Hoài Niệm Thầy - Thị Lộc

28/09/201010:35(Xem: 7698)
Hoài Niệm Thầy - Thị Lộc

Hoài Niệm Thầy

Đệ tử Thị Lộc

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật

Nam Mô Vĩnh Đức Đường Thượng Từ Lâm Tế Chúc Thánh Tứ Thập Nhứt Thế Húy Thượng NHƯ Hạ HẢO Tự GIẢI TÂM Hiệu AN ĐỨC, Đạo Hiệu Thượng QUẢNG Hạ TÂM. Lê Công Hòa Thượng Ân Sư Tân Viên Tịch Giác Linh.

Ngưỡng bái bạch Giác linh Thầy !

“Ân giáo dưỡng một đời nên huệ mạng

Nghĩa Ân sư muôn kiếp khó đáp đền”

Bạch Thầy! Dẫu biết “sinh là để sinh, tử là để tử”. Có hội ngộ ắc sẽ chia ly. Đó là chân lý muôn đời bất diệt, không một ai trên thế gian này có thể chống trả lại quy luật sinh tử vô thường, nhưng có những cái chia ly đã để lại cho đời muôn vàn nỗi tiếc thương, hối hận, ăn năn.

Bạch Thầy! Con tin rằng Giác linh Thầy sẽ không giận, không trách con vì gọi Thầy bằng Thầy, mà con tin rằng Thầy của con cũng hỷ xả cho con điều đó.

Nhớ xưa kia, khi con còn là một đứa trẻ thơ từ vùng quê nghèo khổ, tìm đến Thầy để xin được xuất gia tu học, để thực hiện ước mơ “tu học và làm một vị Tăng sỹ”, Thầy đã từ bi xuất gia cho con, lo lắng cho con từng ly từng tý. Thầy cho con cái ăn, cái mặc, và cái chữ. Thầy cho con cái lối sống đạo hạnh. Thuở hàn vi, ngày ngày Thầy phải đi xe đạp để đi làm việc trong Ban đại diện Phật giáo nhưng Thầy cũng tranh thủ về để dùng quả đường trưa với các con; rồi Thầy lại đi làm, để chiều tối lại về cho kịp giờ Tịnh Độ. Đêm đến khi chúng con chìm vào giấc ngủ thì Thầy lại đi lui, đi tới từng phòng một, để coi đứa con nào ngủ mà không bỏ mùn, không đắp mền, Thầy sửa từng cái mền, cái mùn cho các con không bị muỗi cắn sinh bệnh. Khi các con đến ngày đóng học phí, Thầy kêu lên từng người một dặn dò lo tu học chu đáo. Nhưng các con đâu có biết rằng, từng ngàn Thầy phải xin Phật tử, phải vay mượn để nuôi các con. Nhưng tuổi thơ của con, của các anh em khác, chưa hiểu được nỗi khổ tâm dằn vặt của Thầy. Thầy dường như luôn canh cánh nỗi suy tư làm sao để nuôi đàn con nhỏ dại nên người. Những mùa hạ khi mà cơn mưa xối xả xé tan những tấm tôn, những tấm lá lợp phòng Tăng, Thầy đã cùng chúng con tát từng vũng nước, cột lại từng miếng tôn. Thầy trò vui vẻ mà làm, thỉnh thoảng Thầy lại nói vài ba câu làm cho cả đại chúng cười ồ, đó là những lúc ít ỏi con thấy Thầy cười…

Trong rất nhiều kỷ niệm, mà con tin rằng khó có giấy mực nào viết hết. Tình thương của Thầy, sự che chở, bảo bọc của Thầy đã ăn sâu vào tâm thức của con, và chỉ có các con của Thầy, và Thầy là cảm nhận được nỗi yêu thương đó mà thôi !

