừ bỏ tất cả hạnh Đại Bồ-tát, quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề của chư Phật là tu Bát-nhã ba-la-mật-đa. Tu trừ bỏ trí nhất thiết, trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng là tu Bát-nhã ba-la-mật-đa.

Phật dạy:

- Thiện Hiện! Đúng vậy! Đúng vậy! Nếu Đại Bồ-tát tu trừ bỏ sắc, nói rộng cho đến trí nhất thiết tướng là tu Bát-nhã ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nên dựa vào Bát-nhã ba-la-mật-đa thâm sâu này mà nghiệm biết Đại Bồ-tát Bất thối chuyển. Nếu Đại Bồ-tát tuy hành Bát-nhã cho đến bố thí Ba-la-mật-đa mà không chấp trước, thì phải biết đó là Đại Bồ-tát Bất thối chuyển. Nói rộng cho đến nếu Đại Bồ-tát tuy hành trí nhất thiết, trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng mà không chấp trước thì nên biết đó là Đại Bồ-tát Bất thối chuyển.

Lại nữa, Thiện Hiện! Có các Đại Bồ-tát Bất thối chuyển khi hành Bát-nhã ba-la-mật-đa thâm sâu, không chấp nhận lời nói và sự chỉ dạy của người khác là quan trọng, chẳng tin riêng vào lời người khác mà có hành động, không bị tham dục, sân giận, ngu si, kiêu mạn làm tạp nhiễm, cũng chẳng bị chúng lôi kéo tâm. Cũng có Đại Bồ-tát Bất thối chuyển chẳng lìa bố thí cho đến Bát-nhã ba-la-mật-đa khi hành Bát-nhã ba-la-mật-đa thâm sâu. Có các Đại Bồ-tát Bất thối chuyển khi hành Bát-nhã ba-la-mật-đa thâm sâu, nghe thuyết về Bát-nhã ba-la-mật-đa thâm sâu này, tâm họ chẳng kinh, chẳng sợ, chẳng sửng sốt, chẳng hoang man, chẳng thối lui sự cầu quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Đối với Bát-nhã ba-la-mật-đa thâm sâu, hoan hỉ, ưa nghe, thọ trì, đọc tụng, thông suốt một cách rốt ráo, chú tâm suy nghĩ, như thuyết tu hành, thường không nhàm chán, mệt mỏi. Nên biết Đại Bồ-tát Bất thối chuyển này đời trước đã nghe nhiều về nghĩa lý Bát-nhã ba-la-mật-đa thâm sâu, thọ trì, đọc tụng, suy nghĩ đúng lý, tinh tấn tu hành, tâm không chán mỏi. Vì sao? Vì do Đại Bồ-tát này nghe thuyết Bát-nhã ba-la-mật-đa thâm sâu như thế, tâm chẳng kinh khiếp, chẳng khủng hoảng, chẳng sợ hãi, nói rộng cho đến như thuyết tu hành thường không nhàm chán, mỏi mệt.

Cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật:

- Nếu Đại Bồ-tát nghe thuyết Bát-nhã ba-la-mật-đa thâm sâu này, tâm chẳng kinh, chẳng sợ, chẳng sửng sốt, chẳng hoang man, chẳng thối lui sự cầu quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề, đối với Bát-nhã ba-la-mật-đa thâm sâu vui vẻ, ưa nghe, thọ trì, đọc tụng, thông suốt rốt ráo, chú tâm suy nghĩ, như thuyết tu hành thường không nhàm chán, mỏi mệt, thì Đại Bồ-tát này vì sao tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa thâm sâu?

Phật dạy:

- Thiện Hiện! Đại Bồ-tát này liên tục tùy thuận hướng đến và đi vào trí nhất thiết trí, nên tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa thâm sâu này.

Cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:

- Đại Bồ-tát này làm sao tùy thuận liên tục hướng đến và đi vào trí nhất thiết trí khi tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa thâm sâu?

