- Tiểu Sử HT Tuệ Chiếu

23/01/201505:43(Xem: 9543)
- Tiểu Sử HT Tuệ Chiếu

 

 Hòa Thượng Thích-Tuệ-Chiếu, thế danh Lưu Đức Thụy, Pháp danh Thiện-Uẩn, Pháp hiệu Hồng Liên, pháp tự Tuệ Chiếu thuộc Thiền Phái Lâm Tế đời thứ 40.        

Hòa Thượng sinh năm 1942 trong một gia đình Nho Giáo tại Đồ Sơn, Hải Phòng. Con của cụ ông Lưu Đắc Vân và cụ bà Hoàng Thị Chung. Hai bên nội ngoại đều Nho học, làm Hương Cả của làng, dạy học trò khá đông. Hòa Thượng  là con út trong gia đình, ngoài ra còn có một chị Cả và hai anh.


Vào năm 1945, quê hương bị chiến tranh phân tán. Theo mẹ và một số bà con vào miền Nam sống ở Sài Gòn. Sau khi thi đậu Superieur xong, năm 1952. Khi còn ấu thời nghe Miền Tây có Vị tu hành thành Phật, có nhiều điều kỳ diệu khiến nhiều người kính phục. Hòa Thượng nghe trong lòng nôn nao, xin theo mẹ đến chùa Thành Hoa xã Tấn Mỹ, Chợ Mới tỉnh Long Xuyên, bây giờ gọi là An Giang. Khi gặp vị Tôn Sư Đức Hạnh rất uy nghiêm, rồi xin thế phát xuất gia. Hoà Thượng Bổn Sư là Ngài thượng Tịnh hạ Nghiêm tu học sáu năm khổ hạnh và chín năm thiền định thật gian khổ, chịu không biết bao nhiêu thử thách gay go, cay đắng suýt vong mạng mà được đắc đạo. 


Nguyên Bổn sư là giòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 39. Còn Hòa Thượng đời 40, Thế danh  Lưu Đ. Thụy, Pháp danh Thích Thiện-Uẩn, Pháp Hiệu Hồng Liên, tự Tuệ Chiếu. 

Khi vào chùa bấy giờ học Kinh Luật chữ Hán suốt 5 năm. đến năm 1959 Vào học Phật Học Viện Biên Hòa, sau đó học thêm Văn Khoa và các khóa Như Lai Sứ Giã ở Pháp Hội. Trong thời gian 1960 dến 1963 đã đi dạy khóa Hạ chùa Phước Thạnh Long Xuyên và giảng ở Hà Tiên, Rạch Giá, Sóc Ven, Kiên Tân, Long Xuyên, Lấp Vò, Cái Dầu và Châu Đốc, Sài Gòn.

Đến năm 1963 tham gia phong trào tranh đấu lúc Phật Giáo bị chế độ Ngô Đình Diệm đàn áp, bị tù khi các chùa bị tấn công. 
 

 Năm 1964 đi thành Lập Giáo Hội PGVNTN tỉnh Rạch Giá với Hòa Thượng Thích Minh Giác và các Giáo Hội Quận Châu Thành, Kiên Tân, Kiên Lương, Kiên Hưng và Hà Tiên.
 

Năm 1965 Hòa Thượng Thích Tắc Phước Long Xuyên mời về điều khiển trường Trung Học Bồ Đề An Giang và dạy taị đây suốt bảy năm từ Đệ thất đến Tú Tài. 

 Năm 1968 kiêm Giám Đốc Bồ Đề quận Chợ Mới đến năm 1970. Lúc này mời Hòa Thượng Thích  Đức Niệm làm Hiệu Trưởng. Sau đó Hòa Thượng T. Đức Niệm Đi Đài Loan học thêm. Trong thời gian này Hòa Thượng còn dạy thêm nhiều trường Bồ Đề phía Hậu Giang. 