Những năm đầu của thập niên 90, những căn bệnh hành hạ các con của Thầy, Thầy như ngồi trên đóng lửa, chạy đôn chạy đáo để tìm những y bác sỹ hảo tâm về chùa khám chửa bệnh. Đi kêu gọi những Phật tử cúng dường sữa, bột và đường cho các con vì các con còn quá nhỏ. Một khoảng thời gian dài, Tu viện không có thức ăn. Chỉ có vài bao gạo, anh em huynh đệ chúng con đã nấu cơm, nấu nước muối để làm nước tương ăn cho qua bửa, những buổi quả đường sáng chỉ là vài củ khoai. Thầy cũng ngồi ăn cùng chúng con, Thầy thấy các con quây quần bên những củ khoai ấm áp, Thầy vui và Thầy còn cho phần khoai của Thầy cho các con… Nhớ lắm Thầy ơi!

Con rất nhớ Thầy và cảm thấy có lỗi với Thầy rất nhiều vì không đi trọn con đường Thầy mong đợi, không nghe Thầy khi Thầy còn sinh tiền. Thầy thấy thương con khi ra đời lăn lộn vất vả kiếm sống qua ngày. Con quỳ bên Thầy tâm sự thì Thầy khóc, con khóc… Thầy khóc vì các con không hiểu, không làm Thầy vui. Con khóc vì thấy Thầy vì các con mà khóc. Và cảm nhận được nỗi khổ tâm của Thầy khi Thầy suy tư lo lắng cho các con dù các con không còn áo bạc nâu sồng.

Tất cả những kỷ niệm về Thầy, giờ đây nó sống lại nhiều lắm, cứ nghĩ đến Thầy là con không thể kiềm chế cảm xúc tầm thường của thế gian, những giọt lệ cứ như vậy mà tuông trào. Thầy ơi! Thầy đã đi xa lắm rồi đúng không Thầy, Thầy không còn ở bên các con của Thầy nữa. Tất cả những kỷ niệm buồn vui của Thầy và các con sẽ ở mãi trong ký ức của con “một ngày áo vải nâu sồng, muôn đời chữ hiếu trả công ơn Thầy”. Con chưa một ngày làm Thầy vui, con chưa một lần làm Thầy cảm thấy mãn nguyện. Nhưng con hứa, con hứa trước Giác linh Thầy “con sẽ sống và học theo hạnh của Thầy” để Giác Linh của Thầy được phần hoan hỷ, để thâm tâm của con được nhẹ nhàng mỗi khi nghĩ về Thầy. Nguyện cầu mười phương Chư Phật chứng giám cho lời hứa tận thâm tâm của con đối với Giác linh của Thầy.

“Hạc vàng cất cánh bay xa

Thiền môn thất chúng lệ nhòa trong tâm”

Đạo hạnh, đức hạnh, lòng vị tha, tinh thần một đời vì “đạo pháp dân tộc”, vì sự nghiệp “Tiếp dẫn hậu lai, Hoằng dương chánh pháp, Báo Phật ân đức”,tất cả những gì thuộc về Thầy là như vậy. Cuộc đời của Thầy sinh ra là để phụng sự cho Đạo pháp, cho nhân sinh, là để đem đến cho người khác sự an lạc, tự tại và giải thoát, đem trí tuệ đến cho hàng Tăng sỹ trẻ, đem Đạo pháp đến muôn người. Thầy chưa một lần quản ngại khó khăn, để hoàn thành tâm nguyện… Nhưng kể từ đây, chốn Vĩnh Đức sẽ không còn hình bóng thân thương của Thầy, không còn có cơ hội cho các con nhìn Thầy với đôi mắt uy nghiêm nhưng đầy tình thương bao la, không còn những cái “xố” bạt tai của Thầy, không còn những khi Thầy ăn bánh tráng Thầy bẻ cho con một miếng ăn với Thầy, không còn những lúc Thầy trò tâm sự… Không ai chắp cánh cho những ước mơ của chúng con để được bay xa, không ai dìu dắt chúng con khi chúng con lầm lỗi, không ai soi đường chỉ lối trong cõi Ta bà u minh này nữa… Tất cả là kỷ niệm, và tất cả chúng con đều khắc ghi trong lòng những lời Thầy dạy khi Thầy còn trên thế gian, luôn tưởng niệm về Thầy và nguyện cầu Giác Linh Thầy!