Phật dạy:

- Thiện Hiện! Khi hành Bát-nhã ba-la-mật-đa thâm sâu, nếu Đại Bồ-tát liên tục tùy thuận hướng đến và đi vào không, vô tướng, vô nguyện, hư không, vô sở hữu, không sanh, không diệt, không nhiễm, không tịnh, chơn như cho đến cảnh giới bất tư nghì, không tạo, không tác, như giấc mộng cho đến như thành Tầm hương, thì đó là Đại Bồ-tát liên tục tùy thuận hướng đến và đi vào trí nhất thiết trí khi hành Bát-nhã ba-la-mật-đa thâm sâu.

Cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật:

- Như lời Thế Tôn dạy, nếu Đại Bồ-tát liên tục tùy thuận hướng đến và đi vào không, vô tướng, vô nguyện, nói rộng cho đến như thành Tầm hương khi hành Bát-nhã ba-la-mật-đa thâm sâu, thì đó là Đại Bồ-tát liên tục tùy thuận hướng đến và đi vào trí nhất thiết trí khi hành Bát-nhã ba-la-mật-đa thâm sâu. Đại Bồ-tát này khi hành Bát-nhã ba-la-mật-đa thâm sâu là hành năm uẩn cho đến trí nhất thiết tướng chăng?

Phật dạy:

- Thiện Hiện! Đại Bồ-tát ấy chẳng hành năm uẩn cho đến trí nhất thiết tướng. Vì sao? Vì Đại Bồ-tát này liên tục tùy thuận hướng đến và đi vào trí nhất thiết trí, không người nào làm được, không kẻ nào phá hoại được, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng không có chỗ trụ, không phương, không bờ cõi, không số, không lượng, không qua, không lại. Đã không thể nắm bắt số lượng, qua lại, thì cũng không có năng chứng.

Thiện Hiện! Trí nhất thiết trí như vậy không thể dùng năm uẩn chứng được, nói rộng cho đến không thể dùng trí nhất thiết tướng chứng được. Vì sao? Vì năm uẩn tức là trí nhất thiết trí, nói rộng cho đến trí nhất thiết tướng tức là trí nhất thiết trí. Vì sao? Vì hoặc chơn như của năm uẩn, hoặc chơn như của trí nhất thiết trí, hoặc chơn như của tất cả pháp, đều là một chơn như, không hai, không khác. Nói rộng cho đến hoặc chơn như của trí nhất thiết tướng, hoặc chơn như của trí nhất thiết trí, hoặc chơn như của tất cả pháp đều là một chơn như, không hai, không khác. Thế nên, trí nhất thiết trí không thể đem năm uẩn chứng được, nói rộng cho đến không thể đem trí nhất thiết tướng chứng được.

 

 

 

 

