Cần kiệm là bản chất....

14/08/201308:02(Xem: 11694)
Cần kiệm là bản chất....

ChuTonDuc (111)
CẦN KIỆM LÀ BẢN CHẤT

VÀ TẬP QUÁN CỦA TA ĐÓ
Pháp tử: TỊNH MINH

Kính bạch giác linh Hòa Thượng thượng Đỗng hạ Minh, dưỡng dục ân sư,

Sau khi đọc lại hai bức thư của Ôn gởi cho con, một đề ngày 9/6/1994, viết trên một mảnh giấy học trò, ngang 10cm, dài 15cm. Và một với đầu đề: PL. 2547. Nha Trang, ngày 19/11 Giáp Thân, viết trên hai mặt của một tờ giấy học trò, được cắt xén vuông vức, trong đó có đoạn: “… nhận được cuốn Từng Giọt Nắng Hồng cách nay bốn ngày. Tôi đọc 12 tiếng đồng hồ mỗi ngày, vừa xong lúc 12 giờ trưa hôm nay. Tôi quyết định in nó để cúng dường Ôn Trí Thủ.”

Lần đầu xem thư Ôn đến dòng chữ “Tôi đọc 12 tiếng đồng chồ mỗi ngày” thì con bàng hoàng, ngồi im lặng khá lâu mới đọc tiếp được. Trời ơi!… Sức khỏe Ôn đang trên đà cạn kiệt, vậy mà Ôn đã dành ba ngày rưỡi, 46 giờ định tâm xét duyệt để đi đến quyết định tối hậu. Hôm nay đọc lại thư Ôn, con lại nghĩ đến ngài Nigama Tissa trong ấn phẩm trên.

Sa-môn Tissa suốt đời cần kiệm, tri túc, thanh tịnh, quyết tâm tu hành, và cũng chính nhờ những phẩm hạnh đó mà Sư trở thành biểu tượng cao đẹp cho toàn thị trấn cách thành Xá-vệ không xa.

Sáng nào cũng thế, Sư đi thiền hành khất thực một vòng quanh làng, nơi bà con thân tộc của Sư cư ngụ. Thấy vậy, các Sa-môn thưa với Đức Bổn Sư:

- Bạch Thế Thôn, thầy Tissa hay bận bịu, vướng víu với bà con thân tộc, chưa hề lên Xá-vệ khất thực, cho dù trưởng giả Cấp-cô-độc và quốc vương Ba-tư -nặc cúng dường rất nhiều lễ vật, không đâu sánh bằng.

Nghe vậy, Thế Tôn cho mời Tissa đến, hỏi:

- Nghe nói thầy ngày ngày quanh quẩn với bà con xóm làng, không bao giờ lên thành hóa duyên truyền đạo, có đúng vậy không?

- Bạch Thế Tôn, không phải con nặng lòng với bà con thân tộc. Con chỉ nhận vật thực của họ vừa đủ mỗi ngày một bữa cho con. Dù ngon hay dở, con vẫn nhiếp tâm thọ dụng, tán thán và chú nguyện công đức của đàn na thí chủ. Bạch Thế Tôn, con nghĩ như vậy là đủ lắm rồi. Mình chẳng lao động sản xuất ra của cải vật chất mà ngửa tay đón nhật lễ vật cúng dường quá nhiều thì e rằng không hợp, con sợ lắm!

Biết rõ tánh hạnh của Tissa, Đức Thế Tôn mỉm cười ca ngợi:

- Lành thay, lành thay, Sa-môn! Ta rất vui là có được một đệ tử như vậy. Này Tissa, cần kiệm là bản chất và tập quán của ta đó.

Các thầy có mặt đều cúi đầu im lặng, rồi đảnh lễ Thế Tôn và vái chào Tissa.

Kính lạy giác linh Ôn,

Ôn chuyên dịch Luật tạng và là Trưởng ban phiên dịch Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam, giấy trắng chất cả phòng, vậy mà Ôn viết thư cho con trên mảnh giấy chỉ võn vẹn bằng bàn tay. Không phải, con nghĩ, Ôn hà tiện, hay xem thường đồ chúng, mà chính vì “cần kiệm là bản chất và tập quán” của Thế Tôn và môn đệ Ngài. Ngay trong thời Ôn được mệnh danh là ông Thầy “xì-dầu” tỷ phú, thì Ôn cũng chỉ có “tam y cụ túc” với xâu chuỗi Bồ-đề trên tay. Đúng là “Tiền rừng bạc biển cho dù, trên tay chỉ một chuỗi xâu Bồ-đề, nay Thầy giã biệt sơn khê, Long Sơn Hải Đức vọng về Pháp âm”.

Con ghi lại những dòng này với thâm tâm thành kính tri ân và lưu giữ nét bút ân tình mà Ôn đã dành cho con qua bao năm tháng.

