Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Tiểu Sử Tổ Liễu Quán

10/04/201311:04(Xem: 3687)
Tiểu Sử Tổ Liễu Quán

90tolieuquan2

TỔ LIỄU QUÁN

TT. Thích Khế Chơn


(Do Thượng tọa Thích Khế Chơn đọc nhân lễ đặt đá trùng tu Tổ đình Thiền Tôn ngày 19.1.2000)


Hôm nay dưới bóng mát thiền lâm Thiên Thai pháp phái, trước giây phút thiêng liêng tỏa ngát hương đàm, chúng con đang qui tụ về đây, nơi vùng đất Thánh, nơi đã ghi đậm nét lịch sử một đời người xuất thị nhập sơn, tầm rong độ nhật, nơi Ngài đã thể hiện công án thoại đàu, luôn luôn quấn quýt đeo đẳng tâm tư với những tháng năm dài chẻ chia suy cứu- Thiền pháp trầm tịch nhưng hưng suy, trừng thanh nhưng hoạt diễm ấy đến nay vẫn còn phong khí nức hương.

Ôn lại lịch sử đời Ngài là ôn lại bước chân truyền thống bên trong chiều sâu ’Hải để tẩu mã, sơn thượng hành thuyền’chiết trung là cả một dòng suy tưởng lớn trong đại pháp bạt ngàn huyền nhiệm. Ngài sinh vào giờ Thìn, ngày 13 tháng 11 năm đinh Mùi (1667) tại làng Bạch Mã Sông Cầu, huyện đồng Xuân, tỉnh Phú Yên bên cạnh dãy Trường Sơn hùng vĩ là xương sống của tổ quốc Việt nam. Ngài sinh ra trong một gia đình bình dân, mồ côi mẹ từ thuở lên sáu. Ngài hiện hữu như một sự thách thức với phong khí thiên nhiên, sông thâm núi hiểm.

đã hơn một lần trắc nghiệm tâm linh, ngày lại ngày qua hạt giống từ tịnh giác quang trứt mầm nở hạt đó là lúc Ngài được thân phụ dẫn đến ngưỡng cửa Hội Tôn bái yết Hòa thượng Tế Viên lúc 12 tuổi. Trong thời gian sáu bảy năm trời ở Thiền viện Hội Tôn tuy bên ngoài thị hiện một chú tiểu đồng chất phác ngây ngô, nhưng bên trong tàng ẩn hạnh nguyện vị tha tuyệt luân xuất chúng. Ngài đã sống trọn vẹn với lý tưởng ‘Thật tế lý địa, bất thọ nhất trần, Phật sự môn trung, bất xã nhất pháp’. Ngài có tiếng hầu thầy tận trung, học bạn tận tín ; với phong thái đó Ngài chững chạc bước vào rừng pháp luật nghi với đôi chân vững chắc, quả tim nhiệt tình và khối óc tin yêu. Nhưng cũng trong thời gian đó Sư phụ viên quy Phật cảnh, nên tâm thức Ngài thêm một lần chấn động hoang tiêu, Ngài cư tang trong niềm mất mát quặn lòng.

Tuy xứ Phú Yên dừa xanh bát ngát, thuyền khí ni thiên cũng không tài ngăn được bước chân Ngài khi chí nguyện kiên trinh đã hướng thẳng về một trời Bắc phương đang đón chờ cơ duyên xiển khai hưng phát. Ngài đã đạp nát ngai chông, băng đèo vượt ải, hơn mấy trăm cây số ngàn Phú Yên-Thuận Hóa đã xích lại gần hơn trong tâm khảm Ngài. Thế rồi một bóng đơn phương, cô thân chích ảnh, dòng máu xuất trần đang thúc hối, giục ruổi đôi chân, với gói hành trang đơn hàn bé bỏng. đôi guốc mộc của Ngài đã đạp bằng cát bụi Trường Sơn để đặt chân lên xứ Huế. Năm Canh Ngọ (1690), Ngài hướng đến Hàm Long Thiên Thọ - tức Tổ đình Báo Quốc ngày nay để bái yết Giác Phong Lão Tổ. Cư trú ở đây gần được một năm, hay tin thân phụ ngọa bệnh nan y, Ngài trở lại cố hương phụng dưỡng cha già. Hằng ngày vào rừng đốn củi để đem về đổi gạo nuôi cha. Ròng rã bốn năm trời, sau thân phụ vĩnh biệt ra đi, Ngài tận tụy lo tròn hiếu đạo. Trong thời gian bảy năm trời, ngài đã hai lần chứng kiến cảnh tử biệt sinh ly. Ngoại cảnh hơn một lần chấn động tâm linh, nhưng cũng chính âm ba đó đã thôi thúc Ngài trực nhận phân minh bến bờ sinh tử. Cánh hải âu đã lồng lộng lướt gió tung mây, những cụm tơ trời làm sao cột chặt tâm hồn vốn sẵn tư phong tầm nghiên chân lý.