   Quyển thứ 512

Hết

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22/04/2026(Xem: 174)
KÍNH MỪNG KHÁNH TUỆ ĐẠI THỌ SƯ ÔNG CHƠN ĐIỀN TRÒN 100 TUỔI Bài viết của TT Thích Nguyên Tạng Do Phật tử Diệu Trí diễn đọc Qua điện thoại viễn liên với Hòa Thượng Thích Như Điển vào trưa nay từ Dallas, Hoa Kỳ, Ngài hoan hỷ cho biết trong tuần tới phái đoàn hoằng pháp Âu Mỹ sẽ quang lâm Houston thuyết giảng. Nhân dịp này, Ngài cũng sẽ tổ chức lễ mừng Khánh tuế Đại thọ 100 tuổi của Đức Đại Lão Hòa Thượng Thích Chơn Điền, bậc long tượng của Phật giáo Việt Nam, hiện đang an nhiên tĩnh dưỡng tại Tu Viện Phước Đức do Thượng tọa Thích Trí Hiền trụ trì. Nghe tin ấy, lòng con không khỏi bồi hồi xúc động. Giữa dòng chảy vô thường của thời gian, một bậc tôn túc đã viên mãn tròn một thế kỷ hiện hữu nơi cõi Ta-bà. Một trăm năm, không chỉ là độ dài của đời người, mà là chiều sâu của đạo hạnh, là sự tích lũy của trí tuệ, là hành trình không ngừng nghỉ của tâm nguyện hoằng pháp lợi sinh. Đó thật sự là một nhân duyên hy hữu, một phước báu lớn lao cho hàng hậu học chúng con còn được thấy, được n
22/04/2026(Xem: 139)
Hòa thượng thế danh Nguyễn Văn Thọ, sinh năm Ất Hợi (1875) tại châu Kim Bồng, tổng Mỹ Khê, huyện Duy Xuyên, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (Nay thuộc thôn Đông Hà, xã Cẩm Kim, thành phố Hội An). Thân phụ là cụ ông Nguyễn Văn Thái, thân mẫu là cụ bà Lê Thị Trữ. Năm 12 tuổi Ngài xuất gia với Hòa thượng Chương Đạo Quảng Viên tại tổ đình Chúc Thánh, Hội An. Năm Quý Tỵ (1893), Ngài được Bổn sư cho thọ giới Tỳ-kheo tại chùa Chúc Thánh do Hòa thượng Ấn Thanh Chí Thành làm Đàn đầu. Sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài về nhập chúng tu học tại chùa Phước Lâm, cầu pháp với tổ Ấn Bổn Vĩnh Gia nên có hiệu Phổ Thoại. Năm Kỷ Dậu (1909), Ngài lập thảo am Long Tuyền tại ấp Hậu Xá, xã Thanh Hà, tổng Phú Triêm Hạ, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn (nay là phường Thanh Hà, TP.Hội An). Từ đó, Ngài lần lần xây dựng Long Tuyền thành một ngôi Phạm vũ nguy nga và được triều đình nhà Nguyễn ban sắc tứ vào năm Quý Dậu (1933), niên hiệu Bảo Đại thứ 8. Năm Tân Dậu (1921), Ngài đứng ra thành lập Bản Tỉnh Chư S
21/04/2026(Xem: 350)
CHÙA QUAN ÂM Thành phố Houston, tiểu bang Texas Khác với những ngôi tự viện rộng rãi quy mô tại tiểu bang Texas, chùa Quan Âm giống như một ngôi nhà nhỏ ẩn mình sau những tán cây đại thọ. Chùa tọa lạc tại số 8016 Barkley St, thành phố Houston, tiểu bang Texas do Hòa thượng Thích Chơn Điền sáng lập vào những thập niên 80 của thế kỷ XX. Từ đó đến nay, chùa đã góp phần không nhỏ cho sự phát triển của Phật giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ, nhất là công đức của đức trưởng lão hòa thượng đối với các thế hệ tăng ni và đồng bào Phật tử. Hòa thượng thế danh Hoàng Hữu Hạnh, sinh ngày 16 tháng 10 năm Đinh Mão (1927) tại huyện Kiến An, tỉnh Hải Phòng. Thân phụ là cụ ông Hoàng Đình Sơ, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Lai. Ngài con nhà địa chủ nhưng tham gia vào Vệ quốc đoàn để bảo vệ tổ quốc trong cuộc chiến tranh kháng Pháp. Năm 1950, ngài xuất gia với hòa thượng Ân Nghiêm - Phó Thoại tại tổ đình Long Tuyền, Hội An. Sau đó, ngài được bổn sư truyền thọ giới sa-di ban cho pháp danh Chơn Điền, tự Đạo
