Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Tiểu Sử Tổ Liễu Quán

10/04/201311:04(Xem: 3705)
Tiểu Sử Tổ Liễu Quán

90tolieuquan2

TỔ LIỄU QUÁN

TT. Thích Khế Chơn


(Do Thượng tọa Thích Khế Chơn đọc nhân lễ đặt đá trùng tu Tổ đình Thiền Tôn ngày 19.1.2000)


Hôm nay dưới bóng mát thiền lâm Thiên Thai pháp phái, trước giây phút thiêng liêng tỏa ngát hương đàm, chúng con đang qui tụ về đây, nơi vùng đất Thánh, nơi đã ghi đậm nét lịch sử một đời người xuất thị nhập sơn, tầm rong độ nhật, nơi Ngài đã thể hiện công án thoại đàu, luôn luôn quấn quýt đeo đẳng tâm tư với những tháng năm dài chẻ chia suy cứu- Thiền pháp trầm tịch nhưng hưng suy, trừng thanh nhưng hoạt diễm ấy đến nay vẫn còn phong khí nức hương.

Ôn lại lịch sử đời Ngài là ôn lại bước chân truyền thống bên trong chiều sâu ’Hải để tẩu mã, sơn thượng hành thuyền’chiết trung là cả một dòng suy tưởng lớn trong đại pháp bạt ngàn huyền nhiệm. Ngài sinh vào giờ Thìn, ngày 13 tháng 11 năm đinh Mùi (1667) tại làng Bạch Mã Sông Cầu, huyện đồng Xuân, tỉnh Phú Yên bên cạnh dãy Trường Sơn hùng vĩ là xương sống của tổ quốc Việt nam. Ngài sinh ra trong một gia đình bình dân, mồ côi mẹ từ thuở lên sáu. Ngài hiện hữu như một sự thách thức với phong khí thiên nhiên, sông thâm núi hiểm.

đã hơn một lần trắc nghiệm tâm linh, ngày lại ngày qua hạt giống từ tịnh giác quang trứt mầm nở hạt đó là lúc Ngài được thân phụ dẫn đến ngưỡng cửa Hội Tôn bái yết Hòa thượng Tế Viên lúc 12 tuổi. Trong thời gian sáu bảy năm trời ở Thiền viện Hội Tôn tuy bên ngoài thị hiện một chú tiểu đồng chất phác ngây ngô, nhưng bên trong tàng ẩn hạnh nguyện vị tha tuyệt luân xuất chúng. Ngài đã sống trọn vẹn với lý tưởng ‘Thật tế lý địa, bất thọ nhất trần, Phật sự môn trung, bất xã nhất pháp’. Ngài có tiếng hầu thầy tận trung, học bạn tận tín ; với phong thái đó Ngài chững chạc bước vào rừng pháp luật nghi với đôi chân vững chắc, quả tim nhiệt tình và khối óc tin yêu. Nhưng cũng trong thời gian đó Sư phụ viên quy Phật cảnh, nên tâm thức Ngài thêm một lần chấn động hoang tiêu, Ngài cư tang trong niềm mất mát quặn lòng.

Tuy xứ Phú Yên dừa xanh bát ngát, thuyền khí ni thiên cũng không tài ngăn được bước chân Ngài khi chí nguyện kiên trinh đã hướng thẳng về một trời Bắc phương đang đón chờ cơ duyên xiển khai hưng phát. Ngài đã đạp nát ngai chông, băng đèo vượt ải, hơn mấy trăm cây số ngàn Phú Yên-Thuận Hóa đã xích lại gần hơn trong tâm khảm Ngài. Thế rồi một bóng đơn phương, cô thân chích ảnh, dòng máu xuất trần đang thúc hối, giục ruổi đôi chân, với gói hành trang đơn hàn bé bỏng. đôi guốc mộc của Ngài đã đạp bằng cát bụi Trường Sơn để đặt chân lên xứ Huế. Năm Canh Ngọ (1690), Ngài hướng đến Hàm Long Thiên Thọ - tức Tổ đình Báo Quốc ngày nay để bái yết Giác Phong Lão Tổ. Cư trú ở đây gần được một năm, hay tin thân phụ ngọa bệnh nan y, Ngài trở lại cố hương phụng dưỡng cha già. Hằng ngày vào rừng đốn củi để đem về đổi gạo nuôi cha. Ròng rã bốn năm trời, sau thân phụ vĩnh biệt ra đi, Ngài tận tụy lo tròn hiếu đạo. Trong thời gian bảy năm trời, ngài đã hai lần chứng kiến cảnh tử biệt sinh ly. Ngoại cảnh hơn một lần chấn động tâm linh, nhưng cũng chính âm ba đó đã thôi thúc Ngài trực nhận phân minh bến bờ sinh tử. Cánh hải âu đã lồng lộng lướt gió tung mây, những cụm tơ trời làm sao cột chặt tâm hồn vốn sẵn tư phong tầm nghiên chân lý.

