Dư Âm Cơn Dông Tố

09/10/201413:05(Xem: 23696)
Dư Âm Cơn Dông Tố


                                  Ngày ấy!
                                Cơn dông tố giữa bầu trời nắng hạ
                                Gió đưa về xao xác những cánh chim
                                Một vì sao Bắc Đẩu chốn trời Âu
                                Hỡi vô thường sao đành làm tắt lịm!!!

    Một năm đã trôi qua...

    Khóa Tu Học Phật pháp Âu Châu kỳ thứ 26 đã diễn tiến trước đây mấy tháng rồi mà dư âm vẫn còn vang vọng trong tâm tư tôi mãi mãi.
Tôi vẫn còn bàng hoàng, cứ tưởng vắng bóng Sư Ông thì lần nầy khóa
Tu học cũng sẽ đìu hiu héo hắt, tàn úa như lá mùa thu. Nhưng không, cả một sức sống của những người con Phật đã vươn lên càng mãnh liệt hơn nữa!
    Fribourg, một trung tâm Tu học không xa nước Đức bao nhiêu nhưng lại không thuận đường bay. Từ Đức qua, tôi phải đổi xe lửa, cũng phải lặn lội 6,7 tiếng đồng hồ, đường đi quanh co với đồi núi chập chùng, chưa kể anh bạn tài xế đón tôi là người ở vùng khác nên đã lạc đường thêm một giờ đồng hồ nữa.
    Bước xuống sân ga đã thấy ấm lòng rồi; bao nhiêu bạn Đạo lần lượt tới, tập trung đứng chờ xe đón, với bao nụ cười rạng rỡ trên môi.
    Vào hè mà Thuỵ Sĩ còn lạnh, vào đến sân đã thấy tấp nập người qua lại, ai cũng xuýt xoa vì hơi rét còn bàng bạc trong không gian! Vậy mà tôi cứ tưởng chắc năm nay vắng vẻ lắm; không ngờ hội trường rộn rịp hẳn lên. Từng đoàn xe lớn nhỏ ra vào, kẻ lên người xuống. Bạn Đạo khắp nơi không hẹn mà gặp, tay bắt mặt mừng. Nơi nơi đều rộn rịp, nhà bếp đã bận rộn xắt gọt, nấu nướng; các gian hàng bắt đầu chuẩn bị để có thể phục vụ khách thập phương từ chiều nay.  
    Rồi ngày khai giảng đã đến, bước vào Hội trường tôi đã xúc động thật sự, cả một Đạo tràng gần 900 Phật tử ngồi ngay hàng thẳng lối và im phăng phắc đợi chờ. Đúng là những đốm lửa của khắp nơi cùng về đã bùng cháy thành những ngọn hoa đăng tưng bừng rực sáng! Những người con của Sư Ông đã không quản ngại đường xa, đã quy tụ về đây, biểu lộ lòng thương kính Sư Ông bằng cách rủ nhau về dự khóa tu học đông đảo như vậy!
    Có lẽ Sư Ông đã ra đi nhanh quá, nhẹ nhàng quá nên Phật tử của Sư Ông đều cảm thấy như Sư Ông vẫn còn quanh quẩn đâu đây!? Nếu nhìn cho kỹ,  nhìn sâu sắc, nhìn bằng sự trong suốt của tâm linh, ta có thể thấy được sự sinh diệt còn mất chỉ như những cuộc vân hà du thử, thanh thản rong chơi!
    Tuy nghĩ vậy nhưng chưa có khóa giáo lý nào mà nước mắt ứa ra
