Cảm niệm Ân Sư (T. Tịnh Phước)

19/11/201308:00(Xem: 20968)
Cảm niệm Ân Sư (T. Tịnh Phước)
Le_Bach_Nhat_On_Minh_Tam (1)



Cảm Niệm Ân Sư



Kính bạch chư tôn Hòa thượng, chư Thượng tọa, chư Ni trưởng, Ni sư, chư tôn Đại đức tăng, Đại đức ni!
Kính thưa quý thiện hữu, nhân sĩ trí thức.
Chỉ còn vài giờ đồng hồ nữa thôi là huyễn thân tứ đại của Thầy chúng con sẽ chỉ còn ” ray rứt bụi tro bay ”! Trong khoảnh khắc ngắn ngủi còn lại này, xin phép quý Ngài cho chúng con có vài lời hoài niệm về Thầy của chúng con!



Kính bạch Giác linh Thầy!
Than Ôi!
Nhà thiền Khánh Anh từ đây vắng bóng
Giáo hội Âu châu mãi mãi bặt âm.
Đèn thiền xao gió.
Trăng giới lờ mây!
Nét bước tượng vương nơi cửa Pháp, trước mắt mơ màng;
Tiếng kêu sư tử lối rừng Thìền, bên tai văng vẳng.
Chúng con dẫu biết, sắc tướng huyễn hư, sương mai, điện chớp, cây bờ, mộng mị;
Nhưng ngặt vì nỗi, Thầy trò nghĩa nặng, dù trời Tứ không mà vẫn còn khóc cảnh Song lâm!
Đức hạnh của Thầy:
Gương sáng trong ngần, sóng tình lặn bặt
Sớm rời cửa tục, xuất gia thuở tuổi còn xanh.
Sâu tỏ màu thiền, giảng sư, Hiệu trưởng khi vừa Cụ túc.
Xuất dương du học, phát túc siêu phương
Âu châu hoằng pháp, chấn nhiếp ma quân.
Buộc ràng sáu ngựa, chơi nhởi ba xe
Trăm nét vuông tròn, một niềm trong sạch
Mảnh chơn tướng dễ lờ nước thủy,
Điểm không hoa chẳng dính bụi trần.
Chúng con mừng cho thân phận chúng con
May đặng gặp Thầy, theo mà học đạo
Trừ tội chướng một dao xuống tóc
Phủ phước điền ba lớp truyền y.
Đạo đức say sưa, Thầy trò hủ hỉ
Lý kinh, nghĩa luật,
Giọng pháp âm hằng bữa lọt vào tai.
Đức của Thầy như thế.
Danh của Thầy như thế.
Cũng ngỡ rằng:
Cái gót tùy duyên chưa vội trở,
Bánh xe cửu trụ hãy còn ngừng,
Nào hay đâu:
Gậy tích xa bay,
Đường huyền sớm tách,
Chiếc dép hữu tình rơi lại đó
Con thuyền vô để ngự đi đâu?
Có lẽ giờ này.
Chín phẩm sen vàng, Thầy an vui trên miền thất bảo
Một vành trăng bạc, trò ngẩn ngơ vừa lúc tam đông!
Cảnh tình này, sâu dài tưởng ngắn.
Ôi, thôi thôi!
Tấm áo ca sa sương lạnh ngắt
Cành hoa Bát nhã gió buồn thiu!
Khi nào, Thầy thăng tọa, trò niêm chùy, lắm lúc sum vầy nơi pháp hội.
Bây giờ: trò Ta bà, Thầy Cực lạc, xiết bao sùi sụt suy tư!
Ôi thôi! sữa pháp mất rồi,
Lòng con đói mãi.
Biết cậy ai, ngày la đêm nhắc
Biết nương ai, sớm dắt tối dìu
Biết hỏi ai mở trí nguyên thần,
Biết nhờ ai nuôi thân huệ mạng?
Lơ láo một mình nơi tha hương
Đớn đau buồn vì sự mất cha
Đi về ngàn dặm lối tha phương
Thẩn thơ nghĩa, mong chừng gặp mẹ.
Phận con ngậm ngùi nhớ mãi
Duyên gặp Thầy trong khóa tu học Phật pháp Khánh Anh lần thứ hai
Ai ngờ đâu mùi thiền xông ướp, một bước xuất gia, lạy Thầy tế độ
Đấng phụ thân có lần tỏ lộ thiên cơ
Rằng bổn sư con vốn cốt cách xuất trần Đại sĩ
Con còn nhớ:
Năm mười ba tuổi lạy Đức Quán Âm xin làm đệ tử
Khi xuất gia, phụ thân mộng thấy Quán Âm đến nhà.
Ba năm làm Sa-di biết bao chướng duyên ngăn trở
Vẫn một lòng đảnh lễ Quán Thế Âm,
Thầy liền đến ban vài lời pháp nhũ
Mọi chướng duyên ngăn trở đều tiêu tan.
Rồi trên đường hoằng pháp mở mang
Dẫu khó khăn, sóng gió muôn vàn
Nhưng hễ làm việc gì mà Thầy hoan hỷ
Thì y như rằng sóng gió bặt tăm.
Kính lạy giác linh Thầy!
Tận trong sâu thẳm tâm con
Thầy là hóa thân của Bồ tát Quán Thế Âm!
Giờ này,
Hương ngũ phần ba cây
Nước bát công một chén.
Cơm hương tích dám khoe mùi thượng vị,
Rau Tào khê kính biếu dạ thâm tình
Trước đài sen ngước mặt dâng lên,
Dưới chiếu cỏ cúi đầu lạy xuống.
Xin thầy chứng giám,
Cho chút lòng con
Một bức ai văn
Hòa nam bái bạch!
Kính lạy giác linh Thầy!


