Tưởng niệm HT Thích Minh Tâm (1940-2013)

08/08/201318:44(Xem: 64651)
Tưởng niệm HT Thích Minh Tâm (1940-2013)

HT.ThichMinhTam_01

Hình ảnh Lễ Di Quan
HT Minh Tâm đến nơi Trà Tỳ
ngày 21-8-2013

Le_Tra_Ty_HT_Minh_Tam (127)

Le_Tra_Ty_HT_Minh_Tam (154)

Le_Tra_Ty_HT_Minh_Tam (157)
HT_Minh_Tam (6)

Ôn Minh Tâm, Người trồng Sen.....


Bai_phap_cuoi_cung_ht_minh_tam_2


Le_Khanh_Thanh_TVQuang_Duc (112)Hòa Thượng Thích Minh Tâm tại Lễ Khánh Thành Tu Viện Quảng Đức tháng 10/2003

Đạo Từ Chúc Mừng
Lễ Khánh Thành Tu Viện Quảng Đức
của Hòa Thượng Thích Minh Tâm

(Chủ Nhật 12/10/2003)

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính bạch Chư Tôn Đức
Kính thưa liệt quý vị

... Bóng người vượt chín tầng mấy
Nhân gian mát rượi bóng cây Bồ Đề ...

Cho mãi đến ngày hôm nay, 40 năm sau Cố Hòa Thượng Thích Quảng Đức, vị pháp thiêu thân (ngày 20/4 năm Quý Mão - 1963) bóng cây Bồ Đề của Ngài vẫn còn mát mẻ gội nhuần khắp cõi nhân gian, nhất là trong hàng Phật tử Việt Nam, trong nước cũng như ở hải ngoại.

Kể cả người ngoại quốc, Âu, Mỹ khi nghe nói đến Việt Nam và Phật Giáo Việt Nam, ít nhiều gì họ cũng nhắc đến hình ảnh hy sinh bất khuất của Bồ Tát Thích Quảng Đức. Nhắc đến với một niềm kính phục, trân quý.

Vô thường, lão, bệnh bất dữ nhơn kỳ, triêu tồn tịch vong, sát na dị thế... lẽ vô thường hết sức đơn giản, chắc chắn là ai ai cũng hiểu, nhất là chư vị xuất gia. Nhưng trong vô thường mà dựng lên được nét trường cửu, đó mới là mà điểm đặc biệt không gì xóa cho tan, đập cho vỡ được :

Rồi đây... rồi mai sau... còn chi
Ngọc đá cũng thành tro, lụa tre dần mục nát
Với thời gian, lệ, vết máu qua đi
Còn mãi chứ, còn trái tim Bồ Tát
Gội hào quang xuống tận ngục A Tỳ... (Trích từ bài thơ Lửa Từ Bi)

Vâng, 40 năm sau, ngục A Tỳ vẫn còn hiển hiện khắp nơi, ngay cả trên đất nước Việt Nam. Và khi nào còn bóng dáng A Tỳ ở đâu thì ở đó vẫn còn rực sáng trái tim của Bồ Tát. Lời thơ của Vũ Hoàng Hương quả là bất diệt.

Năm nay, 2003, kỷ niệm 40 năm kỷ niệm ngày vị Pháp thiêu thân của Bồ Tát Quảng Đức, xin viết lên vài cảm nghĩ thô thiển để tưởng nhớ đến công hạnh cao dày của Ngài đối với Việt Nam và Phật Giáo Việt Nam.

Cũng trùng phùng trong năm nay, tại Úc Đại Lợi, có lễ Khánh Thành một tu viện mang tên Quảng Đức. Ở trong nước cũng như ngoài nước, kể từ sau pháp nạn 1963, danh xưng Quảng Đức được dùng đến ở nhiều nơi, đặt tên chùa, tên hội, tên đoàn thể, tên tu viện. Một danh hiệu mầu nhiệm linh liêng, rất gần và rất quý, vừa cầu nguyện, vừa nương theo. Tôi mạo muội, nghĩ một cách đơn giản rằng Tu Viện Quảng Đức mang tên Ngài ở Melbourne mà lễ Khánh Thành hôm nay cũng không ngoài thông lệ đó.