21/04/2026(Xem: 242)
Hòa thượng Thích Hộ Giác, thế danh là Ngô Bửu Đạt, sinh năm 1928, tại Sa Đéc, nay là tỉnh Đồng Tháp, thân phụ ngài là cụ ông Ngô Bảo Hộ (tức cố Đại lão Hòa thượng Thiện Luật. Đệ nhất Cao tăng Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam), thân mẫu ngài là cụ bà Lưu Kim Phùng. Ngài sinh trưởng trong một gia đình thương nhân, gồm có hai chị em – bào tỷ là cố tu nữ Diệu Đính (thế danh Lưu Kim Đính). Do phương kế làm ăn sinh sống, cả gia đình ngài sang nước bạn Campuchia lập nghiệp tại tỉnh Praey-veng (tức Lò veng hay làng Hoa Mỹ theo cánh gọi của công đồng người Việt trú tại nơi đó). Năm 1934, sau khi thân mẫu qua đời, thân phụ ngài gởi trưởng nữ là Lưu Kim Đính cho người em gái (cụ bà Ngô Thị Dần) nuôi dưỡng và dẫn ngài cùng đến chùa Prek-Reng (Cần Ché) xuất gia tu học, thân phụ ngài xuất gia thọ giới Sa di được pháp danh là Thiện Luật, còn ngài lúc ấy được 5 tuổi, xuất gia làm giới tử học tập kinh luật.
20/04/2026(Xem: 470)
Mùa đông năm nay, giữa tiết trời se lạnh của nước Úc, chư tôn đức Tăng Ni từ khắp các tiểu bang lại một lần nữa vân tập về Tổ Đình Pháp Hoa, Adelaide, Nam Úc, không chỉ để tham dự khóa An cư Kiết đông, mà còn cùng nhau thành kính tưởng niệm 10 năm ngày viên tịch của Đức Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Như Huệ (2016–2026), nguyên Hội Chủ và Chứng Minh Đạo Sư Giáo Hội PGVNTN Hải Ngoại tại Úc Đại Lợi-Tân Tây Lan. Đây là cuộc hội tụ thấm đượm đạo tình, nơi những bước chân trở về không chỉ mang ý nghĩa của truyền thống tu học thanh tịnh, mà còn là sự trở về trong tâm niệm tri ân và tiếp nối, tiếp nối chí nguyện hoằng pháp, tiếp nối hạnh nguyện phụng sự của một bậc long tượng đã trọn đời dâng hiến cho Đạo pháp và dân tộc, làm rạng danh Phật giáo Việt Nam nơi hải ngoại.
18/04/2026(Xem: 879)
ÔN TRÍ THỦ SỰ THỂ HIỆN TINH THẦN PHÁP HOA KINH VÀ HẠNH NGUYỆN PHỔ HIỀN TRONG CUỘC ĐỜI HÀNH ĐẠO Trong dòng chảy hơn hai nghìn năm của Phật giáo Việt Nam, có những bậc long tượng mà cuộc đời không chỉ ghi dấu trong lịch sử, mà còn trở thành sự thể hiện sống động của giáo lý Đại thừa trong đời sống thực tiễn. Hòa thượng Thích Trí Thủ, Ôn Già Lam, chính là một trong những bậc cao tăng như thế. Nơi Ngài, tinh thần Pháp Hoa Kinh không dừng lại ở tư tưởng hay lời giảng, mà được hiện thực hóa qua từng hành động, từng Phật sự cụ thể; đồng thời, hạnh nguyện Phổ Hiền cũng không chỉ là lý tưởng, mà trở thành một đời sống dấn thân, nhập thế, phụng sự không mệt mỏi. Cuộc đời hành đạo của Ngài, vì thế, có thể được nhìn như một bản kinh sống, trong đó từ bi, trí tuệ và đại nguyện độ sinh được hòa quyện, tỏa sáng giữa những biến động của thời cuộc và những thăng trầm của lịch sử dân tộc. Tóm lược tiểu sử đời Ngài Hòa thượng Thích Trí Thủ, thế danh Nguyễn Văn Kính, pháp danh Tâm Như, tự Đạo Gi
01/04/2026(Xem: 2097)
Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam cận đại, Đức Đại Lão Hòa Thượng Thích Trí Tịnh không chỉ được tôn vinh là bậc Tam Tạng Pháp Sư uyên thâm, một dịch giả kinh điển kiệt xuất, mà còn là một bậc Đạo sư thực tiễn, suốt đời nỗ lực quy giản giáo pháp thâm sâu thành những lời dạy dung dị, dễ hiểu, dễ hành trì. Tinh hoa giáo huấn của Ngài được cô đọng trong mười bốn chữ vàng lưu lại cho hậu thế: “Thương người, thương vật, làm lành, lánh dữ, ăn chay, niệm Phật, tụng kinh ”[1]. Mười bốn chữ này không chỉ đơn thuần là lời khuyên đạo đức, mà chính là một hệ thống tu tập thiết thực và trọn vẹn, kết tinh đầy đủ ba trụ cột của đạo Phật: từ bi (karuṇā), trí tuệ (prajñā) và phương tiện thiện xảo (upāya), đưa người học Phật trở về với đời sống tỉnh thức, từ bi và an lạc ngay giữa đời thường.