“Cao đăng Phật Quốc, lai đáo Ta Bà hoằng đại nguyện”

Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật

Nam Mô Vĩnh Đức Đường Thượng Từ Lâm Tế Chúc Thánh Tứ Thập Nhứt Thế Húy thượng Như hạ Hảo. Tự Giải Tâm. Hiệu An Đức. Thượng Quảng Hạ Tâm Đạo Hiệu. Lê Công Hòa Thượng Ân Sư Tân Viên Tịch Giác Linh

----------------------------

Hạnh Tuệ xin gởi tặng Thị Lộc tấm hình này, để nỗi nhớ một thời làm Điệu lùa về...

Hanh_Tue1-content

Thị Lộc (bên trái), Thị Thông (Hạnh Tuệ), Thị Vinh (bên phải)Cả ba huynh đệ mình cùng ở một làng, cùng đi tu một ngày, cùng học một lớp…Vậy mà giờ đây, mỗi đứa một phương trời, mỗi người một chí nguyện…
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/05/2012(Xem: 25757)
Tác phẩm Trí Quang Tự Truyện bản pdf và bài viết "Đọc “Trí Quang Tự Truyện” của Thầy Thích Trí Quang" của Trần Bình Nam
15/05/2012(Xem: 9183)
Trong đạo lập thân của người xưa – lập công, lập đức, lập ngôn– thì lập ngôn thường được cho là quan trọng nhất, vì đó là phần “hình nhi thượng”, là tinh hoa tư tưởng cá biệt của một dòng đời mang tính truyền thừa lâu dài và sâu xa cho hậu thế. Người đem hết năng lực tinh thần và tri thức của đời mình để lập ngôn thì thành nhà tư tưởng, triết gia. Người đem chất liệu đời mình để viết lại thì thành tác giả tự truyện, hồi ký.
09/05/2012(Xem: 12464)
Sự xuất hiện của Tổ sư Liễu Quán (1667-1742) như là một Bồ tát bổ xứ, thực hiện sứ mệnh lịch sử: Không chỉ duy trì và phát triển mạch sống Phật giáo Việt Nam giữa bối cảnh xã hội tối tăm, Phật pháp suy đồi mà còn thể hiện sự xả thân vì đạo; lập thảo am, ăn rong, uống nước suối, hơn mười năm tham cứu công án, tu hành đắc đạo.
28/04/2012(Xem: 9284)
Nhà văn cư sĩ Huỳnh Trung Chánh, còn có bút hiệu Hư Thân, sanh năm 1939 tại Trà Vinh, quê nội của ông. Suốt quảng đời niên thiếu ông sống nơi quê ngoại tại Cao Lãnh, tỉnh Sa-Đéc, Nam Việt Nam. - Tốt nghiệp Cử nhân Luật Khoa( 1961 ), Đại Học Luật Khoa Saigon. - Tốt nghiệp Cử nhân Phật Học (1967), Phân Khoa Phật Học và Triết Học Đông Phương, Viện Đại Học Vạn Hạnh, Saigon. Là một công chức dưới thời Việt Nam Cộng Hoà, ông đã nổi tiếng thanh liêm, chánh trực và hết lòng dấn thân để phục vụ đại đa số dân chúng Việt Nam theo hạnh Bồ Tát của Phật giáo. Ông đã từng giữ các chức vụ sau đây: - Lục sự tại Toà Án Saigon và Long An (1960 – 1962). - Chuyên viên nghiên cứu tại Phủ Tổng Thống (1962 – 1964). - Thanh Tra Lao Động tại Bộ Lao Động (1964 – 1965). - Dự Thẩm tại Toà Sơ Thẩm An Giang (1965 - 1966). - Chánh Án tại Toà Sơ Thẩm Kiên Giang (1966 – 1969) và Toà Án Long An (1969 – 1971). - Dân Biểu Quốc Hội VNCH tại Thị Xả Rạch Giá (1
26/04/2012(Xem: 24622)
Mùa Phật Đản 1963, có máu, lửa, nước mắt và xương thịt của vô số người con Phật ngã xuống. Nhưng từ trong đó lại bùng lên ngọn lửa Bi Hùng Lực của Bồ Tát Thích Quảng Đức
20/04/2012(Xem: 13256)