Thượng Tọa Thích Tâm Phương, Trụ Trì tu viện Quảng Đức, có lời mời tôi nói đôi lời trong dịp lễ trọng đại này. Tôi liền nghĩ đến công hạnh của Bồ Tát cao cả thiêng liêng. Và tôi cũng nghĩ ngay đến công đức không nhỏ của chư vị trụ trì hiện đang dày công xây dựng những đạo tràng khắp nơi ở hải ngoại.

Trồng sen trên xứ tuyết.Đó là câu nói gợi lên một hình ảnh hết sức nên thơ lý thú nhưng cũng hết sức khó khăn với muôn vàn cay đắng, kể về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Để cho Phật Pháp được lưu thông, để cho người Phật tử có nơi nương tựa để cho thế hệ tương lai có nơi học hỏi giáo lý và bảo tồn văn hóa tổ tiên nơi đất lạ, ngôi chùa Việt Nam lại trở nên cần thiết và đóng một vai trò quan trọng đáng kể.

Tôi xin kính cẩn chúc mừng thành quả huy hoàng của Tu Viện Quảng Đức ngày hôm nay và xin thành tâm cầu nguyện Tam Bảo chứng minh và nhất là Giác Linh Bồ Tát Quảng Đức gia hộ cho Thượng Tọa Trụ Trì, đại chúng và toàn thể Phật tử luôn luôn được dõng mãnh tinh tấn với tâm Bồ Đề để mỗi ngày tu viện càng phát huy rực rỡ làm sáng danh vị Bồ Tát mà tu viện hãnh diện mang danh hiệu của Ngài.

Chùa Khánh Anh, Pháp quốc
Ngày Trung Thu, Quý Mùi
2003
HT Thích Minh Tâm

Le_Khanh_Thanh_TVQuang_Duc (14)

Le_Khanh_Thanh_TVQuang_Duc (1)

Le_Khanh_Thanh_TVQuang_Duc (2)

Le_Khanh_Thanh_TVQuang_Duc (7)




HT Thích Minh Tâm và HT Thích Như Điển

Nhận Giải Thưởng Danh Dự Tại Tích Lan

Le_trao_giai_thuong_tai_Tich_Lan (17)


Le_trao_giai_thuong_tai_Tich_Lan (6)

Le_trao_giai_thuong_tai_Tich_Lan (3)
Vào lúc 16 giờ chiều ngày 8 tháng 7 năm 2011, tại Hội trường hội nghị quốc tế thủ đô Colombo, Sri lanka, Hội đồng Tăng Già và chính phủ Sri lanka đã trọng thể cử hành lễ trao giải thưởng Danh Dự cho Hòa thượng Thích Minh Tâm và Hòa thượng Thích Như Điển, những vị đóng góp tích cực trong hoạt động truyền bá chánh pháp tại hải ngoại.

Giải thưởng danh dự dành cho các nhà có công hoằng pháp tại hải ngoại được Hội đồng Tăng già Sri lanka thành lập nhằm mục đích khen thưởng và khích lệ các nhà hoằng pháp tại Hải ngoại. Ban đầu, giải thưởng này chỉ trao cho các tu sĩ người Sri lanka hành đạo tại Hải ngoại. Về sau, được Hội đồng Tăng già mở rộng cho các nhà hoằng pháp người nước ngoài.Năm nay, Hội đồng Tăng già Sri lanka đã giành giải thưởng này trao cho nhị vị Hòa thượng Thích Minh Tâm, trụ trì chùa Khánh Anh, Paris và Hòa thượng Thích Như Điển, Phương trượng chùa Viên Giác, Hannover, Đức quốc. Đây là một vinh dự lớn cho Tăng sĩ Việt Nam đang hành đạo tại Hải ngoại.
Được biết Hòa thượng Thích Minh Tâm và Hòa thượng Thích Như Điển đã đến hành đạo tại Châu Âu vào những thập niên 70, tính đến nay đã gần 40 năm. Trong suốt khoảng thời gian ấy, nhị vị Hòa thượng đã kiến lập nhiều đạo tràng tại Châu Âu để hướng dẫn đồng bào Việt kiều tu học cũng như giới thiệu truyền thống Phật giáo Việt Nam đến với người phương Tây.Nhờ công lao hoằng pháp của nhị vị Hòa thượng, chính phủ Pháp và Đức đã công nhận Phật giáo là một trong những tôn giáo chính tại hai nước nầy. Đồng thời, nhị vị Hòa thượng đã đóng góp rất nhiều trong lĩnh vực giáo dục, văn hóa và tôn giáo tại Châu Âu.
Với nhưng công đức ấy, nhị vị Hòa thượng được Hội đồng Tăng già và chính phủ Tích Lan quyết định trao giải thưởng danh dự giành cho các nhà hoạt động tích cực truyền bá Phật pháp tại Hải ngoại. Đây là vinh dự chung cho Phật giáo Việt Nam tại Hải ngoại và cũng là một tấm gương sáng cho các thế hệ Tăng Ni trẻ dấn thân hoằng truyền chánh pháp.

