Hòa Thượng Thích Giác Thông

09/09/201416:21(Xem: 16435)
Hòa Thượng Thích Giác Thông

 HT Thich Giac Thong (3)

 

CUNG TUYÊN TIỂU SỬ

HÒA THƯỢNG THÍCH GIÁC THÔNG

Trụ Trì Tịnh Xá Ngọc Thạnh - Tây Ninh

 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

1. THÂN THẾ:

Hòa Thượng Thích Giác Thông, tục danh Đổ Văn Bé, sinh ngày 18 tháng 2 năm 1939 tại Mỹ Hòa Hưng, Huyện Châu Thành, An Giang, Long Xuyên. Trong một gia đình thâm tín Phật Giáo.

Thân Phụ là Cụ Ông Đổ Nhựt Thăng, Thân Mẫu là Cụ Bà Nguyễn Thị Khiên, Hòa Thuợng là người anh cả trong số 6 anh em ( 3 trai, 3 gái ), được nuôi dưỡng trong một gia đình nông dân hiền lành, có truyền thống đạo đức, nên từ nhỏ Hòa Thượng đã là người sớm có tư chất hiền lương, có tâm thương người mến vật, là con có hiếu với ông bà cha mẹ.

2. ĐẠO NGHIỆP:

Vốn có túc duyên với Phật Pháp, năm 26 tuổi vào ngày mùng 6 tháng 2 năm 1965, được sự đồng ý của song thân, Ngài được Bổn Sư là Hòa Thượng Thích Giác Giới tế độ thế phát xuất gia, theo Thầy học đạo tại Tịnh Xá Ngọc Viên, Phường 2, Thành Phố Vĩnh Long, Tỉnh Vĩnh Long.

Sáu tháng sau, ngày 22 tháng 8 năm 1965, thọ Sa Di giới tại Tịnh Xá Ngọc Viên, Vĩnh Long.

Rồi lần lượt 9 năm tu học với đạo tâm bất thối, phát túc siêu phương, dưới sự dìu dắt của Bổn Sư, trong tinh thần sống chung tu học, đến ngày 15 tháng 7 năm 1974, Ngài được thọ Tỳ Kheo giới tại Tịnh Xá Ngọc Liên, Bạc Liêu.

3. HÀNH ĐẠO GIÁO HOÁ:

Từ tháng 7 năm 1976, Hòa Thượng lãnh trách nhiệm Trụ Trì Tịnh Xá Ngọc Đồng, Huyện Gò Công Tây, Tỉnh Tiền Giang.

Vào tháng 9 năm 1991 cho đến ngày viên tịch hôm nay, Hòa Thượng được sự phân công của Giáo Đoàn, Hòa Thượng tiếp tục lãnh trách Trụ Trì Tịnh Xá Ngọc Thạnh, Tây Ninh.

 

Đối với công đức của Hòa Thượng đã hiến dâng trọn đời cho Đạo Pháp và Chúng Sanh, những tưởng trên bước đường phục vụ Hòa Thượng còn đóng góp nhiều hơn thế nữa, để cùng Chư Tôn Đức lãnh đạo Giáo Đoàn, cùng chư Huynh đệ vui buồn có nhau, làm hải đăng định hướng cho Phật Tử dõi buớc nói theo, làm bóng cây che mát Phật Tử giữa trời nắng hạ trên đường về bên giác. Nào ngờ đâu, một phút vô thường, huyễn thân tạm xả, ta bà hoá mãn, tịnh độ khai hoa. Nên Hòa Thượng đã thuận lý vô thường, thâu thần thị tich vào lúc 18 giờ 15 phút ngày 21 tháng 7 âm lịch năm Giáp Ngọ 2014, trụ thế 76 năm, xuất gia 49 năm, hạ lạp 40 năm. Thế là đến đây Hòa Thượng từ bỏ huyễn thân, trở về thế giới Niết Bàn vô sanh bất diệt. Quả thật:

"Sắc tướng vốn không, mượn cảnh huyễn độ người như huyễn.

Tử sinh nào có, nương thuyền từ độ kẻ trong mê".

Thế là Hòa Thượng sau 76 năm hiện hữu nơi cõi ta bà, 49 năm gởi thân vào chốn Thiền môn, 40 năm An Cư Kiết Hạ, và nhất là từ tháng 9 năm 1991 đến nay, trải qua 23 năm dài mang trên vai bao việc Phật sự nơi Tịnh Xá Ngọc Thạnh, mặc dù chí nguyện chưa thành, nhưng Hòa Thượng đã vội ra đi. Song công đức của Hòa Thượng đối với đạo pháp, Giáo Hội, Giáo Đoàn vẫn sống mãi trong tâm trí mọi người.

 
HT Thich Giac Thong (6)

Tưởng Nhớ Sư Phụ

Trước cốc Sư con quì niệm Phật

Sư Phụ còn tâm nguyện chưa thành

Mặt bằng Tịnh Xá chưa đắp xong nền đất

Phật rước Sư về khi Tịnh Xá chưa hoàn thành.

