Chiếc Bánh Nậm

13/08/201316:10(Xem: 14839)
Chiếc Bánh Nậm

ChuTonDuc_Ht Nhu Tinh (156)

CHIẾC BÁNH NẬM

(Tưởng niệm HT. Thích Hải Tuệ,
tức Thầy Trừng San, giám tự Phật Học Viện Hải Đức, Nha Trang)

TỊNH MINH





Hôm ấy, một buổi sáng đẹp trời, khoảng 8 giờ, tôi đang ngồi học tại bàn riêng của mình thì thấy thầy Trừng San (xem tiểu sử)  vén màn bước vào, tôi liền đứng dậy định chấp tay chào Thầy thì Thầy đưa tay ấn nhẹ vai tôi ra hiệu tôi ngồi xuống. Tôi ngồi xuống giường, Thầy cũng ngồi bên cạnh tôi và nói:

- Tối mai làm lễ khai kinh đúc chuông ở rộc rau muống. Chà, tụng kinh cả đêm đó. TM. đi với Thầy nghe. Ai nữa hè?

- Bạch Thầy… cần mấy người?

- Ba nguời thì tốt, nhưng năm người thì tốt hơn.

- Bạch Thầy… kêu TT., PM., và ĐT. là đủ. Con tang, TT. mõ, PM. khánh, ĐT. linh, ngon đó Thầy!

- Ờ, được đấy!... Bảy giờ xe đến, Thầy hú thì đi nghen!

- Mô Phật!


Khóa lễ hôm đó thật là trang nghiêm và hùng tráng. Tăng, Ni, Phật tử gần cả trăm người, đa số là các bà Phật tử người Huế, họ rất thuần thành và tín tâm, chăm lo nước nôi và tiểu thực cho các thầy rất chu đáo.


Khoảng 11 giờ khuya, các bà dọn bánh nậm lên đi-văng mời các thầy. Bánh nậm là loại bánh làm bằng bột gạo, gói trong lá chuối theo dạng hình chữ nhựt với lớp nhân bên trong gồm thịt, nấm, cà rốt, bún miến băm nhỏ và các loại gia vị khác, tùy theo bánh chay hay bánh mặn mà làm, ăn rất ngon và nghe nói là thổ sản của xứ Huế. Thông thường, bánh gì cũng có cái tên tương ứng với màu sắc, hương vị và hình dạnh của nó, như bánh tét, bánh chưng, bánh ú, bánh xèo v.v…, riêng bánh nậm thì hình như đa số chưa biết ý nghĩa của nó.


chiec banh nam



Tôi lột bánh mời Thầy Trừng San, Thầy đưa bánh lên miệng rồi lại để xuống, gói lại và đặt vào đĩa.

- Sao vậy Thầy? Tôi hỏi.

- Không sao! Hôm nay bụng Thầy không được ổn. Các chú cứ tự nhiên.

Tôi vừa ăn xong một cái thì buộc miệng khen:

- Bánh nậm kỳ này các bà làm ngon quá, chưa từng thấy trong đời, xin tán thán công đức!


Một bà chạy lại ngồi xổm trên sàn nhà, cạnh mép đi-văng, tay lột bánh, miệng cười nói với giọng Huế nghe rất chân thành và tha thiết:

- Mời cạc Thầy dùng tự diên, ăn cho no, cọ thực mợi vực được đạo, bạnh gia truyền xự Huệ cụa chụng con đọ!

Chà, tôi nói, bánh ngon thế này mà bụng Thầy hôm nay lục ục, uổng quá! Bốn cái cối xay này tha hồ mà xay nhé!

Sau đó các bà xuống bếp hết, chúng tôi ngồi ăn ngon lành. Bỗng dưng tôi… trợn mắt… ngậm miệng… rồi trương cổ nói nhỏ ra vẻ bí mật:

- Bạch Thầy… bánh nhân th…i…ị…i…t !

- S-u-ỵ-t!…

Thầy đưa ngón tay trỏ lên miệng ra hiệu im lặng. Xong Thầy nói: “Có ăn nữa thì ăn, không ăn thì thôi, đừng cho các bà biết mà họ đâm ra lo lắng, hối hận tội nghiệp! Có lẽ họ bê lộn bánh đấy. Vả lại khi còn tại thế, trên bước đường vân du hoằng hóa, Đức Phật và môn đệ của Ngài đâu có phân biệt chay mặn, thọ dụng lễ vật cúng dường của thập phương bá tánh bằng cái tâm bình đẳng và biết ơn. Các chú thấy sao?”