Năm Ất Hợi (1695), Ngài trở ra Thuận hóa chọn vùng đất này thọ giáo cầu tu. Ngài đã thọ Sa-di với Ngài Hòa thượng Thạch Liêm và hai năm sau - tức năm đinh sửu (1697)- Ngài đã đăng đàn thọ Cụ túc giới.

đối với Ngài, bản hoài tự độ độ tha không phải là cơm chén nước ly mà bước hoạn đồ phải lắm gian truân thao thao khổ lụy. Cảnh thấy trước mắt, tiếng động bên tai, lục căn đối trần vẫn là ba động trường canh thoạt sinh thoạt diệt. Cho nên, niềm tâm tư khắc khoải vẫn nằm trong vức giới suy tưởng dâng trào. Muốn đạt đến chân trời cứu cánh đó, không gì khác hơn cần nỗ lực tấn tu, nghiên tầm pháp yếu... đến năm Kỷ mão (1699), Ngài bắt đàu tham lễ khắp chốn Thiền lâm, hễ nghe đâu có danh tăng xuất hiện là ở đó có bóng hình Ngài. Trên dặm đường tầm pháp ấy, Ngài đã dõng mãnh vượt thoát bao nỗi gian truân. Với Ngài, trở lực chính là bước thăng hoa, là mốc giới đánh dấu con đường hiển thánh. Nhưng cánh chim hồ hải đâu có thể bay mãi đến vô cùng và chính phong khí Long sơn nơi Tổ Từ Dung hoằng hóa, khai sơn Tổ đình Từ đàm, lưới pháp huyền linh đã cột chặt chân Ngài trong yếu chỉ thoại đàu ‘Vạn pháp quy nhất, nhất quy hà xứ’(Muôn pháp về một, một về chỗ nào). Với dòng tâm linh trơn trợt thuận chiều, lối suy tư đó đã được gút lại trong vỏ cứng tư duy, cần dũa mài đẽo gọt và đợi chờ chuỗi ý thức bùng vỡ.

Hoát nhiên bùng vỡ là hoát nhiên đại ngộ. Những sự kiện ấy cần kinh qua thời gian chiêm nghiệm, quá độ của chiêm nghiệm là thực tại bức thúc, chia chẻ, chiết ly. Chính điều này đã đeo đẵng Ngài suốt bảy tám năm trời chết sống. Nội tại tâm giới qua những lần sống chết triền miên - vạn pháp hiện hữu đơn vị. Vạn pháp sẽ về một, về với cội nguồn chơn chất bản lai; nhưng một sẽ về chỗ nào nếu không phải là đắng cay tủi nhục ôm lấy bó gai nhọn khó khăn này. Ngài bắt đầu tìm về núi Thiên Thai kết bạn với hoa ngàn cỏ nội, gần gủi với thú dữ ma thiêng... Ngài sống cảnh rong rêu độ nhật, hoa quả đoạn ngày, một mình một bóng, tháng lại ngày qua, năm chầy tiết mãn. Tất cả cho tâm giới suy tư, tất cả cho vết hằn xé óc, tim buốt, gan nhừ. đi tìm nguyên ủy nhất như chính là đi tìm cái ta trong ta, Pháp trong Pháp, Phật trong Phật. Rồi một buổi nọ, sau bảy tám năm trời suy tầm chiêm nghiệm, Ngài đã gõ đúng ô cửa ‘truyền đăng’mà một chỉ là ‘Chỉ vật truyền đăng, nhất bất hội xứ’. Bỗng nhiên Ngài được bừng sáng.

