Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Đức Nhuận (1924-2001)

09/04/201319:50(Xem: 12809)
Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Đức Nhuận (1924-2001)

HT. Thich Duc Nhuan


TIỂU SỬ
HÒA THƯỢNG THÍCH ĐỨC NHUẬN


 

THÂN THẾ :

Thiền sư THÍCH ĐỨC NHUẬN, pháp hiệu Trí Tạng, thế danh Đồng Văn Kha, sinh ngày 14 tháng Chạp năm Quí hợi (thứ bảy, ngày 19 tháng giêng, 1924).

Chính quán : làng Lạc Chính, xã Duyên Bình, huyện Trực Ninh, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định.

Thân phụ là Đồng Văn Trung và thân mẫu là bà chính thất Hà Thị Thìn hiệu Trinh Thục (cả hai vị đều đã mãn phần).

Là con thứ tư trong một gia đình thanh bần - dòng quí tộc. Ngài có 2 anh, 1 chị và 3 người em dì bào (2 trai, 1 gái).

XUẤT GIA :

Xuất gia năm 1937 (do nhân duyên đọc báo Đuốc Tuệ mà giác ngộ). Y chỉ sư là Hòa thượng Thích (thượng) TÂM (hạ) THƯỞNG, trụ trì chùa làng Liêu-Hải, phủ Nghĩa Hưng, thuộc Sơn môn Phú Ninh (Nam Định).

Năm 1941, thụ Sa di giới tại chùa Cổ Lễ, huyện Trực Ninh.

Năm 1943, thụ đại giới Tỳ Khưu tại giới đàn Tổ đình Phú Ninh. Đã học tại các Tùng Lâm :

- Tổ đình Phú Ninh

- Phật học viện chùa Cồn (Nam Định)

- Tổ đình Tế Xuyên (Hà Nam)

- Phật học viện Báo Quốc (Huế)

- Phật học đường Ấn Quang (Sài Gòn)

ĐẠO NGHIỆP :

Năm 1949, chính thức hoạt động Phật sự với chức vụ phó chủ tịch Hội Phật Giáo Nam Định (Miền Xuân Trường Hải Hậu); chủ tịch là Hòa thượng THÍCH TRUNG QUÁN, trụ trì chùa làng Quần Thượng (Hải Hậu) và cuối năm 1950, xin từ chức trở về sống nếp sống của một tăng sĩ, tiếp tục sự nghiệp học vấn và nghiên cứu Phật học.

Đầu năm 1954 vào Nam sống cuộc đời tĩnh tu.

Năm 1956-57, được sự tín nhiệm của chư Tăng cử giữ chức chủ tịch (Trị sự trưởng) giáo hội Tăng Già Bắc Việt tại Miền Nam (GHTGVN).

Năm 1959-61, giữ chức ủy viên văn hóa Tổng hội Phật giáo Việt Nam.

Năm 1960-61, tái nhận chức chủ tịch GHTGBV tại Miền Nam.

Năm 1962-63, đảm nhận chức tổng thư ký giáo hội Tăng Già Việt Nam.

Năm 1963, khởi động phong trào đầu tiên chống chế độ độc tài nhà Ngô (tại Sài Gòn) trong vụ triệt hạ cờ Phật Giáo và đàn áp Phật tử tại Huế, nhân mùa Phật Đản PL 1507 (1963).

Năm 1964-65, giữ chức vụ trưởng Vụ kiểm duyệt GHPGVNTN.

Năm 1965-66, chủ nhiệm kiêm chủ bút nguyệt san Vạn Hạnh, tạp chí nghiên cứu, phát huy Văn hóa Phật giáo và văn hóa Dân tộc, với sự cộng tác của một số học giả, giáo sư đại học, văn nghệ sĩ tại thủ đô Sài Gòn (tạp chí xuất bản được tròn 2 năm, 24 số).

