Sư Ông của chúng con (TN.Như Viên)

28/08/201307:02(Xem: 24108)
Sư Ông của chúng con (TN.Như Viên)

khoatu_auchau_7



SƯ ÔNG CỦA CHÚNG CON


Thích Nữ Như Viên
Do Quảng An diễn đọc



Một bài viết không đong đầy, không chuyên chở hết những nỗi niềm cảm xúc bàng hoàng, những tiếc nuối, những nhớ thương khôn nguôi trong lòng của chúng con - hàng xuất gia và Phật tử tại gia khắp nơi khi hay tin từ đất nước xa xôi Phần Lan đưa lại là Sư Ông Khánh Anh đã viên tịch.

Sự viên tịch của Sư Ông sao mau lẹ thế. Chúng con nghe tin mà như không tin là sự thật. Mới đó mà, nơi khóa học Sư Ông còn ngồi khai thị giảng dạy. Bóng dáng Sư Ông còn đứng trước sân trường cùng H.Thượng Thái Siêu trả lời phỏng vấn của đạo hữu Bích Xuân. Tướng hiện nào cho thấy là Sư Ông sẽ từ giã cõi đời nầy, từ giã bao nhiêu Pháp lữ, bao nhiêu người thân thương để đi về chốn khác? Sư Ông ra đi lặng lẽ, lặng lẽ đến nỗi mà người chăm sóc gần gũi nhất bên cạnh Sư Ông cũng không hay biết.

Chúng con buồn quá! Nhìn di ảnh của Sư Ông, Kim Quan của Sư Ông, lễ tang của Sư Ông với bao hàng Tôn Túc Chư Tăng Ni Phật tử từ khắp châu lục hội tụ về chùa Khánh Anh mới tham dự, tiễn đưa Sư Ông. Nghi thức nghi lễ đủ đầy, để rồi cũng đến giờ phút cuối Di quan kim tống Giác linh Sư Ông đến nơi trà tỳ. Những chiếc xe hoa màu vàng rực rỡ, những chiếc xe trắng chở Chư Tôn Đức trưởng lão, những chiếc xe bus lớn chở Chư Tăng Ni và Phật tử, đặc biệt được sự yểm trợ của đội cảnh sát thành phố hộ tống dọc theo đoàn xe tang và chặn những ngã đường để đoàn xe tang đi suốt không bị trở ngại. Đến nơi trà tỳ, mọi trang trí đã được chuẩn bị, hàng Phật tử đã có mặt đông đủ đứng đọc hai bên để cung đón Kim quan và Chư Tôn Đức Tăng Ni. Khi an vị tất cả, những lời kinh, những âm thanh phúng tụng trầm bổng vang lên… Sắp sửa rồi ! Giờ phút cuối đã đến, Kim quan của Sư Ông từ từ được đưa vào cửa lò thiêu. Ôi! Thân hình của Sư Ông mới đó mà chỉ vài phút nữa sẽ trở thành tro bụi. Bản nhạc ‘Trở về cát bụi‘ của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đang vang dội trong tâm chúng con khi nhìn khung ảnh chiếu phim đưa Kim quan của Sư Ông vào hỏa táng. Nhìn để mà khóc, để mà xót xa, để mà nhớ thương, để mà bùi ngùi những giọt lệ ngắn dài … đến lúc không thể ngồi đó chứng kiến nỗi xót xa, chư Tôn Đức Tăng Ni đành ngăn ngấn lệ rời hàng ghế để ra bên ngoài với gió trời khuây khỏa.