Mùa xuân năm Mậu tý (1708), trên con đường trở lại Kinh đô, cỏ dại rêu phong sau 2920 ngày đã lấp đầy lối cũ. Ngài tìm đến Long sơn cầu Hòa thượng Tử Dung ấn chứng. Ngài đem chỗ công phu của mình tuần tự bộc bạch rõ ràng. Hòa thượng Tử Dung đã cho Ngài nếm thêm một lần pháp dược:

‘Ra nơi hố thẳm buông tay,

Lao mình nhảy xuống hiểm nguy cam đành.

Chết đi sống lại chính mình,

Không còn ai kẻ dối khinh được nào!’

Như khế hợp với niềm mong ước từ lâu, Ngài vỗ tay reo cười với nỗi mừng vui cháy sáng. Như con chim đã chui qua mạng lưới, Hòa thượng Tử Dung đã xé toạc những mắc võng cuối cùng bằng lối phủ nhận có dấu than. Tổ dạy: ‘Chẳng nhằm, chẳng nhằm!’. Có nghĩa là không nhằm nhưng không nhằm mới đích thị là nhằm. đây là triển khai lý sắc không Bát-nhã. Chính vì điểm khế hội ấy nên Ngài nhậm lẹ đối ngôn:

‘Xưa nay sự thật rõ ràng,

Quả cân này vốn làm bằng sắt kia’.

Lại hai chữ ‘không nhằm’toát ra từ kim khẩu của Tử Dung Lão Tổ. đây chính là lưỡi dao sắc, cắt nốt mắt lưới cuối cùng để cho cánh hồng điểu tung trời lướt gió.

‘Nếu như sớm biết đèn là lửa,

Nếu chắc chắn rằng cơm chín đã lâu’.

Bấy giờ hoàng điểu đã cao bay, càng lúc càng cao, cao tận chóp đỉnh trời xanh lồng lộng. Tổ Tử Dung thỏa dạ thúc đẩy cho chim thoát gió băng ngàn bằng pháp yếu :

‘Xưa nay Phật, Tổ truyền nhau,

Chẳng hay Phật, Tổ truyền trao vật gì ?’

Có sẵn vốn am tường nhất chơn pháp giới đã được ngộ hoạch, Ngài thưa đáp lại lời Tổ Tử Dung nhưng cũng chính là trả lời cho mình:

‘Tảng đá mọc măng cao một trượng,

Lông rùa làm chổi nặng ba cân’.

Tổ Tử Dung tiếp:

‘Lung linh nước chảy qua đèo,

Ngựa đua dưới nước, thuyền chèo trên non’.

Ngài ứng khẩu:

‘Trâu đất gãy sừng thâu đêm rống,

đàn cầm dây đứt suốt ngày rung’.

Sau khi đã mở được những chuỗi khóa siêu tuyệt, bằng lối phép ngôn thấn đối đó, Tử Dung Lão Tổ đã ấn chứng, Ngài lại trở bước lên đường hoằng du độ thế. Với khối óc, con tim và đôi chân không biết mỏi mệt, Ngài đã vân du hóa độ đó đây. Hết Huế đến Phú Yên, xong Phú Yên trở lại Huế, từ vua quan tể tướng cho đến sĩ thứ nhân dân, xã hội có bao nhiêu giai tầng là có bấy nhiêu ứng thân hóa hiện.

Suốt dọc chặng đường miền Trung không đâu là không có bước chân Ngài và lắm lúc Ngài đã sử dụng thần thông để thâu ngắn những quãng đường hóa đạo. Suốt cuộc đời Ngài là một chuỗi ngày dài thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sinh.

Mùa xuân năm Nhâm dần (1722), Ngài về Huế ở thảo am Thiên Thai, tức Tổ đình Thiền Tôn bây giờ. Trong những năm Quý sửu (1733), Giáp dần (1734), Ât hợi (1735), Ngài khai liên tiếp bốn đại giới đàn theo lời thỉnh cầu của hàng xuất gia, của các quan viên hộ pháp cũng như thiện tín Phật tử gần xa. Năm Canh Thân (1740), sau khi truyền giới tại Giới đàn Long Hoa, Ngài đã trở về thảo am.