Hòa thượng Thích Thiên Ân, thế danh Đoàn Văn An, sinh ngày 22 tháng 9 năm Ất Sửu 1925, tại làng An Truyền, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Thân phụ của Ngài là Đoàn Mễ, sau xuất gia là Thượng tọa Thích Tiêu Diêu một bậc tử đạo Vị pháp thiêu thân, thân mẫu là một tín nữ chuyên lo công quả ở chùa Báo Quốc và tu viện Quảng Hương Già Lam, Ngài là con trai thứ trong một gia đình có 4 anh em. Ngài xuất thân trong một gia đình thế gia vọng tộc, có truyền thống kính tin Phật pháp lâu đời. Nhờ duyên gần gũi Tam bảo từ thuở nhỏ, Ngài đã sớm mến cảnh thiền môn với tiếng kệ câu kinh, nên năm lên 10 tuổi (1935), Ngài theo bước phụ thân xin xuất gia đầu Phật tại chùa Báo Quốc, làm đệ tử của Hòa thượng Phước Hậu, được Bổn sư ban pháp danh là Thiên Ân, Ngài tinh tấn chấp tác, học tập thiền môn qui tắc, hầu cận sư trưởng. Năm Tân Tỵ 1941, khi được 16 tuổi, Ngài được Bổn sư cho thọ giới Sa di tại giới đàn chùa Quốc Ân – Huế, do Hòa thượng Đắc Quang làm Đường đầu truyền giới.
08/04/2012(Xem: 8702)
Hòa thượng thế danh Đoàn Thảo, sinh ngày 10 tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1909), niên hiệu Duy Tân năm thứ 3 trong một gia đình nhiều đời theo Phật tại xứ Đồng Nà, tổng Phú Triêm Hạ, xã Thanh Hà, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (Nay là thôn Đồng Nà, xã Cẩm Hà, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam). Thân phụ là cụ ông Đoàn Văn Nhơn pháp danh Chơn Quang, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Có. Gia đình Ngài gần chùa Vạn Đức, lại thêm cụ thân sinh là tín đồ thuần thành của chùa, nên từ thuở nhỏ, Ngài thường theo cha đến chùa hàng đêm tụng kinh niệm Phật. Từ đó, chủng tử Bồ Đề lớn dần trong tâm và Ngài tỏ ra những biểu hiện rất có căn duyên với cửa Không môn của nhà Phật.
31/03/2012(Xem: 9663)
Hòa thượng thế danh Dương Đức Thanh, tự Liễu, pháp danh Như Nhàn, tự Giải Lạc, hiệu Trí Giác, nối pháp đời thứ 41 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 8 pháp phái Chúc Thánh. Ngài sinh năm Ất Mão (1915) tại làng Cẩm Văn, huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam, trong một gia đình nhiều đời kính tín Tam Bảo. Thân phụ là cụ ông Dương Đức Giới pháp danh Chương Đồ, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Phụng pháp danh Chơn Loan. Năm lên 3 tuổi, thân phụ Ngài qua đời, thân mẫu tảo tần nuôi con và cho Ngài theo học chữ Nho với các cụ đồ trong làng, được 5 năm mới chuyển sang học Việt văn.
23/03/2012(Xem: 8852)
Đức Đại Lão Hòa Thượng Chánh Thư Ký Xử Lý Viện Tăng Thống GHPGVNTN là thế hệ thứ 8 của phái Thiền Thiệt Diệu Liễu Quán, Pháp danh Trừng Nguyên, Hiệu Đôn Hậu. Xuất gia và thọ cụ túc với Hòa Thượng Bổn sư là Tổ Tâm Tịnh, khai sơn chùa Tây Thiên Huế, sau các Pháp huynh là quý Hòa Thượng Giác Nguyên, Giác Viên, Giác Tiên, Giác Nhiên...
21/03/2012(Xem: 9124)
Hòa Thượng Thích Trí Thủ là vị Thầy của nhiều thế hệ học tăng của các Phật học viện Báo Quốc Huế, Phổ Đà - Đà Nẵng, Hải Đức - Nha Trang, Quảng Hương Già Lam - Sài Gòn. Cuộc đời của Ngài phần nhiều cống hiến cho việc đào tạo tăng tài và sự nghiệp hoằng pháp cho Đạo Phật Việt Nam hơn là những lãnh vực phật sự khác.