nhiều như lần này. Tôi nhớ những bước chân âm thầm của Sư Ông ngoài
hành lang, mỗi lần gặp, tôi hay hỏi thăm tình hình của khóa học; cứ sợ nếu thiếu hụt tiền bạc thì tội cho Sư Ông quá!
    Nhắc đến Sư Ông, tham dự buổi lễ tưởng niệm Sư Ông là mọi người không cầm nước mắt!
    Phần tôi, chưa bao giờ tôi có những buổi tập dượt văn nghệ ngập tràn nước mắt như lần này. Ai đóng vai nào cũng khóc được cả, em Như Thủy vừa tập hát bài "Nhớ ơn Thầy" vừa nước mắt ràn rụa làm cho tất cả đều khóc theo.
      Nhóm "Những cây bút nữ" chúng tôi nhất quyết dàn dựng cho được màn ca vũ nhạc kịch "Cơn dông giữa mùa hạ" mà soạn giả là Nhật Hưng. Phút ban đầu thấy khó khăn quá, Nhật Hưng muốn bỏ cuộc nhưng chị em chúng tôi nhất quyết tiến hành. Rồi thì mỗi người mỗi tay: Tôi lo điều động nhân sự, tất cả 27 người; Nhật Hưng lo may quần áo, Hoa Lan làm hai cây quạt Quốc Sư, Mừng Chi cắt từng miếng Carton mang theo từ Đức để làm quan tài, Phương Quỳnh lo trang trí quan tài. Phải cám ơn Sư Cô phụ trách hương hoa ở Đạo tràng, nhờ Cô mà chúng tôi đã có một cổ quan tài quá đẹp; còn có những bó hoa tươi cho các Phật tử đi theo sau quan tài nữa.
    Ai cũng nhiệt tình đóng góp công sức của mình, từ các anh cầm khiên, lọng đến các anh gánh quan tài. Khi trình diễn vừa đi vừa khóc, cảm động vô cùng! Chúng tôi rất mừng khi tìm ra được hai anh bạn không có tóc, đóng hai vai Hòa Thượng.
      Cám ơn các bạn Yên, Alphonse, Trung, Lợi, Tuấn, Thiện, Toàn, Đây, Tụng, Thông và các Chị đã hết lòng cùng nhau tập dượt dù rằng chúng ta cũng đã gặp không biết bao nhiêu khó khăn trở ngại. Thời gian để tập dượt đã hiếm hoi, đã vậy không có buổi tập nào hội đủ được sự hiện diện của 27 người, lúc nào cũng có một số bạn bận trực ban Trai soạn chẳng hạn, đó là chưa kể 5 em trong gia đình Phật tử chỉ tập được một buổi trước khi trình diễn vì các em còn bận cho phần tập dượt chương trình của mình nữa.
      Tôi đã từng tham dự rất nhiều buổi trình diễn văn nghệ nhưng chưa lần nào tôi thấy sung sướng và mãn nguyện như lần này!
      Màn trình diễn của chúng tôi đã đáp ứng với chủ đề của đêm văn nghệ; chủ đề "Thương nhớ Sư Ông" và đã diễn ra trong một bầu không khí trang nghiêm và cảm động! Chính tôi là người đã đứng ra tập dượt, vậy mà khi cổ
quan tài của Sư Ông khiêng ra, với 4 vành khăn tang, với những bước chân âm thầm lặng lẽ đầy tôn kính, với giọng ngâm thơ truyền cảm của Nhật Hưng, với tiếng hát nức nở của Như Thủy, tôi cũng đã không cầm được nước mắt!