Năm 1970, vì nhu cầu quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, cần những vị Tu sĩ có khả năng làm Tuyên Úy Phật Giáo. Đáp ứng lời kêu gọi của Nha Tuyên Úy, Hòa Thượng tình nguyện vào Tuyên Úy Phật Giáo ở Sư Đoàn 21 Bộ Binh.Là Tuyên Uý Phật Giáo duy nhất xung phong vào rừng U Minh Cà Mau ở với anh em binh sĩ 3 ngày. Và cũng là người sát cánh anh em trong chiến trận mùa hè đỏ lửa để giải tỏa Bình Long, An Lộc. Lúc đó Sư Đoàn 21 Bộ Binh biệt phái yểm trợ đóng bộ Chỉ Huy tại Lai Khê. Lúc này Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi về làm Tư Lệnh Quân Đoàn IV + Quân Khu 4, Thiếu Tướng Chương Zềnh Quay làm Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh.  Hằng tháng Hòa Thượng cùng Đại Tá Trần văn Tươi đi uỷ lạo và gắn Huy Chương Anh Dũng Bội Tinh và Chiến Thương Bội Tinh cho anh em thương bệnh binh nằm các Bệnh viện Quân Y Lai Khê, Vũng Tàu, Bình Dương, Biên Hoà, Cộng Hòa Sài Gòn, Cần Thơ  v. v . . Chỗ nào gian nguy là có Hòa Thượng bên cạnh các anh em binh sĩ. 

Sau mùa Hè đỏ lửa 1972, Về làm Tuyên Úy ở Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân , Quân Khu 4. Lúc này cùng các Bác Sĩ Quân Y và Ban xã Hội Biệt Động Quân đi ủy lạo và công tác Dân Vận từ vùng Thất Sơn Huyền Bí, Rạch Giá, Sóc Ven và các Quân Y Viện Châu Đốc, Long Xuyên, Cần Thơ. 

Năm 1973 chuyển về Sở Tuyên Úy Phật Giáo của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn IV+Quân Khu 4, do Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi làm Tư Lệnh. Đến giữa năm 1974 Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam từ Sư Đoàn 7 Bộ Binh về làm Tư Lệnh Quân Đoàn IV. Trong thời gian ở Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn dù ít đi ủy lạo các nơi, nhưng lại bận rộn về hành chánh, nghi lễ và chăm sóc theo dõi quý Thầy Tuyên Úy trong các Bộ Tư Lệnh Quân, Binh, Chủng của Quân Đoàn IV và Quân Khu 4 . 

Đến 30 tháng 4 năm 1975, HT là người bị bắt đầu tiên vào ngày 06 tháng 5 năm 1975 vào trại cải huấn Long Xuyên. Vì vùng này chống đối đến ngày 03 tháng 5 mới rút lui. Sau đó các Thầy Tuyên Úy và các anh em Sĩ quan, Hành chánh mới gom vào đưa xuống cần Thơ căn cứ Trung Đoàn 33 cũ. Rồi bị đưa ra Bắc ở vùng Hoàng Liên Sơn, Hà Tuyên, Tuyên Quang, Hà Nam Ninh. Tất cả là 10 trại ở miền Bắc. Dù ở tù đày khổ sai biệt xứ, nhưng vẫn gan lỳ làm lễ cho ác anh em và quy y cho nhiều người trong đó có vài anh em Thiên Chúa Giáo. Trong các Sĩ quan tù binh đã quy y, bây giờ có một người thành Đại Đức Thích Pháp Quang ở chùa Pháp Vương Virginia và các anh em cư sĩ ở rãi rác các tiểu bang. 

Trải qua mười năm tù, sức quá mòn mõi, thân hình khô kiệt, nay yếu mai đau, cho nên  cộng sản cho về đợt cuối năm 1985. 

Hòa Thượng cũng là một Giảng Sư của Giáo Hội PGVNTN ở miền Tây, là Giáo Sư các Trường Trung Học Bồ Đề Long Xuyên, Chợ Mới, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu và có lúc dạy môn Quốc Văn trường bên Thiên chúa Giáo ở Cà Mau lúc ở Sư Đoàn 21 Bộ Binh. Do cha Tuyên Úy Cà Mau mời.   

Năm 1995, Hòa Thượng  đến định cư tại Hoa Kỳ và tiếp tục công cuộc hoằng pháp ở các nơi như Virginia, North  Carolina, Georgea, Florida, Connecticut, Massachusetts, Lousiana, Arkansas, Texas, Oklahoma, Seattle, California.  