- A Di Đà Phật! Chúng tôi đồng chắp tay.


Sau đó chúng tôi uống nước và ra ngoài dạo mát. PM. đến cạnh tôi, nói:

- Anh sao!... Thường ngày thấy sáng láng mà nay sao bết quá! Vậy chứ anh không nhớ câu: “Mặc nhiên mặc nhiên cố, thị sự như thị trì”?

- Ờ, hôm nay sao mình u mê quá. Im lặng thì hay biết bao!


ĐT. nghe chúng tôi xì xào cũng ghé lại, nói:

- Anh làm trật rơ! Im lặng thì giờ này chúng mình có lẽ còn “ta bà ha!”.

TT. cũng cười cười xen vào với giọng rề rề như ông già:

- Ờ, mình thấy béo quá, ngon quá! Bánh nậm xưa nay mình ăn đâu có ngon như vậy. Té ra là…

- Đừng bày như Đức Thế Tôn thọ trai lần cuối tại lò rèn ông Thuần Đà nhé! Tôi đùa và tất cả đều cười.


Đêm đó, tôi nằm nhắm mắt cho đến bốn giờ sáng dậy tụng kinh chứ không sao ngủ được; tư tưởng cứ nhấp nhô như sóng nước đại dương: khâm phục và kính trọng Thầy Trừng San vô vàn. Thầy lúc nào cũng uyển chuyển, linh hoạt, biến hóa và nhuần nhuyễn trong mọi tình huống. Đúng là:

“Thuần nhất bất tạp vi hòa

Vạn loại xưng tôn vi thượng.”


Tôi có được cái diễm phúc là bảy, tám năm trời lẫm đẫm theo Thầy cùng khắp phố phường Nha Trang và thành trì Diên Khánh. Ôi!… Còn đâu những đêm đen như mực, Thầy trò tụng kinh cầu an, cầu siêu xong phải ra sân nằm nghỉ ở vùng quê Diên Khánh, nghe tiếng xe bò âm thầm cọc cạch trên đường đất gồ ghề mà cảm thông cho cuộc sống thầm lặng, nặng nề của người dân lao động về đêm; hoặc ngắm những vì sao lấp lánh trên bầu trời đen ngòm vòi vọi; hoặc nghe những mùi hoa cau, hoa bưởi, hoa lài mà thấy mình thênh thang giữa đất trời lồng lộng. Thảo nào Đức Thế Tôn thường xem bước chân của Sa-môn cũng giống như những cánh ong vun vút khắp bốn phương trời:


“Thí như phong thái hoa,

Bất hoại sắc dữ hương,

Đản thủ kỳ vị khứ,

Tỳ kheo nhập tụ nhiên.

Tỳ kheo vào làng xóm,

Như ong đến vườn hoa,

Lấy mật xong bay ra,

Không hại gì hương sắc.”


Đúng vậy:

Ong suốt đời tần tảo,

Bay tìm khắp muôn nơi,

Hút nhụy hoa làm mật,

Dâng hương vị cho đời.


Còn Thầy, nay xóm này, mai làng nọ, ban vui cứu khổ với nụ cười rạng rỡ trên môi. Thầy đã truyền đạt cho chúng con không những qua đạo phong nhân cách mà còn qua cả tâm hồn nghệ sĩ và hạnh nguyện vị tha của Thầy. Nhân ngày Nhà Giáo Việt Nam 20 -11-1997, chúng con, học trò của Thầy năm xưa, nay kẻ Nam người Bắc, kẻ Á người Âu, xin dâng lên giác linh Thầy nén hương lòng tha thiết nhất.

