Điếu văn tưởng niệm (GH Úc Châu)

24/08/201317:47(Xem: 22336)
Điếu văn tưởng niệm (GH Úc Châu)
ThichMinhTam

ĐIẾU VĂN
của GHPGVNTN Hải Ngoại tại Úc Đại Lợi – Tân Tây Lan

tưởng niệm Hòa Thượng Thích Minh Tâm, Chủ tịch HĐĐHGHPGVNTN Âu Châu

Kính bạch giác linh Hòa Thượng,

Từ Úc Châu hướng về Pháp quốc

Thật vô vàn cảm xúc mến thương

Ngài Minh Tâm đãm đương Phật sự

Xã báo thân nguyện dự Tây Phương.

Chỉ còn thời gian ngắn ngủi trước khi cử hành lễ cung tống kim quang Hòa Thượng nhập bảo tháp trong khuôn viên đại tự Khánh Anh tại Evry, chúng tôi được mạn phép thay mặt Hội Đồng Giáo Phẩm, Hội Đồng Điều Hành GHPGVNTN Hải Ngoại tại Úc Đại Lợi – Tân Tây Lan, xin có lời tưởng niệm.

Nhớ giác linh xưa, sanh chốn quê nghèo Tuy Phong – Bình Thuận của miền Trung nước Việt, rồi trưởng thành học hành và theo ngành giáo dục; xuất gia từ thuở đồng chơn, vượt bao trở ngại chướng duyên của thời buổi khó khăn, xuất dương Nhật Bản du học cho tới khi hoàn tất bằng tự lực cánh sinh, như kẻ xuất trần khí tiết, chí quyết xông pha. Sống nơi đất Phù Tang, Ngài luôn tích cực phục vụ Giáo Hội quê nhà trong vai trò Chi Bộ Trưởng nhiệm kỳ đầu tiên (1968 – 1973); lại một lần nữa khi đất nước qua phân tìm đường di dân sang Pháp quốc. Dừng chân nơi đất khách xa lạ không ai quen thuộc, nhưng chí hướng sẵn sàng, tấm lòng vì đạo - đời thừa nung đúc, thiết lập đạo tràng Khánh Anh, mở rộng cửa KHÔNG, kết nạp những mảnh đời tỵ nạn rời rạc, bơ vơ mất điểm tựa tinh thần buổi ban đầu bằng các Hội Phật giáo tại khắp các quốc gia trong vùng Âu Châu.

Hòa thượng là mẫu người tận lực

Nơi nào cần sẵn sàng góp sức

Lễ Hội gọi tay nãi lên đường

Không nề khó kể chi sức vóc

Bấy nhiêu đó để người theo học

Hạnh lợi tha bảo học chu toàn

Tâm ngài vững chắc như kim cương

Giữ mối giềng làm gương đại chúng

Quả thật vậy,

Ngài là chất keo bền vững nối kết giữa Tăng Ni Phật tử, giữa đạo và đời đưa về một mối trong ánh đạo vàng từ bi, giải thoát; cương quyết miệt mài Phật sự cho tới giờ phút chót. Bậc nhẫn trí mọi chuyện thị phi đều gác để ngoài tai lo phần hành trọng trách, mặc người chỉ trích chê khen. Trong lúc Giáo Hội Phật Giáo VNTN Hải ngoại do nội ngoại chướng hầu như ngữa nghiêng rả tán, Hòa Thượng là động lực hàng đầu sẵn sàng chung vai thích cánh, đứng mũi chịu sào tìm phương án thích hợp để tự tồn. Nhờ đó năm 2008 thế liên châu có cơ vực dậy, pháp lữ huynh đệ tương trợ lẫn nhau; tổ chức lễ hiệp kỵ lịch đại Tổ sư thông qua ngày Về Nguồn lần thứ hai đến nay lần thứ bảy. Con thuyền Giáo Hội vừa tạm vững thì Ngài lại từ bỏ chúng tôi về Tây Phương diệu vợi.

Ôi thôi!

Hành đạo đời ngũ trược thật khó

Bậc đại sĩ như lá mùa thu

Người ra đi quảy dép Tây du

Kẻ ở lại xuân thu ngậm ngùi!

Nhưng biết sao hơn

Chư pháp lữ gạt lệ chia phôi

Chúc người sớm đáo hồi thế gian

Để tiếp thừa sứ mạng lợi sanh

Mong hạnh nguyện viên thành quang rạng.

Việc ra đi đột ngột của Hòa Thượng là một sự mất mát quá lớn lao đối với Giáo Hội PGVNTN Âu Châu nói riêng, và chung cho toàn Giáo Hội liên châu; nhất là với hàng pháp quyến tứ chúng đại tự Khánh Anh. Lần ra đi vĩnh viễn này, chúng tôi mất một thành viên Hội Đồng Chứng Minh, làm sao tìm lại được mẫu người bình dị, kiên quyết và thẳng thắn của một bậc Thượng sĩ vì Giáo Hội, vì hạnh nguyện lợi sanh của Phật Giáo Việt Nam hải ngoại.