Năm 1969-70, giáo sư Phân khoa Phật học và Triết học Đông phương Viện Đại học Vạn Hạnh (sau niên khóa đó, vì bận công việc nên đã xin nghỉ dạy).

Năm 1967-73, giữ chức chánh thư ký viện Tăng Thống, do đức Tăng Thống THÍCH TỊNH KHIẾT lãnh đạo và là hội viên Hội đồng giáo phẩm trung ương GHPGVNTN.

Năm 1969-71, trùng tu tổ đình Giác Minh. Nguyên trụ sở giáo hội Tăng Già Bắc Việt tại Miền Nam.

Năm 1971-72, chủ bút nguyệt san Hóa Đạo, cơ quan truyền bá chính pháp của Tổng Hoằng pháp GHPGVNTN.

Năm 1975-81, giữ chức trụ trì tổ đình Giác Minh.

Năm 1985-93, bị Nhà nước Việt Nam bắt giam với tội danh "tổ chức chống cách mạng".

Từ năm 1993:, tĩnh tu chùa Giác Minh, Sàigòn. Hòa Thượng vẫn tiếp tục đọc, viết và ưu tư về đường hướng phát triển của Phật giáo Việt Nam.

Từ năm 1999 : được cung cử vào chức vụ Cố vấn Ban Chỉ Đạo Viên Hóa Đạo, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

Đã viết cho các Nhật Báo : Thời Luận, Tín Sáng, Dân Chủ, Gió Nam và các tạp chí : Phật giáo Việt Nam, Văn Hóa Á Châu, Liên Hoa, Văn, Vấn đề, Tư tưởng...

Đã diễn thuyết về đề tài Phật giáo và Văn hóa Dân tộc tại các trường Đại học :

- Trường Đại Học Văn khoa Sài Gòn (1959)

- Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn (1963)

- Viện Phật Học Vạn Hạnh (1970)

và đã đề tựa cùng giới thiệu những tác giả và tác phẩm có giá trị về mặt tôn giáo và về văn học.

* Tác phẩm đã in :

- GIÓ THIÊNG (Thơ) Vạn Hạnh, 1959

- PHẬT HỌC TINH HOA, Một Tổng Hợp Đạo Lý (đã tái bản 4 lần), Vạn Hạnh, 1960.

- CHUYỂN HIỆN ĐẠO PHẬT VÀO THỜI ĐẠI, Vạn Hạnh, 1967.

-TRAO CHO THỜI ĐẠI MỘT NỘI DUNG PHẬT CHẤT (sách đã dịch ra Anh ngữ, Vạn Hạnh, 1969).

- SỨ MỆNH NGƯỜI PHẬT TỬ ĐỐI VỚI DÂN TỘC VÀ ĐẠO PHÁP

- KIẾN THIẾT VĂN MINH PHẬT GIÁO

- ĐẠO PHẬT VÀ DÒNG SỬ VIỆT

(ba tác phẩm này do Viện Triết Lý Việt Nam và Triết Học Thế Giới tại California, U.S.A ấn hành, 1995-1996).Và tái bản tạiSài Gòn năm 1997

- THƠ : Sáng một niềm tin (Dịch và sáng tác từ năm 1975 đến nay), Viện Triết Lý Việt Nam và Triết Học Thế Giới tại California, U.S.A ấn hành, 1999.

- HƯỚNG ĐI CỦA THỜI ĐẠI , Viện Triết Lý Việt Nam và Triết Học Thế Giới tại California, U.S.A ấn hành, 2001.

* Dịch kinh :

- NHỮNG ĐIỀU PHẬT DẠY - Phật Thuyết Tứ Thập Nhị Chương

- LỜI DẠY CUỐI CÙNG CỦA ĐỨC PHẬT - Thùy Bát Niết Bàn Lược Thuyết Giáo Giới Kinh.