(Tịnh Minh, đã đăng trong tuần báo Giác Ngộ số 85, ngày 15/11/1997)




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
26/03/2016(Xem: 11954)
Viên Giác tự – Chùa xưa còn đó mà Thầy đã quãy dép quy Tây Chùa Viên Giác tọa lạc trên một khu đất rộng trên đồi cao tại Cầu Đất, xã Xuân Trường, Tp Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, cách trung tâm thành phố ngàn hoa khoảng chừng 30 km về hướng Đông Nam, trên độ cao 1650 m. Điểm nhấn của Cầu Đát có đồi chè với màu xanh ngắt ngút ngàn là một trong hai điểm đến mới nổi cực kỳ thu hút khách du lịch Đà Lạt tới tham quan. Trải dài trên diện tích 230 ha, đồi chè Cầu Đất dễ khiến những tín đồ của màu xanh lá phải bàng hoàng ngỡ ngàng trước cảnh sắc “đất xanh ngắt, trời xanh trong”. Thêm vào đó, không gian yên tĩnh, không khí mát lành cùng hương gió vấn vương vị chát chát đặc trưng của chè càng khiến Cầu Đất thêm phần hấp dẫn và lôi cuốn. Năm ở độ cao khoảng trên 1000m so với mực nước biển nên cảm nhận đầu tiên khi dừng chân tại chùa Viên Giác – Cầu Đát chính là nền nhiệt khác hẳn với quãng đường bạn đã băng qua trước đó. Vừa đến chân đồi việc đầu tiên cảm nhận được chính là sương mù. Đặc biệt vào nhữn
21/03/2016(Xem: 17261)
Chùa Đức Viên được Sư Bà Đàm Lựu sáng lập vào năm 1980. Sư Bà người làng Tam xá, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông, Việt Nam. Xuất gia từ nhỏ tại chùa Cự Đà, năm 1951, Sư Bà thọ giới Tỳ kheo ni tại chùa Quán Sứ, Hà Nội. Năm 1952, Sư Bà học đạo tại chùa Dược Sư, Sài Gòn. Năm 1964, Sư Bà đi du học ở Tây Đức. Năm 1979, Sư Bà đến Hoa Kỳ. Năm 1980, Sư Bà về thành phố San Jose hành đạo và sáng lập chùa Đức Viên. Sau 19 năm tận tụy, chăm lo việc đạo, việc đời, Sư Bà quy Tây năm 1999. Việc tiếp tục kiến tạo ngôi già lam trang nghiêm, an tịnh, nổi tiếng được các Ni sư Đàm Nhật, Ni sư Đức Hòa cùng Ni chúng và quý Phật tử tín tâm thực hiện trong nhiều năm qua.
11/03/2016(Xem: 33647)
Tin từ Thượng Tọa Thích Nguyên Đạt, Chùa Việt Nam, Texas, hôm Thứ Năm, 10-3-2016, cho biết rằng Thầy Thích Nhuận Châu, tại Thành Phố Tampa, Florida đã tịch vì tai nạn xe. Theo bản tin của trang mạng Đài Truyền Hình Bay News 9 hôm Thứ Tư, 9-3-2016, được cập nhật hôm Thứ Năm, 10-3, chi nói đến một người đàn ông 40 tuổi mà không cho biết danh tánh là ai, nhưng tin từ Thầy Nguyên Đạt cho biết đó là Thầy Thích Nhuận Châu. Sau đây là bản dịch tin của trang mạng Bay News 9.
17/02/2016(Xem: 11626)
Hoà thượng Thích Giải Trọng thế danh là Đinh Quý, sinh ngày mồng 06/11/Bính Tuất tại làng Ngọc Tứ, xã Thanh Phong, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, nay là thôn Ngọc Liên, xã Điện An, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Con ông Đinh Tín, pháp danh Như Tín và bà Đoàn Thị Giảng pháp danh Thị Thuyết, một gia đình có truyền thống Phật Giáo. Hoà Thượng là con thứ 4 trong gia đình có 6 người anh em, 3 trai và 3 gái.
01/02/2016(Xem: 31068)