Sau đây là hình ảnh Lễ cung đón nhị vị Hòa thượng vào lễ trường:






Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/02/2013(Xem: 12603)
Từ những con người bình thường, không được sinh ra ở cung vàng điện ngọc, nhưng rồi trở thành những vị vua anh minh tài kiêm văn võ, tư tưởng và nhân cách cao siêu, mãi còn đọng lại với thời gian. Dù sống ở hoàng cung nhưng tâm lúc nào cũng vượt thoát, làm bậc đế vương nhưng hạnh vẫn là một sơn Tăng, ưa vui với gió nội mây ngàn, thở nhịp cùng đất trời nhân gian cây cỏ. Để rồi trở thành những người con Phật vĩ đại, trí tuệ và công hạnh thắm đượm cả không gian, thức tỉnh chúng ta trên bến bờ sinh tử của mê ngộ, đậm nét trong lòng người đến tận hôm nay. Bồ Tát Lương Võ Đế ( 463-549 ) của Trung Hoa và Trần Thái Tông ( 1218-1277) của Việt Nam, dù ở hai phương trời xa cách, sinh ra ở hai thời điểm khác nhau, nhưng cùng chung một tấm lòng, mang an lạc thịnh vượng đến cho nhân dân, và một hạnh nguyện chuyển hoá cứu độ quần sanh.
07/02/2013(Xem: 24029)
Nửa thế kỷ Tôn Sư vắng bóng, Ánh Đạo Vàng tỏa rộng muôn phương Hôm nay tổ chức huy hoàn Hằng năm kỷ niệm, đàn tràng tôn nghiêm. Môn đồ Tứ chúng ngưỡng chiêm,
06/02/2013(Xem: 10020)
Hòa thượng Bích Liên, thế danh là Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình (Thận Thần Thị), sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876), tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn, nay là ấp Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ngài sinh trưởng trong một gia đình nho học, được theo nghiệp bút nghiên từ nhỏ. Cha là Tú Tài Nguyễn Tự, mẹ là bà Lâm Thị Hòa Nghị . Năm 20 tuổi, Ngài lập gia đình với cô Lê Thị Hồng Kiều, người làng An Hòa, (nay thuộc xã Nhơn Khánh cùng huyện). Năm 31 tuổi, Ngài lều chõng vào trường thi Hương Bình Định và đỗ Tú Tài. Ba năm sau, Ngài lại đỗ Tú Tài lần nữa. Từ đó, biết mình long đong trên bước đường khoa bảng, Ngài giã từ lều chõng, ở nhà mở trường dạy học, mượn trăng thanh gió mát di dưỡng tính tình, lấy chén rượu câu thơ vui cùng tuế nguyệt.
03/02/2013(Xem: 8589)
Tuệ Sỹ là ai mà thơ hào sảng, hùng tâm tráng khí như thế ? Tuệ Sỹ quê Quảng Bình, sinh năm 1943, nhỏ hơn Phạm Công Thiện 2 tuổi, cũng là một bậc thiên tài xuất chúng, làu thông kinh điển Nguyên thủy, Đại thừa và nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hán, Phạn, Pali. Khi mới vừa 26 tuổi đã viết Triết học về Tánh Không làm chấn động giới văn nghệ sĩ, học giả, thiện tri thức Việt Nam thời bấy giờ.
20/01/2013(Xem: 8481)