(Cả hai tác phẩm trên nguyên văn chữ Hán trích trong "Thánh điển Yếu Tập", Chùa Giác Minh ấn tống, 1980-1995. ký tên : Thái Không).

- KHÁI NIỆM TRIẾT LÝ KINH HOA NGHIÊM, Viện Triết Lý Việt Nam và Triết Học Thế Giới tại California, U.S.A ấn hành, 1999


Vào cuối tháng 12 năm 2001, Hòa Thượng cảm thấypháp thể khiếm an, mặc dù được các hàng đệ tử, các bác sĩ tại Bệnh Viện Thống Nhất tận tình chăm sóc chữa trị tại bệnh viện Thống Nhất, Sàigòn, nhưng vì tuổi cao sức yếu, Ngài đã không qua khỏi. Ngài đã an tường xả báo thân lúc 16 giờ 53 phút chiểu ngày thứ hai, 21 tháng giêng năm 2002 (nhằm ngày mùng chín tháng chạp năm Tân Tỵ, thọ 79 tuổi đời, 59 tuổi đạo.

Suốt cuộc đời, từ khi xuất gia hành đạo cho đến lúc viên tịch, Hòa Thượng Thích Đức Nhuận đã nỗ lực không ngừng trong công việc xiễn dương đạo pháp. Cuộc đời Ngài là một tấm gương sáng ngời về đạo hạnh và sự nghiệp hoằng hóa cho Tăng ni và Phật tử noi theo. Mặc dù sắc thân của Ngài không còn nữa nhưng đạo hạnh và sự nghiệp hoằng hóa của Ngài sẽ mãi mãi là ngọn đuốc soi đường cho Tăng Ni Phật tử Việt Nam ở mai sau.

Thích Nguyên Tạng
Kính ghi

 




Thủ  bút của
Hòa Thượng Thích Đức Nhuận

Thich Duc Nhuan-thubut2
Phát Nguyện : Tôi phát tâm tu chẳng vì ( riêng mình) mong hưởng phúc báo
ở cõi trời, cõi người cho đến ngôi vị Thanh Văn, Duyên Giác hay quyền thừa Bồ
Tát, mà chỉ phát bồ đề tâm : cầu đạt đạo quả " tối thượng thừa" như Phật, và nguyện cho hết thảy pháp giới chúng sinh cùng lúc chứng nhập chân lý Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác .
Thích Đức Nhuận dịch


Thich Duc Nhuan-thubut-1
Lý Thường Kiệt
( 1019-1105)

Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.


Dịch nghĩa :

1. Nước Việt Nam, vua Nam cai trị
Sách trời vạch định rõ biên cương
Cớ sao lũ giặc sang xâm chiếm ?
Quyết đánh không tha, buộc chúng hàng.

2. Vua Nam cai trị nước Nam ta
Ranh giới sách trời đã vạch ra
Quân giặc, cớ sao sang cướp phá ?
Bọn ngươi chuốc lấy nhục thua mà !..
.

Thích Đức Nhuận dịch

 

ht thich duc nhuan-tt nguyen tangHình ảnh lưu niệm năm 1995:

HT Thích Đức Nhuận, TT Thích Nguyên Tạng & Hoạ Sĩ Phượng Hồng

(Ghi chú: TT Thích Nguyên Tạng là đệ tử y chỉ của Cố Hòa Thượng Thích Đức Nhuận từ năm 1993 (được HT ban cho pháp hiệu là Phổ Trí), đây là thời gian sau khi HT ra tù và về tịnh dưỡng tại Chùa Giác Minh, Sài Gòn.


dao_phat_va_dong_su_viet
(Mời xem tiếp)

 