Năm Ất Hợi (1695), Ngài trở ra Thuận hóa chọn vùng đất này thọ giáo cầu tu. Ngài đã thọ Sa-di với Ngài Hòa thượng Thạch Liêm và hai năm sau - tức năm đinh sửu (1697)- Ngài đã đăng đàn thọ Cụ túc giới.

đối với Ngài, bản hoài tự độ độ tha không phải là cơm chén nước ly mà bước hoạn đồ phải lắm gian truân thao thao khổ lụy. Cảnh thấy trước mắt, tiếng động bên tai, lục căn đối trần vẫn là ba động trường canh thoạt sinh thoạt diệt. Cho nên, niềm tâm tư khắc khoải vẫn nằm trong vức giới suy tưởng dâng trào. Muốn đạt đến chân trời cứu cánh đó, không gì khác hơn cần nỗ lực tấn tu, nghiên tầm pháp yếu... đến năm Kỷ mão (1699), Ngài bắt đàu tham lễ khắp chốn Thiền lâm, hễ nghe đâu có danh tăng xuất hiện là ở đó có bóng hình Ngài. Trên dặm đường tầm pháp ấy, Ngài đã dõng mãnh vượt thoát bao nỗi gian truân. Với Ngài, trở lực chính là bước thăng hoa, là mốc giới đánh dấu con đường hiển thánh. Nhưng cánh chim hồ hải đâu có thể bay mãi đến vô cùng và chính phong khí Long sơn nơi Tổ Từ Dung hoằng hóa, khai sơn Tổ đình Từ đàm, lưới pháp huyền linh đã cột chặt chân Ngài trong yếu chỉ thoại đàu ‘Vạn pháp quy nhất, nhất quy hà xứ’(Muôn pháp về một, một về chỗ nào). Với dòng tâm linh trơn trợt thuận chiều, lối suy tư đó đã được gút lại trong vỏ cứng tư duy, cần dũa mài đẽo gọt và đợi chờ chuỗi ý thức bùng vỡ.

Hoát nhiên bùng vỡ là hoát nhiên đại ngộ. Những sự kiện ấy cần kinh qua thời gian chiêm nghiệm, quá độ của chiêm nghiệm là thực tại bức thúc, chia chẻ, chiết ly. Chính điều này đã đeo đẵng Ngài suốt bảy tám năm trời chết sống. Nội tại tâm giới qua những lần sống chết triền miên - vạn pháp hiện hữu đơn vị. Vạn pháp sẽ về một, về với cội nguồn chơn chất bản lai; nhưng một sẽ về chỗ nào nếu không phải là đắng cay tủi nhục ôm lấy bó gai nhọn khó khăn này. Ngài bắt đầu tìm về núi Thiên Thai kết bạn với hoa ngàn cỏ nội, gần gủi với thú dữ ma thiêng... Ngài sống cảnh rong rêu độ nhật, hoa quả đoạn ngày, một mình một bóng, tháng lại ngày qua, năm chầy tiết mãn. Tất cả cho tâm giới suy tư, tất cả cho vết hằn xé óc, tim buốt, gan nhừ. đi tìm nguyên ủy nhất như chính là đi tìm cái ta trong ta, Pháp trong Pháp, Phật trong Phật. Rồi một buổi nọ, sau bảy tám năm trời suy tầm chiêm nghiệm, Ngài đã gõ đúng ô cửa ‘truyền đăng’mà một chỉ là ‘Chỉ vật truyền đăng, nhất bất hội xứ’. Bỗng nhiên Ngài được bừng sáng.