Sự ra đi của Sư Ông để lại bao nỗi ngỗn ngang, ngỗn ngang của Giáo Hội chung của các châu, riêng của Giáo Hội Âu châu và riêng nữa của ngôi chùa Khánh Anh mới còn đang dang dỡ. Ai đỡ đần thay thế, ai lo toan ngôi phạm vũ huy hoàng Khánh Anh trong giai đoạn chót đang chờ Lễ Khánh Thành - chấm dứt một công trình gần hai mươi năm xây dựng? Một cái tang quá lớn cho mọi người con Phật đã từng gặp gỡ quen biết và nhìn thấy những hình ảnh của Sư Ông qua những chặn đường Phật sự Sư Ông đã đi qua. Hôm nay và mãi mãi về sau hình ảnh của Sư Ông vẫn còn đó trong lòng của chúng con. Mỗi chùa, mỗi chùa đều thờ di ảnh của Sư Ông, sự hiện diện đó làm sao chúng con quên bóng dáng Sư Ông được.
ban_tin_khanh_anh_96Riêng con, thích nhất là mỗi lần nhận được bản tin Khánh Anh để được đọc những dòng tin Sư Ông báo cho mọi người biết chi tiết công trình xây dựng chùa Khánh Anh mới đang vào giai đoạn nào. Lối viết văn của Sư Ông thật nhẹ nhàng, dí dỏm. Con nghĩ ai đọc cũng thấy vui hơn là khắc khoải. Sau khi nghe tin Sư Ông viên tịch con liền nghĩ thế nào con cũng phải gom hết những bài viết của Sư Ông về công trình xây dựng ngôi chùa mới Khánh Anh đăng trong bản tin Khánh Anh để trước nhất là xin được đăng nơi báo Viên Gíác dài hạn, đăng trên trang nhà điện tử Viên Giác và sưu tập lại thành một tập để lâu lâu đem ra xem mà cảm thấy vui và nhớ đến Sư Ông - một người viết văn thật dễ thương dí dỏm. Nhưng tình cờ con đọc bài viết của Thầy Nguyên Tạng cũng cùng ý như con, nên con nghĩ đã có Thầy Nguyên Tạng làm việc nầy rồi, con chỉ việc sưu tập những bản tin Khánh Anh có bài viết của Sư Ông để lại một chỗ thỉnh thoảng lấy ra đọc để cảm nhận chút dư hương của Sư Ông còn đọng lại, khơi nơi con một tình người sâu sắc, một vị Thầy khả kính dẫn dắt chúng con trên bước đường tu học nơi tha hương hải ngoại nầy.

Dấu ấn thật đậm sâu giữa bao người của Sư Ông và hàng Pháp lữ, Phật tử nơi hải ngoại nầy con nghĩ không bao giờ rời tan. Chỉ mong Sư Ông gia hộ độ trì và sớm hồi nhập Ta Bà để tiếp nối con đường hoằng hoá độ sanh mà Sư Ông đã và đang dấn thân xây dựng. Và ngôi đại tự Khánh Anh sừng sững giữa trời mây Paris - Evry đẹp đẽ rạng ngời cho bao người hữu duyên với giáo pháp của Đức Như Lai sống động nhiệm mầu. Mong Sư Ông về lại với chúng con một ngày không xa… người người đang mong nhớ đợi chờ !!!

Thành kính trước Giác linh Sư Ông.