-- o0o --

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
25/05/2013(Xem: 20181)
Những sự kiện nổi bật nơi Thầy Minh Phát mà chư Tôn đức Tăng Ni, Phật tử quen biết xa gần đều rất khó quên : Nơi các Đại giới đàn, Thầy là vị dẫn lễ thân kính của các giới tử; nơi các đàn chẩn tế trong những ngày lễ hội lớn, Thầy là vị sám chủ uy nghiêm và gây ấn tượng mạnh trong lòng đai chúng; nơi các bịnh nhân, Thầy là vị lương y kỳ diệu, với một chai nước mát Thầy đọc vài câu Kinh ngắn chú nguyện, người bịnh mang về uống là có thể hết bịnh (đã có nhiều người hết bịnh nhờ uống những chai nước mát của Thầy cho); nơi các Tổ đình lớn, trong một số ngày lễ hội, khi cần - thầy là người “đầu bếp tài ba” v.v…
12/05/2013(Xem: 8208)
Lời Người Dịch: Hồ sơ này đã giải mật theo luật Hoa Kỳ -- tuy vẫn còn xóa trắng 2 dòng ở trang 1, và xóa trắng hai trang 3 và 4 -- sẽ cho thấy cách nhìn từ chính phủ Mỹ về tình hình Việt Nam trong thập niên 1960s. Hồ sơ này cho thấy đánh giá từ phía tình báo Hoa Kỳ về Thầy Thích Trí Quang và hoạt động của Phật Giáo VN trong năm 1966, tức là ba năm sau khi Hòa Thượng Thích Quảng Đức vị pháp thiêu thân. Một vài đánh giá trong bản văn này bây giờ đã thấy là không chính xác, khi Mỹ dựa vào suy đoán để gán ghép một mục tiêu chính trị nào đó cho một hay nhiều vị sư. Tuy nhiên, bản văn này cho thấy cái nhìn từ phía tình báo Hoa Kỳ đối với Phật Giáo trong tình hình lúc đó đang gay gắt, và sẽ chiếu rọi thêm một phần vào lịch sử phong trào Phật Giáo.
23/04/2013(Xem: 12974)
Quyển NGỮ LỤC này là tập hợp từ những lời thị chúng của Thiền Sư DUYÊN LỰC trong những kỳ thiền thất tại Việt Nam kể từ năm 1983 cho đến những năm tháng cuối đời. Cứ hằng tháng Ngài cho mở một khóa tu bảy ngày ở mỗi Thiền đường cho các hành giả tu Thiền, gọi là “đả thiền thất” để hướng dẫn đại chúng chuyên sâu trong sự nghiệp tu hành. Những lời dạy trước sau đều được đồ đệ ghi âm lại để làm tài liệu tham khảo.
23/04/2013(Xem: 8685)
Như đã kết thiện duyên từ thuở ấy, Giọt mưa trời tưới ngọt đất Hồ Nam. Tiêu phụ thân và từ mẫu họ Nhan Dòng vọng tộc, làm quan Thanh triều đại.
22/04/2013(Xem: 9306)
Kể từ khi loài người biết phát huy trí tuệ, chúng ta thấy rõ có hai khuynh hướng phát triển, khuynh hướng hướng nội và khuynh hướng hướng ngoại. Khuynh hướng hướng ngoại, gọi là ngoại quan, tức quan sát sự hiện hữu và diễn tiến của sự vật bên ngoài giúp cho con người có được nhận thức đúng đắn về sự sống của hiện tượng giới.
22/04/2013(Xem: 24027)
Ba năm về trước, khi bổn-sư (và cũng là chú ruột) của tôi là cố Hòa-Thượng Ðại-Ninh THÍCH THIỀN-TÂM viên-tịch, trong buổi lễ thọ tang ngài tôi có dâng lời nguyện trước giác-linh Hòa-Thượng cầu xin ngài chứng-minh và gia-hộ cho tôi - vừa là đệ-tử và cũng là cháu ruột của ngài - được đầy đủ đạo-lực cùng minh-tâm, kiến-tánh thêm hơn để nối-tiếp theo gót chân ngài, hoằng-dương pháp môn Tịnh-độ nơi hải-ngoại ....