Mùa xuân năm Mậu tý (1708), trên con đường trở lại Kinh đô, cỏ dại rêu phong sau 2920 ngày đã lấp đầy lối cũ. Ngài tìm đến Long sơn cầu Hòa thượng Tử Dung ấn chứng. Ngài đem chỗ công phu của mình tuần tự bộc bạch rõ ràng. Hòa thượng Tử Dung đã cho Ngài nếm thêm một lần pháp dược:

‘Ra nơi hố thẳm buông tay,

Lao mình nhảy xuống hiểm nguy cam đành.

Chết đi sống lại chính mình,

Không còn ai kẻ dối khinh được nào!’

Như khế hợp với niềm mong ước từ lâu, Ngài vỗ tay reo cười với nỗi mừng vui cháy sáng. Như con chim đã chui qua mạng lưới, Hòa thượng Tử Dung đã xé toạc những mắc võng cuối cùng bằng lối phủ nhận có dấu than. Tổ dạy: ‘Chẳng nhằm, chẳng nhằm!’. Có nghĩa là không nhằm nhưng không nhằm mới đích thị là nhằm. đây là triển khai lý sắc không Bát-nhã. Chính vì điểm khế hội ấy nên Ngài nhậm lẹ đối ngôn:

‘Xưa nay sự thật rõ ràng,

Quả cân này vốn làm bằng sắt kia’.

Lại hai chữ ‘không nhằm’toát ra từ kim khẩu của Tử Dung Lão Tổ. đây chính là lưỡi dao sắc, cắt nốt mắt lưới cuối cùng để cho cánh hồng điểu tung trời lướt gió.

‘Nếu như sớm biết đèn là lửa,

Nếu chắc chắn rằng cơm chín đã lâu’.

Bấy giờ hoàng điểu đã cao bay, càng lúc càng cao, cao tận chóp đỉnh trời xanh lồng lộng. Tổ Tử Dung thỏa dạ thúc đẩy cho chim thoát gió băng ngàn bằng pháp yếu :

‘Xưa nay Phật, Tổ truyền nhau,

Chẳng hay Phật, Tổ truyền trao vật gì ?’

Có sẵn vốn am tường nhất chơn pháp giới đã được ngộ hoạch, Ngài thưa đáp lại lời Tổ Tử Dung nhưng cũng chính là trả lời cho mình:

‘Tảng đá mọc măng cao một trượng,

Lông rùa làm chổi nặng ba cân’.

Tổ Tử Dung tiếp:

‘Lung linh nước chảy qua đèo,

Ngựa đua dưới nước, thuyền chèo trên non’.

Ngài ứng khẩu:

‘Trâu đất gãy sừng thâu đêm rống,

đàn cầm dây đứt suốt ngày rung’.

Sau khi đã mở được những chuỗi khóa siêu tuyệt, bằng lối phép ngôn thấn đối đó, Tử Dung Lão Tổ đã ấn chứng, Ngài lại trở bước lên đường hoằng du độ thế. Với khối óc, con tim và đôi chân không biết mỏi mệt, Ngài đã vân du hóa độ đó đây. Hết Huế đến Phú Yên, xong Phú Yên trở lại Huế, từ vua quan tể tướng cho đến sĩ thứ nhân dân, xã hội có bao nhiêu giai tầng là có bấy nhiêu ứng thân hóa hiện.

Suốt dọc chặng đường miền Trung không đâu là không có bước chân Ngài và lắm lúc Ngài đã sử dụng thần thông để thâu ngắn những quãng đường hóa đạo. Suốt cuộc đời Ngài là một chuỗi ngày dài thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sinh.

Mùa xuân năm Nhâm dần (1722), Ngài về Huế ở thảo am Thiên Thai, tức Tổ đình Thiền Tôn bây giờ. Trong những năm Quý sửu (1733), Giáp dần (1734), Ât hợi (1735), Ngài khai liên tiếp bốn đại giới đàn theo lời thỉnh cầu của hàng xuất gia, của các quan viên hộ pháp cũng như thiện tín Phật tử gần xa. Năm Canh Thân (1740), sau khi truyền giới tại Giới đàn Long Hoa, Ngài đã trở về thảo am.

đương thời Hiếu Minh vương Nguyễn Phúc Chu cảm phục đạo đức và danh tiếng của Ngài, muốn thỉnh Ngài vào cung, nhưng Ngài chỉ thích thanh tịnh, tự tại ở chốn Thiền lâm nên đã từ tạ lời thỉnh cầu mà không đến.