Thích Tịnh Phước thay lời chúng xuất gia, đọc trước kim quan Hòa Thượng Bổn Sư Thích Minh Tâm vào đêm 20 tháng 8 năm 2013 nhằm ngày 14 tháng 7 âm lịch năm Qúy Tỵ

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
15/11/2010(Xem: 10407)
Vào ngày 1-11-1963 khi quân đội đứng lên làm cuộc đảo chánh lật đổ chế độ của gia đình Ô. Ngô Đình Diệm - mà Hội Đồng Quân Dân Cách Mạng do Đại Tướng Dương Văn Minh cầm đầu gọi đó là cuộc “Cách Mạng” thì tôi là cậu sinh viên Luật Khoa Năm Thứ Nhất, chuẩn bị thi lên Năm Thứ Hai của Đại Học Luật Khoa Sài Gòn. Bố tôi sính đọc sách báo, vả lại gia đình cư ngụ ở xóm lao động cho nên Radio hàng xóm mở ầm ầm cả ngày khiến dù không muốn nghe nhưng cũng phải nghe tin tức từng giờ của đài phát thanh. Hơn thế nữa khi Sài Gòn nổ ra cuộc đấu tranh của Phật Giáo thì hầu như các đại học, trung học đều đóng của hoặc tự động bãi khóa.
10/11/2010(Xem: 11173)
Hoà Thượng thế danh Diệp Quang Tiền, pháp danh Tâm Khai, tự Thiện Giác, hiệu Trí Ấn Nhật Liên. Ngài sanh ngày 13 tháng 10 năm Quý Hợi (1923) tại thôn Xuân Yên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân phụ là cụ Diệp Chí Hoan; thân mẫu là cụ bà Phan Thị Đường. Hai cụ sinh hạ được 5 người con : 4 nam, 1 nữ - Ngài là con thứ trong gia đình, sau anh trưởng là Thầy Diệp Tôn (Thích Thiện Liên). Năm lên 6 tuổi (1928) gia đình Ngài dời về thôn Diên Sanh, xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thân sinh Ngài đã rước thầy Đồ Nho danh tiếng về nhà để dạy chữ Hán cho hai con. Hai anh em Ngài thường được cụ Đồ khen là thông minh, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp. Năm lên 10 tuổi (1932), Ngài theo học Việt Văn tại thôn Diên Sanh.
02/11/2010(Xem: 10523)
Thành kính khẩn bạch đến chư Tôn Đức Tăng Già của quý Giáo Hội, quý Tự Viện, quý tổ chức Phật Giáo cùng toàn thể chư vị thiện nam tín nữ Phật tử: Đại Lão Hòa Thượng thượng Huyền, hạ Ấn, thế danh Hoàng Không Uẩn, sinh năm 1928 tại Quảng Bình, Việt Nam
01/11/2010(Xem: 15345)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
01/11/2010(Xem: 46642)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
29/10/2010(Xem: 9903)
Kể từ khi vết tích của chùa Thiên Mụ được ghi lại đơn sơ trong sách Ô Châu Cận Lục vào năm 1553 (1), chùa đã tồn tại gần 450 năm cho đến ngày nay. Trải qua bao nhiêu cuộc bể dâu, chùa vẫn giữ được địa vị và vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống đạo và đời của dân Huế, nói riêng, và của dân cả nước, nói chung. Qua đầu thế kỷ 17, chùa đã thực sự đi vào lịch sử sau khi Nguyễn Hoàng vào xứ đàng trong để gây dựng cơ nghiệp đế vương với huyền thoại “bà tiên mặc áo đỏ” (9).
23/10/2010(Xem: 8384)