đương thời Hiếu Minh vương Nguyễn Phúc Chu cảm phục đạo đức và danh tiếng của Ngài, muốn thỉnh Ngài vào cung, nhưng Ngài chỉ thích thanh tịnh, tự tại ở chốn Thiền lâm nên đã từ tạ lời thỉnh cầu mà không đến.

Ngoài thời gian tu luyện ở thảo am dưới chân núi Thiên Thai, Ngài còn khai sơn chùa Viên Thông, nơi đây vua quan và Phật tử thường tới lui học đạo. Mùa xuân năm Nhâm tuất (1742), Ngài chứng minh đại giới đàn tại chùa Viên Thông. đây là Phật sự tối hậu của cuộc đời Ngài.

Suốt hơn bảy mươi năm trong thế giới này, hơn bảy mươi mùa lá đổ mưa sa, nhưng nước đổ về nguồn, lá rơi về cội, đó là định kiến pháp nhĩ hiển nhiên. Cũng thế, tấm thân tứ đại của Ngài đã phân hóa hao mòn theo lớp bụi thời gian chồng chất. Mảnh cà sa phấn tảo năm nào bây giờ đã nhuộm đày phong sương trong suốt những tháng năm dài hoằng hóa và đã chọn vùng đất này làm chỗ sở quy thị hiện Niết bàn vào trưa 22 tháng 11 năm Nhâm tuất (1742) sau khi hội họp môn đồ lại để dạy bảo lần cuối cùng và phú kệ cho đồ chúng:

‘Thất thập dư niên thế giới trung,

Không không sắc sắc diệc dung thông,

Kim triêu nguyện mãn hoàn gia lý,

Hà tất bôn man vấn Tổ tông’.

(Ngoài bảy mươi năm trong thế giới,

Không không sắc sắc thảy dung thông,

Ngày nay nguyện mãn về quê cũ,

Nào phải ân cần hỏi Tổ tông?)

Niên hiệu Cảnh Hưng thứ 3, chúa Nguyễn bấy giờ ban thụy hiệu là ‘Chánh Giác Viên Ngộ Hòa thượng’. Ngài thọ 76 tuổi đời và 45 tuổi hạ. đệ tử xuất gia danh tiếng có 49 vị và rất đông đệ tử tại gia. Tang lễ của Ngài được tổ chức suốt gần 3 tháng, đến ngày 19 tháng 2 năm Quý hợi mới cung nghinh kim quan của Ngài an táng và được triều thần tôn tạo ngôi bảo tháp hùng vĩ đến ngày nay.

Sự thoát hóa quy Tây của Ngài đã để lại biết bao thương cảm. Dòng Hương giang soi bóng năm xưa bây giờ đã mất đi hình ảnh cố nhân và mây đỉnh Ngự bình như sững sờ không chịu cuốn theo chiều gió:

‘Núi Ngự tuần đầy mây chẳng rã,

Sông Hương ngày trọn nước không trôi’.

Bấy giờ chúng hậu còn ngậm ngùi nước mắt trông theo, và trên đỉnh cao thâm thiên giới một vì sao chợt biến giữa hoàn vũ bình nhiên đang đợi đón đưa Ngài vào cảnh giới bất diệt bất sinh.

Ngưỡng bạch Giác linh đại Lão Tổ sư,

Giờ đây, trước đỉnh trầm tỏa ngát hương từ, đàn hậu bối chúng con hiệp tụ về đây, ôn lại đời Ngài để học đòi đạo hạnh cao khiết, đức nhẫn nan suy, hiếu đạo trọn đường, pháp lưu sơn thủy.

Hồi tưởng lại ba trăm năm trước, đây là vùng rừng sâu núi thẳm, chân người tuyệt dấu,sơn lam chướng khí, thú dữ vây quanh, bao mối hiểm nguy thường xuyên đe dọa. Chúng con liên tưởng về những đêm đông giá rét mà Ngài trải qua ròng rã bảy năm dài, những đói lạnh làm sao tránh khỏi khi thiền sàng chỉ là bông cây thảm cỏ, rong xanh đáy hồ đã góp phần duy trì mạng mạch sắc thân. độc cư ở chốn u tịch hoang vu, một tiếng xào xạc cũng làm lạnh người rợn gáy... Thế nhưng tất cả đói lạnh hiểm nguy, sợ sệt đã lùi bước trước chí nguyện siêu phàm của Ngài.