Ngoài thời gian tu luyện ở thảo am dưới chân núi Thiên Thai, Ngài còn khai sơn chùa Viên Thông, nơi đây vua quan và Phật tử thường tới lui học đạo. Mùa xuân năm Nhâm tuất (1742), Ngài chứng minh đại giới đàn tại chùa Viên Thông. đây là Phật sự tối hậu của cuộc đời Ngài.

Suốt hơn bảy mươi năm trong thế giới này, hơn bảy mươi mùa lá đổ mưa sa, nhưng nước đổ về nguồn, lá rơi về cội, đó là định kiến pháp nhĩ hiển nhiên. Cũng thế, tấm thân tứ đại của Ngài đã phân hóa hao mòn theo lớp bụi thời gian chồng chất. Mảnh cà sa phấn tảo năm nào bây giờ đã nhuộm đày phong sương trong suốt những tháng năm dài hoằng hóa và đã chọn vùng đất này làm chỗ sở quy thị hiện Niết bàn vào trưa 22 tháng 11 năm Nhâm tuất (1742) sau khi hội họp môn đồ lại để dạy bảo lần cuối cùng và phú kệ cho đồ chúng:

‘Thất thập dư niên thế giới trung,

Không không sắc sắc diệc dung thông,

Kim triêu nguyện mãn hoàn gia lý,

Hà tất bôn man vấn Tổ tông’.

(Ngoài bảy mươi năm trong thế giới,

Không không sắc sắc thảy dung thông,

Ngày nay nguyện mãn về quê cũ,

Nào phải ân cần hỏi Tổ tông?)

Niên hiệu Cảnh Hưng thứ 3, chúa Nguyễn bấy giờ ban thụy hiệu là ‘Chánh Giác Viên Ngộ Hòa thượng’. Ngài thọ 76 tuổi đời và 45 tuổi hạ. đệ tử xuất gia danh tiếng có 49 vị và rất đông đệ tử tại gia. Tang lễ của Ngài được tổ chức suốt gần 3 tháng, đến ngày 19 tháng 2 năm Quý hợi mới cung nghinh kim quan của Ngài an táng và được triều thần tôn tạo ngôi bảo tháp hùng vĩ đến ngày nay.

Sự thoát hóa quy Tây của Ngài đã để lại biết bao thương cảm. Dòng Hương giang soi bóng năm xưa bây giờ đã mất đi hình ảnh cố nhân và mây đỉnh Ngự bình như sững sờ không chịu cuốn theo chiều gió:

‘Núi Ngự tuần đầy mây chẳng rã,

Sông Hương ngày trọn nước không trôi’.

Bấy giờ chúng hậu còn ngậm ngùi nước mắt trông theo, và trên đỉnh cao thâm thiên giới một vì sao chợt biến giữa hoàn vũ bình nhiên đang đợi đón đưa Ngài vào cảnh giới bất diệt bất sinh.

Ngưỡng bạch Giác linh đại Lão Tổ sư,

Giờ đây, trước đỉnh trầm tỏa ngát hương từ, đàn hậu bối chúng con hiệp tụ về đây, ôn lại đời Ngài để học đòi đạo hạnh cao khiết, đức nhẫn nan suy, hiếu đạo trọn đường, pháp lưu sơn thủy.

Hồi tưởng lại ba trăm năm trước, đây là vùng rừng sâu núi thẳm, chân người tuyệt dấu,sơn lam chướng khí, thú dữ vây quanh, bao mối hiểm nguy thường xuyên đe dọa. Chúng con liên tưởng về những đêm đông giá rét mà Ngài trải qua ròng rã bảy năm dài, những đói lạnh làm sao tránh khỏi khi thiền sàng chỉ là bông cây thảm cỏ, rong xanh đáy hồ đã góp phần duy trì mạng mạch sắc thân. độc cư ở chốn u tịch hoang vu, một tiếng xào xạc cũng làm lạnh người rợn gáy... Thế nhưng tất cả đói lạnh hiểm nguy, sợ sệt đã lùi bước trước chí nguyện siêu phàm của Ngài.