Than ôi!

Giữa tiết hè lòng người se lạnh

Tiễn đưa Ngài thốn chạnh niềm đau

Kể từ đây chia tay vĩnh viễn

Về Khánh Anh lưu luyến ảnh Thầy.

Thế nhưng hành trạng Ngài còn đó, chùa Khánh Anh mái vút vươn cao, và đệ huynh xa gần vẫn còn đây, cho dù thời gian và không gian thay đổi; chí nguyện của Hòa Thượng suốt cuộc đời hiến dâng cho Đạo Pháp và Dân tộc cùng nhân loại chúng sanh vẫn còn sống mãi trong tâm tư của người con Phật, nhất là đạo tình giữa các pháp lữ không hề phai mờ.

Người đi tâm nguyện chưa tròn

Nhắn cùng huynh đệ sắt son giữ gìn

Tông phong tổ ấn lưu truyền

Xuôi miền Cực Lạc pháp thuyền thẳng dong.

htbaolac_doc_dieuvan

HT Bảo Bạc, đại diện Giáo Hội Úc Châu đọc điếu văn tưởng niệm tại Lễ Tang

Hôm nay, trong giờ phút thiêng liêng này chúng tôi một lần nữa thay mặt Giáo hội xin đốt nén tâm hương tưởng niệm và nguyện cầu giác linh Hòa Thượng: bất từ bi nguyện, xả báo thân chứng nhập pháp thân, rời uế độ siêu sanh Tịnh độ, gia hộ cho Giáo Hội liên châu đầy đủ nghị lực, đầy đủ sức gia trì, hòa hợp đoàn kết thương nhau để tiếp tục sứ mạng: sứ giả Như Lai, thừa hành trọng trách hoằng dương giáo pháp Như Lai để đền báo bốn ân trong muôn một.

Linh thứu đạo tràng xưa

Dáng cha lành còn đó

Chẳng quản ngại nắng mưa

Dõi theo gương hạnh Ngài

Cà sa ba cánh mỏng

Tháng ngày nhẹ lâng lâng

Đạo tình xin thiết thân gắn bó

Ân từ phụ công khó khắc ghi

Đông phương bừng lên bao tươi sáng

Đạo pháp soi rạng quyện trời Tây…

Xin kính chúc Hòa Thượng an nhiên tự tại!

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại UĐL – TTL.