htthichminhtam_11HT.ThichMinhTam_01

      Xin cảm ơn tất cả các bạn đã hết lòng giúp đỡ chúng tôi hoàn thành màn ca vũ nhạc kịch "Cơn dông giữa mùa hạ". Về đây rồi, mà mỗi lần mở Video ra xem lại, nước mắt tôi cũng muốn ứa trào!
      Âm vang trầm hùng của Chú Thủ Lăng Nghiêm mỗi buổi công phu sáng; không khí thân thương tràn đầy đạo vị trong những buổi học tập và thảo
luận Phật pháp; nghiêm túc, im lặng khi thọ trai Quá đường; nhẹ nhàng an nhiên khi kinh hành niệm Phật vẫn còn ấp ủ tâm tư và theo bước chân tôi trên đường về trụ xứ.

    Ngàn lần tri ân cũng không đủ đối với Chư Tôn Đại Lão, Hòa Thượng, Chư Thượng Toạ, Đại Đức Tăng Ni, với tấm lòng hộ pháp của Phật tử muôn phương đã cùng góp công sức để khóa Giáo lý Âu Châu kỳ 26 viên mãn thập phần tốt đẹp trong tinh thần "Nhất túc thị đa, đa túc thị nhất";một là tất cả, tất cả là một.


 Cuối tháng 9/2014 
 Nguyên Hạnh Hoàng Thị Doãn

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/12/2010(Xem: 10958)
Hòa thượng Thích Quảng Thiệp (1928-1998)
25/11/2010(Xem: 38137)
Trần Thái Tông là vị vua đầu của triều Trần. Ngài là đệ tử của thiền sư Viên Chứng trên núi Yên Tử. Ngài vừa làm vua vừa thực tập thiền. Ngài cũng từng thực tập thiền công án. Đây là 43 công án Vua đưa ra để cùng thực tập với tăng thân của Vua, gồm có giới xuất gia và tại gia. Thầy Làng Mai đã dịch những công án này ra tiếng Việt và tiếng Pháp năm 1968. Bản dịch tiếng Pháp xin xem ở phần phụ lục cuốn Clé Pour Le Zen, tác giả Nhất Hạnh, do nhà xuất bản JC Lattes ấn hành. Bản Hán Việt có trong Thơ Văn Lý Trần quyển II (Quyển thượng, trang 108-121), NXB Khoa Học Xã Hội.
24/11/2010(Xem: 15707)
Tiểu sử nhà văn Quách Tấn
15/11/2010(Xem: 10765)
Vào ngày 1-11-1963 khi quân đội đứng lên làm cuộc đảo chánh lật đổ chế độ của gia đình Ô. Ngô Đình Diệm - mà Hội Đồng Quân Dân Cách Mạng do Đại Tướng Dương Văn Minh cầm đầu gọi đó là cuộc “Cách Mạng” thì tôi là cậu sinh viên Luật Khoa Năm Thứ Nhất, chuẩn bị thi lên Năm Thứ Hai của Đại Học Luật Khoa Sài Gòn. Bố tôi sính đọc sách báo, vả lại gia đình cư ngụ ở xóm lao động cho nên Radio hàng xóm mở ầm ầm cả ngày khiến dù không muốn nghe nhưng cũng phải nghe tin tức từng giờ của đài phát thanh. Hơn thế nữa khi Sài Gòn nổ ra cuộc đấu tranh của Phật Giáo thì hầu như các đại học, trung học đều đóng của hoặc tự động bãi khóa.
10/11/2010(Xem: 11876)
Hoà Thượng thế danh Diệp Quang Tiền, pháp danh Tâm Khai, tự Thiện Giác, hiệu Trí Ấn Nhật Liên. Ngài sanh ngày 13 tháng 10 năm Quý Hợi (1923) tại thôn Xuân Yên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân phụ là cụ Diệp Chí Hoan; thân mẫu là cụ bà Phan Thị Đường. Hai cụ sinh hạ được 5 người con : 4 nam, 1 nữ - Ngài là con thứ trong gia đình, sau anh trưởng là Thầy Diệp Tôn (Thích Thiện Liên). Năm lên 6 tuổi (1928) gia đình Ngài dời về thôn Diên Sanh, xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thân sinh Ngài đã rước thầy Đồ Nho danh tiếng về nhà để dạy chữ Hán cho hai con. Hai anh em Ngài thường được cụ Đồ khen là thông minh, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp. Năm lên 10 tuổi (1932), Ngài theo học Việt Văn tại thôn Diên Sanh.
02/11/2010(Xem: 11510)
Thành kính khẩn bạch đến chư Tôn Đức Tăng Già của quý Giáo Hội, quý Tự Viện, quý tổ chức Phật Giáo cùng toàn thể chư vị thiện nam tín nữ Phật tử: Đại Lão Hòa Thượng thượng Huyền, hạ Ấn, thế danh Hoàng Không Uẩn, sinh năm 1928 tại Quảng Bình, Việt Nam
01/11/2010(Xem: 17978)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
01/11/2010(Xem: 49641)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
29/10/2010(Xem: 10340)
Kể từ khi vết tích của chùa Thiên Mụ được ghi lại đơn sơ trong sách Ô Châu Cận Lục vào năm 1553 (1), chùa đã tồn tại gần 450 năm cho đến ngày nay. Trải qua bao nhiêu cuộc bể dâu, chùa vẫn giữ được địa vị và vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống đạo và đời của dân Huế, nói riêng, và của dân cả nước, nói chung. Qua đầu thế kỷ 17, chùa đã thực sự đi vào lịch sử sau khi Nguyễn Hoàng vào xứ đàng trong để gây dựng cơ nghiệp đế vương với huyền thoại “bà tiên mặc áo đỏ” (9).