Hơn hai thế kỷ rưỡi trôi qua, sau khi Ngài nhập diệt nhưng chúng sinh vẫn còn đó với nghiệp chướng sâu dày, giáo pháp nhiệm màu vô thượng vẫn còn đây. đệ tử chúng con nguyện bước theo gót chân Ngài với tất cả tấm lòng hưng đạo độ mê.

Bóng hình Ngài tuy không còn nữa nhưng đạo phong trác tuyệt xuất thế của Ngài đã nhuận đượm khắp cả khoảng thời gian vô cùng và không gian vô tận. Ân triêm ấy Ngài đã ban cho chúng con là cả một gia tài quý báu, chúng con nguyện khắc cốt ghi tâm và mãi mãi xứng danh là cháu con của một vị đắc truyền Tổ đạo Việt Nam.

Trong giờ phút linh thiêng và thanh tịnh này, nhạc thông gió ngàn tấu khúc hòa cùng thành tâm cung kính của đệ tử chúng con. Ngưỡng kính Giác linh Ngài phò trì gia bị cho chúng con đi trọn quãng đường còn lại trong sự nghiệp hoằng pháp độ sinh và tiến hành Phật sự đại trùng tu Tổ đình Thiền Tôn sớm được thành tựu viên mãn.

Chúng con thành kính đảnh lễ Giác linh Ngài.

Nam mô Lâm Tế Chánh tông tam thập ngũ thế khai sơn Thiên Thai Thiền Tôn tự, húy thượng Thật hạ Diệu hiệu Liễu Quán đại lão Tổ sư.