Hơn hai thế kỷ rưỡi trôi qua, sau khi Ngài nhập diệt nhưng chúng sinh vẫn còn đó với nghiệp chướng sâu dày, giáo pháp nhiệm màu vô thượng vẫn còn đây. đệ tử chúng con nguyện bước theo gót chân Ngài với tất cả tấm lòng hưng đạo độ mê.

Bóng hình Ngài tuy không còn nữa nhưng đạo phong trác tuyệt xuất thế của Ngài đã nhuận đượm khắp cả khoảng thời gian vô cùng và không gian vô tận. Ân triêm ấy Ngài đã ban cho chúng con là cả một gia tài quý báu, chúng con nguyện khắc cốt ghi tâm và mãi mãi xứng danh là cháu con của một vị đắc truyền Tổ đạo Việt Nam.

Trong giờ phút linh thiêng và thanh tịnh này, nhạc thông gió ngàn tấu khúc hòa cùng thành tâm cung kính của đệ tử chúng con. Ngưỡng kính Giác linh Ngài phò trì gia bị cho chúng con đi trọn quãng đường còn lại trong sự nghiệp hoằng pháp độ sinh và tiến hành Phật sự đại trùng tu Tổ đình Thiền Tôn sớm được thành tựu viên mãn.

Chúng con thành kính đảnh lễ Giác linh Ngài.

Nam mô Lâm Tế Chánh tông tam thập ngũ thế khai sơn Thiên Thai Thiền Tôn tự, húy thượng Thật hạ Diệu hiệu Liễu Quán đại lão Tổ sư.