(Tịnh Minh, đã đăng trong tập Tưởng Niệm Hòa Thượng Luật Sư THÍCH ĐỖNG MINH Tôn Sư, PL.2550)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 10560)
Ngài đã nêu cao tinh thần Bi, Trí, Dũng phục vụ chúng sinh, cống hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp chung của đạo pháp và dân tộc Việt Nam. Hòa thượng Thích Trừng San, pháp tự Minh Hiền, hiệu Hải Tuệ, thế danh Nguyễn San sau đổi là Trần Văn Lâu, nối pháp đời thứ 42 dòng Lâm Tế Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tuất (1922), tại thôn Phú Khánh, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Năm lên 8 tuổi, được song thân cho xuất gia học đạo với Hòa thượng Phổ Hiện, tại chùa Khánh Long, Diên Khánh. Sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài y chỉ với Hòa thượng Chánh Ký, kế vị trụ trì chùa Khánh Long. Năm 1943 được y chỉ sư gửi đến thọ giáo với Hòa thượng Bích Không, trụ trì chùa Hải Đức (Nha Trang).
09/04/2013(Xem: 13256)
Hòa thượng Giới Nghiêm thế danh là Nguyễn Đình Trấn, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1921, tại làng Gia Lê Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Phú, tỉnh Thừa Thiên - Huế. ngài xuất thân trong một gia đình gồm ba anh em, có tinh thần yêu nước và có truyền thống đạo đức lâu đời. Ông nội là bậc xuất gia, cha là Hòa Thượng Quang Diệu, chú cũng xuất gia, bác là Hòa thượng Phước Duyên.
09/04/2013(Xem: 8781)
Hòa thượng pháp danh Thị An, pháp tự Hành Trụ, pháp hiệu Phước Bình, thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 42. Ngài thế danh là Lê An, sinh năm 1904 trong một gia đình trung nông tại làng Phương Lưu, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ Lê Uyển, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Sử. Ông Bà có bốn người con, cả ba người con trai đều xuất gia đầu Phật.
09/04/2013(Xem: 14828)
Hòa thượng pháp hiệu Thích-Thiện-Hòa, thế danh Hứa-Khắc-Lợi sanh năm 1907 tại làng Tân-Nhựt Chợ Lớn. Ngài sinh trong gia đình trung lưu phúc hậu, thân phụ là Hứa-hắc-Tài, thân mẫu là Nguyễn-Thị-Giáp. Gia đình cả thảy bảy anh em : ba nam, bốn nữ, Ngài là người thứ bảy. Vì người thứ tám mất sớm nên Ngài được coi là con út.
09/04/2013(Xem: 8554)
Hòa thượng pháp danh Trí Độ, hiệu Hồng Chân, thế danh Lê Kim Ba, sinh ngày 15 tháng 12 năm 1894 tại thôn Phổ Trạch, xã Kỳ Sơn, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Sinh ra trong một gia đình Nho học, lúc thiếu thời Ngài học chữ Nho và năm 18 tuổi học trường Sư phạm. Vì thế mà sở học rất uyên thâm, thêm lòng mến mộ đạo Phật, Ngài đi sâu vào nghiên cứu giáo lý và trở thành một vị học Phật lỗi lạc.
09/04/2013(Xem: 9009)
Hòa Thượng pháp danh Thích Tâm Thi, đạo hiệu Tuệ Tạng, thế danh Trần Thanh Thuyên, sinh năm Canh Dần (1889) tại làng Quần Phương Trung, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Thân phụ Ngài là ông Trần Tín tự Phúc Châu, thân mẫu là bà Vũ Thị Tú hiệu Diệu Hòa.
09/04/2013(Xem: 10214)
Hòa thượng Hộ Tông (1893-1981), Maha Thera Vansarakkhita, có thế danh là Lê Văn Giảng, sinhngày 15 tháng 10 năm 1893, tại làng Tân An, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc. Ngài xuất thân trongmột gia đình trung lưu trí thức, thân phụ là ông Lê Văn Như, thân mẫu là bà Đinh Thị Giêng.
09/04/2013(Xem: 8961)
Hòa Thượng họ Nguyễn, Húy Văn Kính, pháp danh Tâm Như, tự Đạo Giám, pháp hiệu Thích Trí Thủ. Ngày sinh ngày 19 tháng 9 năm Kỷ Dậu, tức ngày 01-11-1909 trong một gia đình nho phong thanh bạch, tại làng Trung Kiên, tổng Bích Xa, phủ Triệu Phong (nay là xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong) tỉnh Quảng Trị. Thân phụ là cụ Nguyễn Hưng Nghĩa, thân mẫu là cụ Lê Thị Chiếu. Hai cụ là người rất kính tín Tam Bảo. Vì vậy, dù là con trai độc nhất trong gia đình, lúc 14 tuổi Ngài đã được song thân cho vào học kinh kệ ở chùa Hải Đức Huế.
09/04/2013(Xem: 14792)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái.
09/04/2013(Xem: 11820)
Hòa thượng húy Trần Thiện Hoa, pháp danh Thiện Hoa, hiệu Hoàn Tuyên, sanh ngày 7-8 năm Mậu Ngọ (1918), tại làng Tân Quy (sau đổi tên là An Phú Tân), quận Cầu Kè, tỉnh Cần Thơ (nay là tỉnh Trà Vinh). Hòa thượng là con út (thứ chín) trong gia đình. Thân phụ Hòa thượng huý Trần Văn Thê, pháp danh Thiện Huệ, thân mẫu húy Nguyễn Thị Sáu, pháp danh Diệu Tịnh. Toàn thể gia đình Hòa thượng đều quy y với tổ Chí Thiền chùa Phi Lai núi Voi, Châu Đốc. Pháp danh Thiện Hoa do Tổ đặt cho Hòa thượng.