Nguyệt San Chánh Pháp, bộ mới, số 51 , tháng 2 năm 2016, • THƯ TÒA SOẠN, trang 2 • NGÀY XUÂN - LỄ PHẬT ĐẦU NĂM (Nguyên Siêu), trang 3 • HUYỀN NGHI, ÂM HƯỞNG, HOÀI CẢM (thơ Phù Du), trang 4 • Ý NIỆM VỀ MÙA XUÂN DI LẶC (Tuệ Như), trang 5 • TRÀ KHUYA & TRĂNG (thơ Mặc Phương Tử), trang 6 • ĐẦU NĂM NÓI CHUYỆN HÁI LỘC (Pháp Hỷ), trang 7 • ĐẦU XUÂN KÍNH NGUYỆN (thơ ĐNT Tín Nghĩa), trang 8 • MÙA XUÂN HOA NGHIÊM (Nguyễn Thế Đăng), trang 9 • BẢN HOÀI CỦA TU SĨ (Ns. Thích Nữ Trí Hải), trang 11 • BIỂN VÀ THƠ (thơ Minh Lương), trang 12 • SÁU PHÁP MÔN MẦU NHIỆM (Thích Thái Hòa), trang 13
01/02/2016(Xem: 27102)
“Đế Minh” là cháu ba đời Vua“Thần Nông”tuần thú, chuyển dời phương nam Đến núi Ngũ Lĩnh, (Hồ Nam) (1) Gặp nàng “Tiêngiới” lấy làm hân hoan Kết duyên chồng vợ vẹn toàn Sinh con: “Lộc Tục” hiền ngoan nhất đời “Đế Minh” quyết định truyền ngôi
23/01/2016(Xem: 20127)
Kính cảm đức, bậc Lão Tăng Trưởng Thượng, Chúc Ngài thường an lạc mãi trăm năm, Mừng tôn vinh, Đạo nghiệp sáng trăng rằm, Đại đức trọng, gương giữa đời phàm trược.
13/01/2016(Xem: 20665)
Việt nam nước tôi có chiều dài lịch sử thăng trầm trãi qua nhiều thời kỳ chống giặc ngoại xâm để giữ vững và mở rộng biên cương tổ quốc. Rồi qua hơn ba thập niên kể từ năm 1945 đến năm 1975 của thời hiện đại lại thêm một lần nữa Tổ quốc ngập chìm trong khói lửa chiến tranh tương tàn mà cho đến tận ngày nay vết thương vẫn chưa chữa lành bởi vì người ta nhân danh chủ nghĩa này lý thuyết nọ là những ý thức hệ ngoại lai.
11/01/2016(Xem: 11098)
Danh từ Nhân gian Phật giáo xuất hiện lần đầu tại Việt Nam trên Tuần báo Đuốc Tuệ do Hội Phật Giáo Bắc Kỳ xuất bản tại Hà Nội. Số đầu ra ngày 10/12/1935. Đuốc Tuệ hoạt động được 10 năm thì bị đình bản vì có cuộc cách mạng giành độc lập năm 1945. Nhân gian Phật giáo là đạo Phật của người thế gian, đạo Phật của người đời, khác với sinh hoạt chuyên tu Phật - Pháp của người xuất gia ở chùa.
18/12/2015(Xem: 10969)
Hòa thượng Tổng vụ Trưởng Tổng vụ Cư sĩ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại Tại Hoa Kỳ, Văn Phòng II, tức Thầy Tín Nghĩa, sau khi đọc bài tưởng niệm cố Đại Cư Sĩ Tịnh Liên Nghiêm Xuân Hồng qua bài Không Thời Nhất Phiến/ Hố Thẳm Tư Tưởng, yêu cầu tôi, dưới hình thức giai thoại kể lại những kỷ niệm xa xưa cách đây trên nửa thế kỷ về các Đấng Đại Tăng, những bậc Đại lão Hòa thượng ở Huế. Mặc dầu đa đoan công việc tôi vâng lời Thầy (điện thoại réo đòi nợ bài trung bình vài ba ngày một lần. Lý do: cần có bản thảo cuối tháng 5, để giao đạo hữu đi Đài Loan thuê in Kỷ Yếu Tổng Vụ được rẻ tiền). Thú thật với quí vị, trải qua 75 năm pháp nạn và quốc nạn, tôi nay đã trên tám mươi, lại mắc nhiều bệnh nan y, tài hèn sức mọn, nhớ trước quên sau, nhưng cố gắng noi gương các Ngài xưa, tìm phương pháp diễn đạt vui vui bằng giai thoại - (đạo Phật là đạo thoát khổ không bao giờ buồn cả) - ngõ hầu tìm một lối thoát đạo đức cho cơn khủng hoảng trầm trọng hậu Cộng sản nay mai, một chế độ đọa đà