Trong Cây Có Hoa Trong Đá Có Lửa Kính Dâng Hòa Thượng Thích Như Điển nhân dịp mừng thọ 70 tuổi của Ngài và kỷ niệm 40 năm khai sơn Chùa Viên Giác tại Đức Quốc Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng “Trong Cây Có Hoa, Trong Đá Có Lửa” là lời pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên do Hòa Thượng Thích Như Điển nhắc lại trong thời giảng Pháp của Ngài mà tôi đã nghe được khi theo hầu Ngài trong chuyến đi Hoằng Pháp tại Hoa Kỳ năm 2006. Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen) là người Nhật, Ngài sinh năm 1200 và tịch năm 1253, thọ 53 tuổi. Ngài là Sáng Tổ của của Soto-Zen (Thiền Tào Động) của Nhật Bản, và là tác giả bộ sách nổi tiếng “Chánh Pháp Nhãn Tạng” “Ki no naka ni, hana ga aru (Trong cây có hoa), Ishi no naka ni, hi ga aru (Trong đá có lửa)” Đó là pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen), được Hòa Thượng Như Điển dịch sang lời Việt. Lời thơ quá tuyệt vời, tuy ngắn gọn nhưng dung chứa cả một kho tàng giáo lý về Nhân Duyên Quả của Đạo Phật.
23/10/2010(Xem: 8531)
Trong mười thế kỷ phong kiến Việt Nam, Trần Nhân Tông là một trong những ông vua giỏi và tài hoa bậc nhất. Lịch sử đã xem ông là “vị vua hiền” đời Trần, có công lớn trong sự nghiệp trùng hưng đất nước. Văn học sẽ nhớ mãi ông bởi những vần thơ thanh nhã, sâu sắc và không kém hào hùng.
23/10/2010(Xem: 8452)
Về sự nghiệp của vua Trần Nhân Tông, đã có rất nhiều tài liệu và bài viết về hai lần lãnh đạo quân dân nước ta đánh thắng giặc Mông - Nguyên, trị quốc an dân, đối ngoại và mở cõi, nên ở đây chúng tôi không lặp lại nữa, mà chỉ đề cập đôi nét đến nội dung khác về: Trần Nhân Tông - một hoàng đế xuất gia, một thiền sư đắc đạo và là sơ tổ lập nên dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử độc đáo của Việt Nam.
23/10/2010(Xem: 8294)
Hội Phật Học Nam Việt được thành lập vào năm 1950 tại Sài Gòn do sự vận động của cư sĩ Mai Thọ Truyền. Ban đầu, hội đặt trụ sở tại chùa Khánh Hưng, và sau đó ít lâu, tại chùa Phước Hòa. Bác sĩ Nguyễn Văn Khỏe, một cây cột trụ của hội Lưỡng Xuyên Phật Học cũ đảm nhận trách vụ hội trưởng. Ông Mai Thọ Truyền giữ trách vụ tổng thư ký. Các thiền sư Quảng Minh và Nhật Liên đã triệt để ủng hộ cho việc tổ chức hội Phật Học Nam Việt. Thiền sư Quảng Minh được bầu làm hội trưởng của hội bắt đầu từ năm 1952. Năm 1955, sau khi thiền sư Quảng Minh đi Nhật du học, ông Mai Thọ Truyền giữ chức vụ hội trưởng. Chức vụ này ông giữ cho đến năm 1973, khi ông mất. Hội Phật Học Nam Việt được thành lập do nghị định của Thủ Hiến Nam Việt ký ngày 19.9.1950. Bản tuyên cáo của hội có nói đến nguyện vọng thống nhất các đoàn thể Phật giáo trong nước. Bản tuyên cáo viết: "Đề xướng việc lập hội Phật học này. Chúng tôi còn có cái thâm ý đi đến chỗ Bắc Trung Nam sẽ bắt tay trên nguyên tắc cũng như trong hành động. Sự