(Đọc trong lễ Tang HT Thích Minh Tâm, Chùa Khánh Anh – Pháp Quốc)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/03/2013(Xem: 18013)
Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư, Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 01 (2007, Canada) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 02 (2008, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 03 (2019, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 04 (2010, Đức) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 05 (2011, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 06 (2012, Úc) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 07 (2013, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 08 (2014, Úc) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 09 (2015, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 10 (2016, Canada) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 11 (2018, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 12 (2020, Úc)
18/03/2013(Xem: 8579)
Viện Đại học Vạn Hạnh ở Sài Gòn, thủ đô miền Nam Việt Nam, trước năm 1975 là một trung tâm văn hóa Phật giáo nổi tiếng lừng lẫy. Nơi đây đã quy tụ biết bao hào kiệt trượng phu, biết bao tao nhân mặc khách, biết bao giáo sư, triết gia cự phách thượng đẳng. Đặc biệt là các thiên tài xuất chúng siêu việt như Phạm Công Thiện, Tuệ Sỹ, Lê Mạnh Thát, nổi bật nhất là Bùi Giáng, một thi sĩ kỳ dị, xưa nay chưa từng thấy xuất hiện trên bầu trời văn nghệ Việt Nam và thế giới.
11/03/2013(Xem: 8760)
Lê Quý Đôn (1726-1784) là một danh sĩ, nhà văn hóa, sử gia, sống vào đời Hậu Lê. Ông không những ba lần thi đều đỗ đầu, kinh qua nhiều chức quan, đã từng đi sứ sang Trung Quốc, mà còn là một nhà bác học, đã để lại một gia tài đồ sộ bao gồm khoảng 16 tác phẩm và nhiều thơ, phú bằng chữ Nôm khác. [1] Trong số những tác phẩm ấy, có Kiến văn tiểu lục, [2] là một tác phẩm dành riêng quyển 9 – thiên Thiền dật, để viết về Phật giáo và Thiền tông Phật giáo Việt Nam, chủ yếu là những vị Tổ thuộc Thiền phái Trúc lâm. Trong bài viết ngắn này, chúng ta thử chỉ tìm hiểu quan điểm của Lê Quý Đôn về Phật giáo, mà không bàn sâu đến phần Thiền tông Việt Nam mà ông đã chép.
21/02/2013(Xem: 9707)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái. Ngài sinh trưởng trong một gia đình Nho phong. Thân phụ Ngài tinh thông Hán học. Cả hai ông bà lại rất thâm tín Phật pháp. Do đó, Ngài được hấp thụ ngay từ thuở ấu thơ hai nền văn hóa cổ truyền của dân tộc là Khổng giáo và Phật giáo.
19/02/2013(Xem: 11500)
Mới đây các nhà khảo cổ Mỹ và Canada đưa ra chứng cứ cho rằng Phật giáo đã được truyền vào Mỹ trước khi ông Columbus tìm ra châu Mỹ. Tuy nhiên, theo các tài liệu có được hiện nay thì Phật giáo chỉ thật sự có mặt tại Mỹ sau kỳ Đại hội Tôn giáo Thế giới tổ chức tại bang Chicago vào năm 1893. Nhưng ai là người có công truyền bá và làm lớn mạnh "hạt giống Bồ đề" trên đất Mỹ? Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu một số nhà sư cư sĩ người châu Á, những người tiên phong có công đặt nền móng xây dựng ngôi nhà chánh pháp trên đất Mỹ.
10/02/2013(Xem: 12939)
Từ những con người bình thường, không được sinh ra ở cung vàng điện ngọc, nhưng rồi trở thành những vị vua anh minh tài kiêm văn võ, tư tưởng và nhân cách cao siêu, mãi còn đọng lại với thời gian. Dù sống ở hoàng cung nhưng tâm lúc nào cũng vượt thoát, làm bậc đế vương nhưng hạnh vẫn là một sơn Tăng, ưa vui với gió nội mây ngàn, thở nhịp cùng đất trời nhân gian cây cỏ. Để rồi trở thành những người con Phật vĩ đại, trí tuệ và công hạnh thắm đượm cả không gian, thức tỉnh chúng ta trên bến bờ sinh tử của mê ngộ, đậm nét trong lòng người đến tận hôm nay. Bồ Tát Lương Võ Đế ( 463-549 ) của Trung Hoa và Trần Thái Tông ( 1218-1277) của Việt Nam, dù ở hai phương trời xa cách, sinh ra ở hai thời điểm khác nhau, nhưng cùng chung một tấm lòng, mang an lạc thịnh vượng đến cho nhân dân, và một hạnh nguyện chuyển hoá cứu độ quần sanh.
07/02/2013(Xem: 24240)
Nửa thế kỷ Tôn Sư vắng bóng, Ánh Đạo Vàng tỏa rộng muôn phương Hôm nay tổ chức huy hoàn Hằng năm kỷ niệm, đàn tràng tôn nghiêm. Môn đồ Tứ chúng ngưỡng chiêm,
06/02/2013(Xem: 10266)
Hòa thượng Bích Liên, thế danh là Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình (Thận Thần Thị), sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876), tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn, nay là ấp Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ngài sinh trưởng trong một gia đình nho học, được theo nghiệp bút nghiên từ nhỏ. Cha là Tú Tài Nguyễn Tự, mẹ là bà Lâm Thị Hòa Nghị . Năm 20 tuổi, Ngài lập gia đình với cô Lê Thị Hồng Kiều, người làng An Hòa, (nay thuộc xã Nhơn Khánh cùng huyện). Năm 31 tuổi, Ngài lều chõng vào trường thi Hương Bình Định và đỗ Tú Tài. Ba năm sau, Ngài lại đỗ Tú Tài lần nữa. Từ đó, biết mình long đong trên bước đường khoa bảng, Ngài giã từ lều chõng, ở nhà mở trường dạy học, mượn trăng thanh gió mát di dưỡng tính tình, lấy chén rượu câu thơ vui cùng tuế nguyệt.
03/02/2013(Xem: 8654)
Tuệ Sỹ là ai mà thơ hào sảng, hùng tâm tráng khí như thế ? Tuệ Sỹ quê Quảng Bình, sinh năm 1943, nhỏ hơn Phạm Công Thiện 2 tuổi, cũng là một bậc thiên tài xuất chúng, làu thông kinh điển Nguyên thủy, Đại thừa và nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hán, Phạn, Pali. Khi mới vừa 26 tuổi đã viết Triết học về Tánh Không làm chấn động giới văn nghệ sĩ, học giả, thiện tri thức Việt Nam thời bấy giờ.
20/01/2013(Xem: 8570)
Phạm Công Thiện(1/6/1941 - 8/3/2011), là một nhà văn, triết gia, học giả, thi sĩ và cư sĩ Phật Giáo người Việt Nam với pháp danh Thích Nguyên Tánh. Tuy nhận mình là nhà thơ và phủ nhận nghề triết gia, ông vẫn được coi là một triết gia thần đồng, một hiện tượng dị thường của Sài Gòn thập niên 60 và của Việt Nam với những tư tưởng ít người hiểu và được bộc phát từ hồi còn rất trẻ. Dưới đây là bài viết của Tâm Nhiên nhân sắp đến ngày giỗ của ông.