17/04/2013(Xem: 7735)
Con, Tỳ kheo ni Hạnh Thanh, vừa là môn phái Linh Mụ ; nhưng thật ra, Ôn, cũng như con và cả Đại chúng Linh Mụ đều là tông môn Tây Thiên pháp phái. Vì Ôn Đệ tam Tăng thống tuy Trú trì Linh Mụ quốc tự, nhưng lại là đệ tử út của Tổ Tâm Tịnh, Khai sơn Tổ Đình Tây Thiên, được triều Nguyễn dưới thời vua Khải Định sắc phong là Tây Thiên Di Đà tự. Ôn Cố Đại lão Hòa thượng Đôn Hậu có cùng Pháp tự chữ Giác với quý Ôn là Giác Thanh, trong Sơn môn Huế thường gọi là hàng thạch trụ Cửu Giác và có thêm một hàng gọi là bậc danh tăng thạc học Cửu Trí (Chỉ cho các ngài Trí Quang, Thiện Minh, Thiện Siệu v..v...) Cố đô Huế là vậy ; đó là chưa kể nơi phát sinh ra danh Tăng ưu tú ngũ Mật nhị Diệu (Mật Tín, Mật Khế, Mật Hiển, Mật Nguyện, Mật Thể, Diệu Huệ và Diệu Không) và cũng là nơi đào tạo tăng tài, xây dựng trường Đại học Phật giáo đầu tiên không những chỉ cho Huế mà cả miền Trung việt Nam nữa. Ở Huế thường kính trọng các bậc chơn tu thực học, đạo cao đức trọng nên thường lấy tên chùa để gọi pháp
11/04/2013(Xem: 17824)
Một con người với nhiều huyền thoại bao phủ theo từng bước đi, dù ngàn năm trôi qua nhưng dấu ấn vẫn còn đong đầy trong tận cùng tâm thức, hạnh nguyện độ sanh vẫn lớn dần theo nhịp tử sinh, in dấu trên từng hoá độ, kỳ bí trong vô cùng không tận, không ngôn ngữ nào có thể diễn tả trọn vẹn. Một sự lặng thinh phổ cập trên từng đường nét, chỉ có cõi lòng thành kính tri ơn, nhớ ơn, biết ơn, được nhân dân tôn thờ lễ bái
10/04/2013(Xem: 11555)
Ngày 15-2-1965, tôi và thầy Chơn Thanh cũng như các học Tăng khác từ các nơi tập trung về Phật học viện Huệ Nghiêm dự thi tuyển vào khóa II của Phật học viện. Thầy thì từ Phật học đường Phổ Quang Gia Định đến, tôi thì từ Phật học đường Lưỡng Xuyên- Trà Vinh lên, tất cả cùng một chí hướng, một mục đích và một ước nguyện là thi đậu vào Phật học viện. Kết quả, thầy thi đậu lớp Sơ trung 2, tôi thi đậu vào lớp Sơ trung 1
10/04/2013(Xem: 14341)
Kính dâng Hoà Thượng Thích Tịch Tràng, để nhớ công ơn giáo dưỡng - Tôi ra thắp nhang nơi tháp mộ của Người, ngồi bên tháp rêu phong, vôi vữa đã lở ra từng mảng, đường nét đơn sơ giản dị như cuộc đời giản dị của Thầy, lòng chợt bâng khuâng nhớ thương thầy vô hạn. Tôi tự hỏi: “Động cơ nào đã thôi thúc Thầy nguyên là một vị giáo sư Pháp văn ưu tú con nhà quý tộc ở xứ Quảng, lại cắt ngang con đường công danh sự nghiệp, để vào đây nối bước theo chân Tổ mà nối đuốc đưa mọi người qua khỏi bóng đêm vô minh dày đặc và biến nơi đây thành một quê hương tâm linh cho tất cả ngưỡng vọng hướng về”.