---o0o---

Trình bày: Quảng Hương

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
26/11/201710:49(Xem: 2306)
Chấn hưng Phật giáo hay Công cuộc Chấn hưng Phật giáo Việt Nam là một phong trào vận động cho sự phục hưng Phật giáo nhằm tìm lại các giá trị truyền thống và phát triển hoằng bá Phật giáo tại Việt Nam, bắt đầu từ đầu thế kỉ 20. Công cuộc này đã làm thay đổi rất nhiều về nội dung và hình thức hoạt động của Phật giáo tại Việt Nam.
12/03/201417:59(Xem: 5660)
Đạo Phật từ Ấn-độ đã truyền đến Việt-nam vào khoảng giữa thế kỉ thứ 3 trước tây lịch. Đến thế kỉ thứ 2 sau tây lịch, ở nước ta, theo sử sách ghi chép, ngoài sự có mặt hành đạo của các tăng sĩ người Ấn-độ, còn có một tăng đoàn người Việt đông đến 500 vị.
20/05/201710:37(Xem: 2602)
Gần như một quy luật tất yếu khi nói đến Hòa Thượng Lê Khánh Hòa ( 1877 - 1947 ) ( Tổ Khánh Hòa - Ngài) phải đề cập đến phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam vào nửa đầu thế kỷ XX . Cả một cuộc đời dấn thân trên lộ trình tiến tu giải thoát, luôn nặng gánh ưu tư cho tiền đồ Phật giáo trước mối suy vong song hành cùng vận mệnh dân tộc dưới gót giày xâm lược của giặc Pháp. Là một tăng sĩ với trọng trách "sứ giã Như Lai", Tổ Khánh Hòa đã sớm nhận thức rõ trách nhiệm cao cả ấy và vận dụng đạo đức, năng lực bản thân tữ mình thắp lên ngọn đuốc tiên phong, vén màn đêm dày đặc, bước đi từng bước nhọc nhằn, khó khăn ban đầu để tạo nên một luồng gió chấn hưng mang vô vàn lợi lạc cho Phật giáo mà cho đến tận hôm nay sử sách vẫn còn ghi đậm những dòng chữ vàng son óng ánh chưa hề phai nhạt.
23/04/201119:52(Xem: 1351)
Thầy đã đọc toàn bộ bài “Tham luận” Nhân trong ngày “Hội thảo” nhớ “Tổ Sư”, Sự nghiệp tu chứng đắc lý chơn như “Ngài Liễu Quán”, sáng gương ngàn thế hệ.
01/10/201405:29(Xem: 4214)
Pháp danh : Trừng Thành Pháp tự : Chí Thông, Pháp hiệu : Thích Giác Tiên. Thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 42 Thế danh : Ngài họ Nguyễn Duy húy là Quyển. Thọ sanh năm Canh thìn, niên hiệu Tự Đức đời thứ 33 (1879). Chánh quán làng Giạ Lệ Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Năm 1883, lên bốn tuổi thì song thân đều mất. Ngài được ông bà bác đồng tộc đem về nuôi dưỡng. Nhờ bẩm chất thông minh nên thân thuộc cho theo Nho học một thời gian. Nhận thấy giáo lý Phật đà mới là con đường hướng đến cảnh giải thoát ; từ đó, ngài xin với thân thuộc xuất gia đầu Phật. Năm 1890, được 11 tuổi, ngài cầu thọ giáo với tổ Tâm Tịnh.
26/02/201410:01(Xem: 8787)
Tổ sư Minh Đăng Quang sinh ra (năm Quý Hợi 1923) và lớn lên trong giai đoạn đất nước nói chung và Nam Kỳ Lục Tỉnh nói riêng, công cuộc chiếm cứ, thực hiện kế sách bảo hộ lâu dài của thực dân Pháp đã đi vào thế ổn định, và đang tự tin cho bước phát triển tiếp theo tưởng chừng mạnh mẻ ấy. Bởi lẽ trước đó hai năm ( năm Canh Thân 1920) quan toàn quyền Maurice Long
30/01/201410:11(Xem: 5012)
Hòa thượng thế danh Lương Thế Ân, sinh vào giờ Tuất, ngày 28 tháng 6 năm Canh Tuất (1670) nhằm vào năm Khang Hy thứ 8 triều nhà Thanh tại làng Thiệu An, huyện Đồng An, phủ Tuyền Châu, tỉnh Phước Kiến, Trung Quốc. Thân phụ Ngài là cụ ông húy Lương thụy Đôn Hậu, thân mẫu tộc Trần thụy Thục Thận. Ngài là người con thứ 2 trong gia đình có 3 anh em, anh trai là Lương Thế Bảo, em trai là Lương Thế Định.
29/07/201816:46(Xem: 4457)
Con có duyên ra tận phi trường Los Angeles đón Ôn Thắng Hoan về chùa VN lúc Ôn đến Mỹ từ trại Tỵ Nạn vào năm 1983. Hình bóng Ôn hôm đó con không bao giờ quên được, vóc dáng gầy guộc, giản dị , chân phương của Ôn đã gieo vào lòng con niềm thương kính . Con kính cảm tạ Thầy đã gởi video về cuộc đời hoằng pháp của Ôn . Hôm nay con viết lên bài thơ này để kính dâng lên Ôn với tất cả tấm lòng mà con đã có duyên lành gần gủi Ôn lúc con còn là một học tăng ở Chùa Việt Nam, Los Angeles. Thắng Hoan Trưởng Lão ngát hương thiền Nhập đạo đồng chơn đủ phước duyên Hoằng pháp độ sanh không mỏi mệt Lợi lạc chúng sanh khắp mọi miền. Phật sự không màng công khó nhọc Đời Ngài trải rộng chẳng chùa riêng Một mình một bóng trong cô tịch Toả sáng vườn hoa Pháp diệu huyền . Dallas Texas , 28-7-2018 Tánh Thiện
09/04/201314:05(Xem: 5857)
Thiền sư Minh Châu Hương Hải là một tác gia lớn không những của văn học và triết học Phật giáo Việt Nam, mà còn của văn học và lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung. Từ nửa cuối thế kỷ 18, cuộc đời và tác phẩm của Minh Châu Hương Hải đã lôi cuốn sự chú ý của những người trí thức đương thời, trong đó nổi bật nhất là nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784).
30/07/201612:19(Xem: 5928)
Đại Trưởng lão Bửu Chơn, một bậc cao tăng, đạo cao đức trọng của Phật giáo Nguyên Thủy, ngài có hơn 10 năm tu hạnh đầu đà ở núi rừng Campuchia. Trở về Việt Nam, ngài là người tu học khá sớm ở Tổ đình Bửu Quang vào khoảng thập niên 40. Ngài là thành viên sáng lập Giáo hội Tăng già Nguyên Thủy Việt Nam và Tăng thống nhiệm kỳ Ban Chưởng quản lâm thời vào năm 1957