Hòa Thượng  từng trụ trì chùa Huệ Quang, Richmond năm 1999 và thành lập chùa Viên Giác Richmond năm 2001 làm Trụ Trì đến năm 2005. Đi hoằng pháp đến New Mexico, bị ngã bệnh nhưng được cứu sống. Hiện tại HT đang tịnh dưỡng tại thành phố New Mexico này. 

Việc đóng góp cho Phật Giáo, cho Giáo Hội, cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đến thân tàn lực kiệt, chết đi sống lại ở trong tù ba lần. Nay tuy đau yếu nhiều, nhưng cũng cố gắng đi hoằng pháp.

Những sách đã xuất bản :


1-Nỗi Niềm Của Chú Tiểu in ở Maryland đã hết trong vòng 2 tháng.(2001)
2-Những Xúc Động Đi Vào Tâm Linh Trên Xứ Phật (in ở Virgina 2007)
3-Những Vị Phật ở Miền Tây Nam Việt Nam (In ở California 2009)
Sách đang viết 
1- Góp vài Cánh Hoa (hy vọng sẽ xuất bản cuối năm 2010)
2- Tình thương và nghiệp lực.
3- Cuộc đời huyển hóa.


***

Kính mời xem bài viết của HT Thích Tuệ Chiếu

 