 

Con quý tiếc thời gian dài Sư đã đợi

Thuyền cập bờ mong đón khách qua sông

Được mấy người cùng thuyền về đất Tổ

Sư Phụ độ thế nào con vẫn mải u mê.

 

Sáng nay về Tịnh Xá người đông mà con thấy vắng

Bóng vị Thầy đức trọng thanh cao

Ơn giáo dưỡng con nhớ lời Sư đã dạy

Đáp nghĩa Ân Sư câu niệm Phật đừng quên.

 

Lần cuối cùng Sư giảng Pháp

Con lặng nhìn Sư Phụ sắc đổi thay

Mắt trũng sâu, da tái, người đã gầy

Lời giảng Pháp thăng trầm như hụt hẫng.

 

Sư bảo oan gia nghiệp chướng nhiều đời đã tạo

Phải sẵn sàng trả nợ từ xưa

Sư nói với đạo tràng Sư nhức đầu nhiều lắm!

Bác sĩ bảo Sư nhổ răng chạm thần kinh.

 

Con yên tâm nghĩ rằng Sư sớm khỏe

Nặng gì đâu? chỉ nhổ mấy cây răng

Khối u nghiệp chướng nằm nghiệt ngã

Sự thật đau lòng lệ rát tâm con.

 

Bận việc gia đình con ít về Tịnh Xá

Nhưng vẫn luôn thăm hỏi về Sư

Dù ra sao với ít nhiều công đức

Con nguyện hồi hướng cho Sư trả nghiệp nhẹ nhàng hơn.

 

Con khoanh tay, lặng nhìn bức tranh có hình Sư bên cốc

Với y vàng, chân đất, giản đơn

Tướng hảo uy nghi mà cởi mở

Gần thật gần, xa cũng thật xa!

Sư Phụ ơi! vậy là...sao con chấp nhận!

Nổi nào bằng ... Vĩnh biệt thiên thu.

 

Thế cũng xong một đời người

Một đời người tuy ngắn nhưng dài lợi ích

Cho chúng con có được pháp tu

Sư là đuốc tri huệ soi đường con bước

"Các con ơi! luôn niệm Phật A  Di Đà ".

 

Thế cũng xong một đời người

Một đời người lắm đổi thay

Lúc đau, lúc khỏe như thời tiết

Có gì đâu cái sự đời!.

 

Sư đã bao phen vì thế sự

Đủ những lời nặng nhẹ thị phi

Có nổi oan nào bằng Oan Âm Thị Kính

Trời trong mưa tạnh lộ quang minh

 

Sư Phụ một đời tu khổ hạnh

Có cần chi chùa lớn với cốc xinh

Đã không màng danh lợi từ lúc trẻ

Đôi chân trần hoằng pháp độ chúng sanh.

Hương Lưu.

Mùa Vu Lan 2014.

 