Phạm Công Thiện(1/6/1941 - 8/3/2011), là một nhà văn, triết gia, học giả, thi sĩ và cư sĩ Phật Giáo người Việt Nam với pháp danh Thích Nguyên Tánh. Tuy nhận mình là nhà thơ và phủ nhận nghề triết gia, ông vẫn được coi là một triết gia thần đồng, một hiện tượng dị thường của Sài Gòn thập niên 60 và của Việt Nam với những tư tưởng ít người hiểu và được bộc phát từ hồi còn rất trẻ. Dưới đây là bài viết của Tâm Nhiên nhân sắp đến ngày giỗ của ông.
12/01/2013(Xem: 8355)
Đã có rất nhiều sách vở, bài viết hoặc với tính chất nghiên cứu, hoặc là các bài giảng phổ cập bàn về tông Thiên Thai và kinh Pháp Hoa. Bài viết này nói đến vai trò, vị trí của Đại sư Trí Khải và tông Thiên Thai trong lịch sử Phật giáo, cũng như trong nền văn hóa tư tưởng của toàn thể nhân loại. Đại sư Trí Khải sinh năm 538, vào thời đại mà sau này các sử gia gọi là Nam Bắc triều (220-589). Sông Dương Tử được lấy làm gianh giới phân chia giữa hai miền Nam và Bắc. Trong thiền sử, ta thường nghe nói đến câu Nam Năng (Huệ Năng)-Bắc Tú (Thần Tú), để phân biệt hai dòng thiền: Đại sư Thần Tú xiển dương Thiền tiệm ngộ ngay tại Trường An; Đại sư Huệ Năng phát triển Thiền đốn ngộ tại vùng Quảng Đông và lân cận. Bấy giờ Trung Hoa bị chia thành nhiều nước nhỏ, nước này xâm lăng và thôn tính nước kia, gây nên nhiều cuộc chiến tương tàn, dân chúng sống trong cảnh lầm than đau khổ.
07/01/2013(Xem: 9502)
Phần lớn độc giả biết nhiều đến các tiểu luận và các tập thơ phản chiến, nhưng ít người biết đến những bài thơ Thiền của Nhất Hạnh. Tôi xin trích một bài được nhà xuất bản Unicorn Press xuất bản trong tâp thơ Zen Poems của Nhất Hạnh vào năm 1976 (bản dịch Anh Ngữ) của Võ Đình. Bài này được in vào tuyển tập thơ nhạc họa vào mùa Phật Đản 1964
10/12/2012(Xem: 9681)
Cả cuộc đời 86 tuổi của Ngài Đội trời đạp đất, đã tròn chưa bản nguyện Kiếp tu hành 81 năm của Ngài Gánh vác hy sinh...
09/10/2012(Xem: 14948)
Thiền sư Lê Mạnh Thátcho rằng Vua Trần Nhân Tông là một nhân vật tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam nhất là vì tư tưởng hòa giải dân tộc của ông vẫn còn tính thời sự. Trả lời câu hỏi của BBC vì sao tư tưởng của Trần Nhân Tông (trị vì từ năm 1278-1293) và là Phật Hoàng, sáng lập ra phái thiền phái Trúc Lâm vẫn còn có tính thời sự đối với Việt Nam và cả quan hệ Mỹ - Việt cũng như Việt - Trung, Tiến sỹ Lê Mạnh Thát nói:
01/10/2012(Xem: 7921)
Kính bạch Giác Linh Đức Thầy, Dẫu biết rằng: “Cuộc đời là ảo mộng, vạn vật vốn vô thường, chuyển di không ngừng nghỉ, biến diệt lẽ tự nhiên, tử sanh không tránh khỏi.” Nhưng ân đức cao dày, tình thương nồng thắm, Đức Thầy đã ban cho hàng đệ tử chúng con, chẳng những được kết thành giới thân huệ mạng, mà còn mang lại cho cuộc đời giải thoát của chúng con vô vàn hạnh phúc… Ân đức ấy, mãi mãi khắc sâu vào cuộc đời tu học của chúng con vô cùng vững chắc, dù cho thời gian, sự vô thường có thay đổi...