HT Thich Tue Chieu2
bo-de-dao-trang

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/04/2013(Xem: 12884)
Quyển NGỮ LỤC này là tập hợp từ những lời thị chúng của Thiền Sư DUYÊN LỰC trong những kỳ thiền thất tại Việt Nam kể từ năm 1983 cho đến những năm tháng cuối đời. Cứ hằng tháng Ngài cho mở một khóa tu bảy ngày ở mỗi Thiền đường cho các hành giả tu Thiền, gọi là “đả thiền thất” để hướng dẫn đại chúng chuyên sâu trong sự nghiệp tu hành. Những lời dạy trước sau đều được đồ đệ ghi âm lại để làm tài liệu tham khảo.
23/04/2013(Xem: 8647)
Như đã kết thiện duyên từ thuở ấy, Giọt mưa trời tưới ngọt đất Hồ Nam. Tiêu phụ thân và từ mẫu họ Nhan Dòng vọng tộc, làm quan Thanh triều đại.
22/04/2013(Xem: 9271)
Kể từ khi loài người biết phát huy trí tuệ, chúng ta thấy rõ có hai khuynh hướng phát triển, khuynh hướng hướng nội và khuynh hướng hướng ngoại. Khuynh hướng hướng ngoại, gọi là ngoại quan, tức quan sát sự hiện hữu và diễn tiến của sự vật bên ngoài giúp cho con người có được nhận thức đúng đắn về sự sống của hiện tượng giới.
22/04/2013(Xem: 23950)
Ba năm về trước, khi bổn-sư (và cũng là chú ruột) của tôi là cố Hòa-Thượng Ðại-Ninh THÍCH THIỀN-TÂM viên-tịch, trong buổi lễ thọ tang ngài tôi có dâng lời nguyện trước giác-linh Hòa-Thượng cầu xin ngài chứng-minh và gia-hộ cho tôi - vừa là đệ-tử và cũng là cháu ruột của ngài - được đầy đủ đạo-lực cùng minh-tâm, kiến-tánh thêm hơn để nối-tiếp theo gót chân ngài, hoằng-dương pháp môn Tịnh-độ nơi hải-ngoại ....
17/04/2013(Xem: 7619)
Con, Tỳ kheo ni Hạnh Thanh, vừa là môn phái Linh Mụ ; nhưng thật ra, Ôn, cũng như con và cả Đại chúng Linh Mụ đều là tông môn Tây Thiên pháp phái. Vì Ôn Đệ tam Tăng thống tuy Trú trì Linh Mụ quốc tự, nhưng lại là đệ tử út của Tổ Tâm Tịnh, Khai sơn Tổ Đình Tây Thiên, được triều Nguyễn dưới thời vua Khải Định sắc phong là Tây Thiên Di Đà tự. Ôn Cố Đại lão Hòa thượng Đôn Hậu có cùng Pháp tự chữ Giác với quý Ôn là Giác Thanh, trong Sơn môn Huế thường gọi là hàng thạch trụ Cửu Giác và có thêm một hàng gọi là bậc danh tăng thạc học Cửu Trí (Chỉ cho các ngài Trí Quang, Thiện Minh, Thiện Siệu v..v...) Cố đô Huế là vậy ; đó là chưa kể nơi phát sinh ra danh Tăng ưu tú ngũ Mật nhị Diệu (Mật Tín, Mật Khế, Mật Hiển, Mật Nguyện, Mật Thể, Diệu Huệ và Diệu Không) và cũng là nơi đào tạo tăng tài, xây dựng trường Đại học Phật giáo đầu tiên không những chỉ cho Huế mà cả miền Trung việt Nam nữa. Ở Huế thường kính trọng các bậc chơn tu thực học, đạo cao đức trọng nên thường lấy tên chùa để gọi pháp
11/04/2013(Xem: 17763)
Một con người với nhiều huyền thoại bao phủ theo từng bước đi, dù ngàn năm trôi qua nhưng dấu ấn vẫn còn đong đầy trong tận cùng tâm thức, hạnh nguyện độ sanh vẫn lớn dần theo nhịp tử sinh, in dấu trên từng hoá độ, kỳ bí trong vô cùng không tận, không ngôn ngữ nào có thể diễn tả trọn vẹn. Một sự lặng thinh phổ cập trên từng đường nét, chỉ có cõi lòng thành kính tri ơn, nhớ ơn, biết ơn, được nhân dân tôn thờ lễ bái
10/04/2013(Xem: 11407)
Ngày 15-2-1965, tôi và thầy Chơn Thanh cũng như các học Tăng khác từ các nơi tập trung về Phật học viện Huệ Nghiêm dự thi tuyển vào khóa II của Phật học viện. Thầy thì từ Phật học đường Phổ Quang Gia Định đến, tôi thì từ Phật học đường Lưỡng Xuyên- Trà Vinh lên, tất cả cùng một chí hướng, một mục đích và một ước nguyện là thi đậu vào Phật học viện. Kết quả, thầy thi đậu lớp Sơ trung 2, tôi thi đậu vào lớp Sơ trung 1
10/04/2013(Xem: 14170)
Kính dâng Hoà Thượng Thích Tịch Tràng, để nhớ công ơn giáo dưỡng - Tôi ra thắp nhang nơi tháp mộ của Người, ngồi bên tháp rêu phong, vôi vữa đã lở ra từng mảng, đường nét đơn sơ giản dị như cuộc đời giản dị của Thầy, lòng chợt bâng khuâng nhớ thương thầy vô hạn. Tôi tự hỏi: “Động cơ nào đã thôi thúc Thầy nguyên là một vị giáo sư Pháp văn ưu tú con nhà quý tộc ở xứ Quảng, lại cắt ngang con đường công danh sự nghiệp, để vào đây nối bước theo chân Tổ mà nối đuốc đưa mọi người qua khỏi bóng đêm vô minh dày đặc và biến nơi đây thành một quê hương tâm linh cho tất cả ngưỡng vọng hướng về”.
10/04/2013(Xem: 12316)
Một sinh thể đã xuất hiện trong cuộc đời như chưa từng có, đến lúc từ giã ra đi cũng thật nhẹ nhàng như cánh nhạn lưng trời. Vốn xuất thân từ dòng dõi trâm anh thế phiệt, được bẩm thụ cái gen của tổ phụ từng nổi tiếng văn chương, lại hấp thụ tinh hoa của địa linh sông Hương, núi Ngự - một vùng đất được xem là cái nôi của văn hóa Phật giáo miền Trung. Khi trưởng thành, thể hiện phong thái của một bậc nữ lưu tài sắc vẹn toàn, nhưng túc duyên thôi thúc, sớm rõ lẽ vô thường, dễ dàng từ bỏ cảnh phú quí vinh hoa, hâm mộ nếp sống Thiền môn thanh đạm.
10/04/2013(Xem: 8723)
Cư sĩ Tâm Minh- Lê Đình Thám sanh năm Đinh Dậu (1897) tại làng Đồng Mỹ (Phú mỹ), tổng Phú Khương, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam-nay là tỉnh Quảng Nam- Đà Nẵng. Ông xuất thân trong một gia đình quyền quí nhiều đời làm quan.Thân sinh là Binh Bộ Thượng Thư Lê Đỉnh ở triều Tự đức.