---o0o---

Trình bày: Quảng Hương

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/12/201808:21(Xem: 1724)
Trong diễn văn của Chủ tịch nước Cộng Hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Minh Triết tại buổi khai mạc Đại lễ Phật Đản Liên Hợp Quốc 2008 tại Trung tâm Hội nghị quốc gia Mỹ Đình Hà Nội, sáng ngày 14.5.2008 đã khẳng định: “Việt Nam là đất nước đa tôn giáo mà đạo Phật là tôn giáo có mặt rất sớm từ gần 2000 năm trước. Ngay từ buổi đầu tiên, với tư tưởng Từ bi, hỷ xả, Phật giáo đã được nhân dân Việt Nam đón nhận, luôn đồng hành cùng dân tộc với phương châm nhập thế, gắn bó giữa Đạo và Đời phấn đấu vì hạnh phúc an vui cho con người. Trong các thời đại, thời nào lịch sử Việt Nam cũng ghi nhận những nhà Sư đại đức, đại trí đứng ra giúp đời, hộ quốc, an dân.
19/12/201706:19(Xem: 2470)
Trong diễn văn của Chủ tịch nước Cộng Hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Minh Triết tại buổi khai mạc Đại lễ Phật Đản Liên Hợp Quốc 2008 tại Trung tâm Hội nghị quốc gia Mỹ Đình Hà Nội đã khẳng định: “Việt Nam là đất nước đa tôn giáo mà đạo Phật là tôn giáo có mặt rất sớm từ gần 2000 năm trước. Ngay từ buổi đầu tiên, với tư tưởng Từ bi, hỷ xả, Phật giáo đã được nhân dân Việt Nam đón nhận, luôn đồng hành cùng dân tộc với phương châm nhập thế, gắn bó giữa Đạo và Đời phấn đấu vì hạnh phúc an vui cho con người. Trong các thời đại, thời nào lịch sử Việt Nam cũng ghi nhận những nhà Sư đại đức, đại trí đứng ra giúp đời, hộ quốc, an dân. Đặc biệt lịch sử Việt Nam mãi mãi ghi nhớ công lao của vị vua anh minh Trần Nhân Tông có công lớn lãnh đạo nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Khi đất nước thái bình, Người nhường ngôi từ bỏ giàu sang, quyền quý, tìm đến nơi non cao Yên Tử để học Phật tu hành, sáng lập nên Thiền phái Trúc Lâm, một dòng Thiền riêng của Việt Nam tồn tại mãi tới ngày nay.”
23/10/201008:09(Xem: 1359)
Về sự nghiệp của vua Trần Nhân Tông, đã có rất nhiều tài liệu và bài viết về hai lần lãnh đạo quân dân nước ta đánh thắng giặc Mông - Nguyên, trị quốc an dân, đối ngoại và mở cõi, nên ở đây chúng tôi không lặp lại nữa, mà chỉ đề cập đôi nét đến nội dung khác về: Trần Nhân Tông - một hoàng đế xuất gia, một thiền sư đắc đạo và là sơ tổ lập nên dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử độc đáo của Việt Nam.
16/12/201022:20(Xem: 1570)
Xin cầu nguyện cho tất cả chúng sinh được hạnh phúc, bình an và giải thoát. Tác giả mang ơn sâu đối với Thiền Sư Thích Thanh Từ và Giáo Sư Tiến Sĩ Trí Siêu Lê Mạnh Thát vì các công trình nghiên cứu và dịch thuật của hai thầy mà tác phẩm này đã dựa vào để tham khảo; và đối với bổn sư tác giả là Thiền Sư Thích Tịch Chiếu. Tác phẩm này được đặc biệt dâng tặng tới các thế hệ trẻ, và phổ quát dâng tặng cho tất cả chúng sinh.
23/10/201007:18(Xem: 1736)
Nhiều thế kỷ trước, một vị vua đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam hai lần đẩy lui quân Mông Cổ xâm lăng. Một hôm, vào năm 1293, vị vua anh hùng này đã rời ngôi vua, và vài năm sau trở thành một nhà sư và đã để lại một di sản Thiền Tông bây giờ vẫn còn phát triển để trở thành dòng Thiền lớn nhất tại Việt Nam. Ngài tên là Trần Nhân Tông, vị vua thứ ba của Nhà Trần và là vị sáng lập Dòng Thiền Trúc Lâm.
19/12/201018:24(Xem: 6285)
Nhiều thế kỷ trước, một vị vua đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam hai lần đẩy lui quân Mông Cổ xâm lăng. Một hôm, vào năm 1293, vị vua anh hùng này đã rời ngôi vua...
09/08/201102:16(Xem: 1236)
Vua Trần Nhân Tông (1258-1308) sau khi khoác tăng bào ở tuổi 40 đã chu du khắp nơi để thuyết pháp, giảng kinh, khuyên dân chúng giữ gìn mười điều lành, và từng trở về kinh đô Thăng Long tổ chức lễ thụ Bồ tát giới cho vua Trần Anh Tông và quan lại triều đình.
10/08/201101:10(Xem: 1015)
Cuộc đời xuất gia của Tổ Trúc Lâm là một cuộc đời hoạt động sôi nổi, tích cực. Ngoài các mùa kết hạ tại các am núi hay các chùa, thời gian còn lại Ngài thường đi vân du hoằng hoá đây đó. Năm 1304, “Điều Ngự đi khắp mọi nẻo thôn quê, khuyên dân phá bỏ các dâm từ [đền miếu thờ các thần sằng bậy] và thực hành giáo lý Thập thiện”. Ngài muốn xây dựng một xã hội trên nền tảng luân lý đạo Phật, góp phần củng cố triều đại thời hoàng kim của mình. Đức Điều Ngự Giác Hoàng Đệ nhất Tổ Trúc Lâm Yên Tử Trần Nhân Tông sinh ngày 11 tháng Mười một năm Mậu Ngọ (tức 7 – XII - 1258). Năm 21 tuổi (1279), Ngài lên ngôi vua, trải qua hai niên hiệu là Thái Bảo và Trùng Hưng.
10/08/201100:53(Xem: 1131)
Trần Nhân Tông phải được coi là nhân vật kiệt xuất nhất trong lịch trình phong kiến Việt Nam và cũng là nhân vật kiệt xuất nhất trong sơ đồ Phật giáo Việt Nam, một trong những niềm tự hào lớn lao nhất của dân ta.
10/08/201100:51(Xem: 2128)
Về cuộc đời và sự nghiệp lịch sử, giải thoát của vua Trần Nhân Tông, đã có nhiều công trình biên khảo: Trần Nhân Tông, thiền sư Việt Nam; Trần Nhân Tông, nhà văn hóa; Trần Nhân Tông, nhà thơ; Trần Nhân Tông, nhà quân sự; Trần Nhân Tông, nhà lãnh đạo lỗi lạc; Trần Nhân Tông, nhà tư tưởng... Trong bài khảo luận ngắn này, người viết chỉ đề cập đến một số nét tiêu biểu về Tiểu sử, sở đắc giải thoát và Tư tưởng Phật học của Người.