HT Thich Giac Thong (1)HT Thich Giac Thong (2)HT Thich Giac Thong (3)HT Thich Giac Thong (4)
HT Thich Giac Thong (5)HT Thich Giac Thong (6)HT Thich Giac Thong (7)HT Thich Giac Thong (8)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
26/04/2012(Xem: 24334)
Mùa Phật Đản 1963, có máu, lửa, nước mắt và xương thịt của vô số người con Phật ngã xuống. Nhưng từ trong đó lại bùng lên ngọn lửa Bi Hùng Lực của Bồ Tát Thích Quảng Đức
20/04/2012(Xem: 13009)
Hòa thượng Thích Thiên Ân, thế danh Đoàn Văn An, sinh ngày 22 tháng 9 năm Ất Sửu 1925, tại làng An Truyền, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Thân phụ của Ngài là Đoàn Mễ, sau xuất gia là Thượng tọa Thích Tiêu Diêu một bậc tử đạo Vị pháp thiêu thân, thân mẫu là một tín nữ chuyên lo công quả ở chùa Báo Quốc và tu viện Quảng Hương Già Lam, Ngài là con trai thứ trong một gia đình có 4 anh em. Ngài xuất thân trong một gia đình thế gia vọng tộc, có truyền thống kính tin Phật pháp lâu đời. Nhờ duyên gần gũi Tam bảo từ thuở nhỏ, Ngài đã sớm mến cảnh thiền môn với tiếng kệ câu kinh, nên năm lên 10 tuổi (1935), Ngài theo bước phụ thân xin xuất gia đầu Phật tại chùa Báo Quốc, làm đệ tử của Hòa thượng Phước Hậu, được Bổn sư ban pháp danh là Thiên Ân, Ngài tinh tấn chấp tác, học tập thiền môn qui tắc, hầu cận sư trưởng. Năm Tân Tỵ 1941, khi được 16 tuổi, Ngài được Bổn sư cho thọ giới Sa di tại giới đàn chùa Quốc Ân – Huế, do Hòa thượng Đắc Quang làm Đường đầu truyền giới.
08/04/2012(Xem: 8471)
Hòa thượng thế danh Đoàn Thảo, sinh ngày 10 tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1909), niên hiệu Duy Tân năm thứ 3 trong một gia đình nhiều đời theo Phật tại xứ Đồng Nà, tổng Phú Triêm Hạ, xã Thanh Hà, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (Nay là thôn Đồng Nà, xã Cẩm Hà, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam). Thân phụ là cụ ông Đoàn Văn Nhơn pháp danh Chơn Quang, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Có. Gia đình Ngài gần chùa Vạn Đức, lại thêm cụ thân sinh là tín đồ thuần thành của chùa, nên từ thuở nhỏ, Ngài thường theo cha đến chùa hàng đêm tụng kinh niệm Phật. Từ đó, chủng tử Bồ Đề lớn dần trong tâm và Ngài tỏ ra những biểu hiện rất có căn duyên với cửa Không môn của nhà Phật.
31/03/2012(Xem: 9437)
Hòa thượng thế danh Dương Đức Thanh, tự Liễu, pháp danh Như Nhàn, tự Giải Lạc, hiệu Trí Giác, nối pháp đời thứ 41 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 8 pháp phái Chúc Thánh. Ngài sinh năm Ất Mão (1915) tại làng Cẩm Văn, huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam, trong một gia đình nhiều đời kính tín Tam Bảo. Thân phụ là cụ ông Dương Đức Giới pháp danh Chương Đồ, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Phụng pháp danh Chơn Loan. Năm lên 3 tuổi, thân phụ Ngài qua đời, thân mẫu tảo tần nuôi con và cho Ngài theo học chữ Nho với các cụ đồ trong làng, được 5 năm mới chuyển sang học Việt văn.
23/03/2012(Xem: 8642)
Đức Đại Lão Hòa Thượng Chánh Thư Ký Xử Lý Viện Tăng Thống GHPGVNTN là thế hệ thứ 8 của phái Thiền Thiệt Diệu Liễu Quán, Pháp danh Trừng Nguyên, Hiệu Đôn Hậu. Xuất gia và thọ cụ túc với Hòa Thượng Bổn sư là Tổ Tâm Tịnh, khai sơn chùa Tây Thiên Huế, sau các Pháp huynh là quý Hòa Thượng Giác Nguyên, Giác Viên, Giác Tiên, Giác Nhiên...
21/03/2012(Xem: 9019)
Hòa Thượng Thích Trí Thủ là vị Thầy của nhiều thế hệ học tăng của các Phật học viện Báo Quốc Huế, Phổ Đà - Đà Nẵng, Hải Đức - Nha Trang, Quảng Hương Già Lam - Sài Gòn. Cuộc đời của Ngài phần nhiều cống hiến cho việc đào tạo tăng tài và sự nghiệp hoằng pháp cho Đạo Phật Việt Nam hơn là những lãnh vực phật sự khác.
10/03/2012(Xem: 10027)
Hòa thượng thế danh Dương Văn Y, sinh ngày 23 tháng Chạp năm Tân Tị (1881), nhằm vào năm thứ 33 đời vua Tự Đức triều Nguyễn tại xã Bình An, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Do túc duyên nhiều đời nên Ngài sinh vào gia đình chánh tín Tam Bảo. Thân phụ là Cụ ông Dương Thi An, pháp danh Chương Thái, hiệu Quảng Liên và Thân mẫu là Cụ bà Đỗ Thị Toại. Tuổi đồng ấu, Hòa thượng có tướng mạo rất đoan nghiêm, thông minh khác chúng. Lên 10 tuổi, Ngài có ý định xuất gia nên song thân đưa Ngài đến chùa Hội Phước tại xã Thanh Chiêm, huyện Điện Bàn, Quảng Nam để tu học với Hòa thượng Như Lý-Hoằng Khâm.
10/03/2012(Xem: 9781)
Thời gian trôi nhanh như bóng câu qua cửa sổ! Mới hôm nào mà Hòathượng Thích Trí Thủ đã tiễn chân tôi ra sân bay đi Hà Nội để giảng cho trường Cao cấp Phật học tại chùa QuánSứ, mà bây giờ đã gần đến ngày giỗ đầu của Hòa Thượng.
09/03/2012(Xem: 23741)
Tăng bảo, nương vào phần tự giác của pháp làm cơ sở để kiến lập xã hội hòa bình, nhân gian Tịnh độ... Thích Đồng Bổn
02/03/2012(Xem: 7668)
Hòa thượng thế danh Trần Văn Chín, sinh năm Canh Ngọ (1930) tại làng Ái Nghĩa, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Thân phụ là cụ ông Trần Văn Hoàng pháp danh Chơn Tấn và thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Chung (khi Ngài viên tịch thì song thân vẫn còn tại thế). Sinh ra trong một gia đình có truyền thống Phật giáo nên Ngài sớm có ý chí thoát tục tu đạo. Lúc lên 12 tuổi, Ngài đến chùa Phổ Khánh trong làng và tỏ ra quyến luyến không muốn về. Nhưng vì là con trai duy nhất trong gia đình nên Ngài phải trở về nhà lo bổn phận môn đăng định tỉnh.