31/03/2026(Xem: 2888)
Lễ kỳ siêu Chung Thất Đức Tăng Trưởng Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương Viện Tăng Thống GHPGVNTN thượng PHƯỚC hạ AN đã được trang nghiêm tổ chức tại Chánh điện Chùa Hải Đức trên Đồi Trại Thủy - Nha Trang vào sáng ngày 29/3/2026 (nhằm 11 tháng 2 năm Bính Ngọ).. Thượng sơn lên Đồi Trại Thủy - PHV chùa Hải Đức tham dự buổi lễ Kỳ siêu 49 ngày cố Hòa thượng Thích Phước An viên tịch, có sự hiện diện của chư tôn thiền đức từ các tự viện tỉnh phía Nam, từ Huế, Bình Định và chư tôn Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức Tăng-Ni cùng đông đảo phật-tử ở Nha Trang. Đặc biệt, có Đoàn Gia Đình Phật Tử đang dự Hội Trại tại Tổ đình Linh Sơn (Vạn Ninh) thuận duyên kéo về lên chùa Hải Đức dâng hương đảnh lễ.
30/03/2026(Xem: 3163)
Chùa Đức Viên tọa lạc tại số 2420 McLaughlin Avenue, thành phố San Jose, tiểu bang California, được Sư Bà Thích Đàm Lựu sáng lập năm 1980. Sư Bà người làng Tam xá, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông, Việt Nam. Xuất gia từ nhỏ tại chùa Cự Đà. Năm 1951, Sư Bà thọ giới Tỳ kheo ni tại chùa Quán Sứ, Hà Nội. Năm 1952, Sư Bà học đạo tại chùa Dược Sư, Sài Gòn. Năm 1964, Sư Bà đi du học ở Tây Đức. Năm 1979, Sư Bà đến Hoa Kỳ. Năm 1980, Sư Bà về thành phố San Jose hành đạo và sáng lập chùa Đức Viên. Sau 19 năm tận tụy, chăm lo việc đạo, việc đời, Sư Bà quy Tây năm 1999. Nhân lễ húy nhật Sư Bà sẽ được chùa tổ chức vào ngày 28 tháng 3 năm 2026, chùa đã tổ chức khóa Niệm Phật báo ân từ ngày 14 tháng 3 đến ngày 27 tháng 3 năm 2026, mỗi ngày có 4 thời: khuya 04:30am-07:00am; sáng 09:00am- 11:30am; chiều 02:30pm-04:30pm; và tối 06:00pm-08:30pm. Vào lúc 06:00pm ngày 27 tháng 3 năm 2026 (ngày 09 tháng 02 năm Bính Ngọ), chùa đã trang nghiêm tổ chức đêm thắp nến tưởng niệm cố Sư Bà khai nguyên chùa Đức
14/03/2026(Xem: 4025)
THIỀN VIỆN MINH QUANG TÂY ÚC 5 Hyem Road, Herne Hill WA THÔNG BÁO (thay Thư Mời) Cúng Rằm Tháng Giêng Kỷ niệm lần thứ 72 Tổ Sư Minh Đăng Quang vắng bóng Lễ Đặt đá Khởi công xây dựng Thiền viện Minh Quang Tây Úc Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật! Kính thưa Quý Đồng Hương và Phật Tử Việt Nam gần xa! Như thông lệ hằng năm, Rằm Thượng Nguyên là ngày rằm đầu năm mới. Quý Phật Tử thường về chùa hay thiền viện để cầu bình an, thịnh vượng cho gia đình và xã hội. Thiền viện Minh Quang sẽ tổ chức cúng cầu an vào hai ngày 14 & 15 tháng Ba năm 2026 (chiều Thứ Bảy và sáng Chủ Nhật). Đặc biệt nhân dịp này nhằm báo đền ân đức Tổ Sư trong lễ tưởng niệm ngày vắng bóng lần thứ 72, Tăng đoàn Phật Giáo Khất Sĩ Úc Châu tổ chức Lễ Đặt đá Khởi công xây dựng Thiền viện Minh Quang Tây Úc vào ngày 15 tháng Ba nói trên. Để chứng minh cho đại lễ, Ban tổ chức đã cung thỉnh trên ba mươi (30) chư tôn thiền đức Tăng Ni hải ngoại và liên bang Úc tham dự và cầu nguyện. Ban tổ chức kính gởi Th