Con Tỳ Kheo Ni Thích Nữ Như Viên chấp tay bái lạy.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19/02/2013(Xem: 11444)
Mới đây các nhà khảo cổ Mỹ và Canada đưa ra chứng cứ cho rằng Phật giáo đã được truyền vào Mỹ trước khi ông Columbus tìm ra châu Mỹ. Tuy nhiên, theo các tài liệu có được hiện nay thì Phật giáo chỉ thật sự có mặt tại Mỹ sau kỳ Đại hội Tôn giáo Thế giới tổ chức tại bang Chicago vào năm 1893. Nhưng ai là người có công truyền bá và làm lớn mạnh "hạt giống Bồ đề" trên đất Mỹ? Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu một số nhà sư cư sĩ người châu Á, những người tiên phong có công đặt nền móng xây dựng ngôi nhà chánh pháp trên đất Mỹ.
10/02/2013(Xem: 12737)
Từ những con người bình thường, không được sinh ra ở cung vàng điện ngọc, nhưng rồi trở thành những vị vua anh minh tài kiêm văn võ, tư tưởng và nhân cách cao siêu, mãi còn đọng lại với thời gian. Dù sống ở hoàng cung nhưng tâm lúc nào cũng vượt thoát, làm bậc đế vương nhưng hạnh vẫn là một sơn Tăng, ưa vui với gió nội mây ngàn, thở nhịp cùng đất trời nhân gian cây cỏ. Để rồi trở thành những người con Phật vĩ đại, trí tuệ và công hạnh thắm đượm cả không gian, thức tỉnh chúng ta trên bến bờ sinh tử của mê ngộ, đậm nét trong lòng người đến tận hôm nay. Bồ Tát Lương Võ Đế ( 463-549 ) của Trung Hoa và Trần Thái Tông ( 1218-1277) của Việt Nam, dù ở hai phương trời xa cách, sinh ra ở hai thời điểm khác nhau, nhưng cùng chung một tấm lòng, mang an lạc thịnh vượng đến cho nhân dân, và một hạnh nguyện chuyển hoá cứu độ quần sanh.
07/02/2013(Xem: 24133)
Nửa thế kỷ Tôn Sư vắng bóng, Ánh Đạo Vàng tỏa rộng muôn phương Hôm nay tổ chức huy hoàn Hằng năm kỷ niệm, đàn tràng tôn nghiêm. Môn đồ Tứ chúng ngưỡng chiêm,
06/02/2013(Xem: 10092)
Hòa thượng Bích Liên, thế danh là Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình (Thận Thần Thị), sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876), tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn, nay là ấp Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ngài sinh trưởng trong một gia đình nho học, được theo nghiệp bút nghiên từ nhỏ. Cha là Tú Tài Nguyễn Tự, mẹ là bà Lâm Thị Hòa Nghị . Năm 20 tuổi, Ngài lập gia đình với cô Lê Thị Hồng Kiều, người làng An Hòa, (nay thuộc xã Nhơn Khánh cùng huyện). Năm 31 tuổi, Ngài lều chõng vào trường thi Hương Bình Định và đỗ Tú Tài. Ba năm sau, Ngài lại đỗ Tú Tài lần nữa. Từ đó, biết mình long đong trên bước đường khoa bảng, Ngài giã từ lều chõng, ở nhà mở trường dạy học, mượn trăng thanh gió mát di dưỡng tính tình, lấy chén rượu câu thơ vui cùng tuế nguyệt.
03/02/2013(Xem: 8612)
Tuệ Sỹ là ai mà thơ hào sảng, hùng tâm tráng khí như thế ? Tuệ Sỹ quê Quảng Bình, sinh năm 1943, nhỏ hơn Phạm Công Thiện 2 tuổi, cũng là một bậc thiên tài xuất chúng, làu thông kinh điển Nguyên thủy, Đại thừa và nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hán, Phạn, Pali. Khi mới vừa 26 tuổi đã viết Triết học về Tánh Không làm chấn động giới văn nghệ sĩ, học giả, thiện tri thức Việt Nam thời bấy giờ.
20/01/2013(Xem: 8495)
Phạm Công Thiện(1/6/1941 - 8/3/2011), là một nhà văn, triết gia, học giả, thi sĩ và cư sĩ Phật Giáo người Việt Nam với pháp danh Thích Nguyên Tánh. Tuy nhận mình là nhà thơ và phủ nhận nghề triết gia, ông vẫn được coi là một triết gia thần đồng, một hiện tượng dị thường của Sài Gòn thập niên 60 và của Việt Nam với những tư tưởng ít người hiểu và được bộc phát từ hồi còn rất trẻ. Dưới đây là bài viết của Tâm Nhiên nhân sắp đến ngày giỗ của ông.
12/01/2013(Xem: 8389)
Đã có rất nhiều sách vở, bài viết hoặc với tính chất nghiên cứu, hoặc là các bài giảng phổ cập bàn về tông Thiên Thai và kinh Pháp Hoa. Bài viết này nói đến vai trò, vị trí của Đại sư Trí Khải và tông Thiên Thai trong lịch sử Phật giáo, cũng như trong nền văn hóa tư tưởng của toàn thể nhân loại. Đại sư Trí Khải sinh năm 538, vào thời đại mà sau này các sử gia gọi là Nam Bắc triều (220-589). Sông Dương Tử được lấy làm gianh giới phân chia giữa hai miền Nam và Bắc. Trong thiền sử, ta thường nghe nói đến câu Nam Năng (Huệ Năng)-Bắc Tú (Thần Tú), để phân biệt hai dòng thiền: Đại sư Thần Tú xiển dương Thiền tiệm ngộ ngay tại Trường An; Đại sư Huệ Năng phát triển Thiền đốn ngộ tại vùng Quảng Đông và lân cận. Bấy giờ Trung Hoa bị chia thành nhiều nước nhỏ, nước này xâm lăng và thôn tính nước kia, gây nên nhiều cuộc chiến tương tàn, dân chúng sống trong cảnh lầm than đau khổ.
07/01/2013(Xem: 9545)
Phần lớn độc giả biết nhiều đến các tiểu luận và các tập thơ phản chiến, nhưng ít người biết đến những bài thơ Thiền của Nhất Hạnh. Tôi xin trích một bài được nhà xuất bản Unicorn Press xuất bản trong tâp thơ Zen Poems của Nhất Hạnh vào năm 1976 (bản dịch Anh Ngữ) của Võ Đình. Bài này được in vào tuyển tập thơ nhạc họa vào mùa Phật Đản 1964
10/12/2012(Xem: 9857)
Cả cuộc đời 86 tuổi của Ngài Đội trời đạp đất, đã tròn chưa bản nguyện Kiếp tu hành 81 năm của Ngài Gánh vác hy sinh...
09/10/2012(Xem: 15025)
Thiền sư Lê Mạnh Thátcho rằng Vua Trần Nhân Tông là một nhân vật tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam nhất là vì tư tưởng hòa giải dân tộc của ông vẫn còn tính thời sự. Trả lời câu hỏi của BBC vì sao tư tưởng của Trần Nhân Tông (trị vì từ năm 1278-1293) và là Phật Hoàng, sáng lập ra phái thiền phái Trúc Lâm vẫn còn có tính thời sự đối với Việt Nam và cả quan hệ Mỹ - Việt cũng như Việt - Trung, Tiến sỹ Lê Mạnh Thát nói: