Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Trần Nhân Tông: Nước Phật xuân không cùng

13/10/201115:56(Xem: 1424)
Trần Nhân Tông: Nước Phật xuân không cùng

TRẦN NHÂN TÔNG:

NƯỚC PHẬT XUÂN KHÔNG CÙNG
Nguyễn Thế Đăng

“Lúc này ngài lại đi khắp các ngọn núi.

Bảo Sát thưa rằng, ‘Tôn đức tuổi đã cao mà cứ xông pha sương tuyết thì mạng mạch Phật giáo sẽ thế nào?’

Thượng hoàng đáp : ‘Thời ta đã đến, vì thế ta muốn làm kế lâu dài mà thôi’.

Ngày mồng 5 tháng mười, gia đồng của Công chúa Thiên Thụy lên núi tâu : ‘Công chúa Thiên Thụy mệt nặng, xin gặp Điều Ngự để chết’. Vua nghe xong, trầm ngâm nói: ‘Cũng là thời tiết thôi’.

Rồi chống gậy xuống núi, chỉ có một người đi theo với ngài… Ngày 15 tháng mười, sau khi dặn dò xong xuôi, ngài lại quay về núi. Ngủ đêm ở chùa Báo Ân của Siêu Loại.

Tờ mờ sáng ngài đi đến chùa thôn Cổ Châu và tự tay đề lên vách bài kệ:

Số đời một hơi lặng
Tình trần hai biển trăng
Cung ma chi sá kể
Nước Phật xuân không cùng
(Thế số nhất tức mặc
Thời tình lưỡng hải ngân
Ma cung hồn quản thậm
Phật quốc bất thắng xuân)”

Đây là bài thơ cuối cùng của vua, vì sau đó ngày 18 ngài lên núi Ngọa Vân, đến ngày 1 tháng 11 thì an nhiên ra đi.

Điều trước tiên chúng ta ghi nhận là không có một vị vua nào, không có một thiền sư nào của Việt Nam mà những ngày cuối cùng, những giờ phút cuối cùng được sử sách ghi lại một cách chi tiết như ông. Có phải đời ông gắn bó quá nhiều với lịch sử nên lịch sử cũng công bằng mà không sơ sài giản lược với ông?

Bài thơ cuối cùng. Đó là những lời nói cuối cùng ở đỉnh cao nhất của một cuộc đời của mình, đang sắp sửa nhảy vào vực thẳm ngăn cách đời này với đời khác, hay vực thẳm ngăn cách đời này với cái Vô Hạn. Thế nên, ít ra, nó phải nói lên tâm thức mình khi ở đỉnh cao nhất của đời mình. Huống gì, việc cố tình viết lên vách chùa, đây là một gửi gắm, một thông điệp cho những đời sau.

Ở đây chỉ là một cố gắng nghiên cứu, học hỏi, bắt chước, để sống là theo ngài. Để làm được việc đó, chúng ta cố gắng tìm ra những gì là thực chất, là nội dung và động cơ của đời ngài. Có lẽ đó là cái ngài muốn để lại cho đời sau, chứ không phải lịch sử của cuộc đời ngài và thời đại ngài, dù chúng có vinh quang đến mấy, vì lịch sử thì không thể nào được lập lại.

Thế số nhất tức mặc. Số đời là một hơi thở tịch lặng. Một cuộc đời với nhiều biến cố, vừa là một nhà vua, một nhà chiến lược, một nhà chính trị, một nhà quân sự ngoại giao, lại có trách nhiệm như một quốc sư, việc gì của ông cũng để lại dấu ấn lớn trong lịch sử, thế mà cuộc đời ấy với ông chỉ là một hơi thở. Hơn nữa, một hơi thở im lặng, một hơi thở tịch diệt. Một hơi thở của thiền định, của chánh định.

Một cái tâm với nhiều hoạt động như vậy mà vẫn tịch diệt. Với nhiều cái sanh ra như vậy mà vẫn vô sanh. Sống với nhiều sự việc như vậy mà vẫn là vô sự. Tâm vô sự bởi vì tâm sanh tử đã “nhàn”, đã “mỏi”, đã “lão”, chỉ còn tánh Không ngự trị, chỉ còn một chánh định của tánh Không:

Ai buộc mà đi cầu giải thoát
Chẳng phàm đâu phải kiếm thần tiên
Vượn nhàn, ngựa mỏi, người cũng lão
Y cũ am mây một sập thiền
(Sơn phòng mạn hướng)

Có thể nào nhiều việc, rất nhiều việc mà nơi mỗi công việc đều là một giải thoát? Do đó là người vô sự. Điều này Kinh Kim Cươngtrong hệ thống Bát Nhã, một kinh chính yếu của truyền thống Phật giáo Việt Nam đã chỉ ra. Thiền tông cũng chỉ ra. Ông là một thiền sư, lại là người mở đầu một dòng Thiền, ông hẳn phải thân chứng cái tâm Không vô sự đó, cái tâm kim cương không ô nhiễm đó.

Một cái tâm đã đạt đến cái bản tánh của nó là tánh Không thì ‘Phướn cũng chẳng động, gió cũng chẳng động”, như lời của Lục Tổ Huệ Năng nói trong phẩm Tựa của Pháp Bảo Đàn Kinh.

Còn đây là lời của ông về những việc làm của mình:

Công đức toàn vô, tính chấp si càng thêm lỗi
Quách nhiên bất thức, tai ngu nghe ắt còn vang

(Cư Trần Lạc Đạo Phú, hội thứ 9).

Bài kệ trong phần chú thích của Cư Trần Lạc Đạo Phú có thể tóm tắt “tâm địa”của ông, “một hơi thở lặng” của ông, “một sập thiền”của ông:

Tất cả muôn pháp
Đều từ tâm sanh
Tâm không chỗ sanh
Pháp không chỗ trụ.
Nếu đạt tâm địa
Ứng dụng vô ngại
Không gặp thượng căn
Thận trọng chớ nói.

Chính vì “đạt tâm địa, tâm không chỗ sanh. Pháp không chỗ trụ” mà cuộc đời ông chỉ là sự “ứng dụng vô ngại” của tâm ấy. Cuộc đời ông là sự khai triển của tự do vô ngại của tánh Không vào trong thời cuộc ông đang sống. Sự bất biến tùy duyên ấy là một hơi thở tịch lặng, một hơi thở tịch lặng của tánh Không.

Thời tình lưỡng hải ngân. Tình trần hai biển trăng. Lưỡng hải ngân, theo chú thích trong Thơ Văn Lý Trần của Viện Văn Học, 1989, là hai con mắt. Các dịch giả khác đều dịch với ý là hai con mắt. Ở đây dịch ”hai biển ngân” là “hai biển trăng”.

Thế và thời điêu để chỉ đời, trần gian. Nhưng thế ám chỉ không gian nhiều hơn. Thời thì chỉ thời gian nhiều hơn.

Tình trần hai biển trăng.Cuộc đời, thế thời lên xuống trôi qua. Với biết bao biến cố, nhưng tất cả được nhìn bằng đôi mắt đầy ánh sáng, hai biển trăng.

Đôi mắt đầy ánh sáng là đôi mắt của “tính sáng”. “Tính sáng” được nói đến trong 3 hội đầu trong Cư Trần Lạc Đạo Phú gồm 10 hội. Bảy hội sau không còn dùng hai chữ tính sáng, nhưng dù dùng những chữ khác thì vẫn cùng một nghĩa: huệ nhật, tính thức, tính sáng soi, vô tâm, lòng trong sạch, lòng minh kính, lửa giác ngộ, thánh trí, Bồ đề thêm sáng… Nhờ đôi mắt của tính sáng, đôi mắt là tính sáng ấy mà tình trần trở nên thanh tịnh, trở nên giải thoát khỏi nhân duyên sanh diệt:

Nhận biết làu làu lòng vốn, chẳng ngại bề thời tiết nhân duyên.
Dồi cho vằng vặc tính gương, nào có nhuốm căn trần huyên náo.
(Hội 6)

Nhờ đôi mắt tính sáng này mà thấy, mà quán thấy lời dạy trong bài kệ chấm dứtKinh Kim Cương: ”Tất cả pháp hữu vi, như mộng huyễn bọt, ảnh; như sương cũng như chớp; hãy nên quán như thế”.

Ông ở trong tính sáng ấy nên ông thấy:

Cốc hay thân huyễn
Chẳng khác phù vân
Vạn sự giai không
Tựa dường bọt biển.
(Đắc Thú Lâm Tuyền Thành Đạo Ca).

Tính sáng này là ánh sáng căn bản, ánh sáng bổn nguyên, là Tịnh Quang (Clear Light, Skt:abhasvara, TT: od- gsal) của Phật giáo Ấn Độ - Tây Tạng như hiện nay chúng ta thấy. Quả thật, Phật giáo dù ở đâu, dù có thể chẳng hề tiếp xúc liên lạc với nhau, dù có những phương tiện tu hành khác nhau vẫn luôn luôn đi đến một thực tại tối hậu, đi chung một hướng, một đại đạo, một Phật đạo vậy.

Chính nhờ đôi mắt hai biển trăng này, đôi mắt của tính sáng này mà nhìn “Thấy các tướng chẳng phải tướng tức thấy Như Lai” (Kinh Kim Cương).Chính đôi mắt hai biển trăng này mà thấy Nước Phật: “Nước Phật xuân không cùng”.

Ma cung hồn quản thậm.Phật quốc bất thắng xuân. Cung ma chi sá kể, cung ma chẳng ‘nhằm nhò’ gì, cung ma không còn nữa. Còn nước Phật thì xuân không cùng, xuân khôn xiết, xuân ‘hết sảy’. Sanh tử (cung ma) không còn bóng dáng, tất cả chỉ một vị Niết Bàn.

Đây là kết quả tất nhiên của hai câu đầu. Thế giới, với người ngộ đạo, đã được lộn trái trở lại: sanh tử lộn ngược thành Niết Bàn. Đời sống có ý nghĩa là không tịch. Đời sống là sự biểu hiện của tính sáng. Đời sống tự nó là giải thoát, là Niết Bàn.

Chúng ta cần lưu ý đều này nữa. “Nước Phật” ở đây không chỉ có nghĩa là Niết Bàn thanh tịnh tịch diệt mà ông tự chứng, mà đó còn là nước Đại Việt mà ông trực tiếp lãnh đạo và trang nghiêm. Nước Phật đây là một nước Đại Việt được Phật hóa từ trong ra ngoài, từ ngoài vào trong như hai câu thơ khi ông chiến thắng quân Nguyên Mông lần thứ hai, trở lại Thăng Long:

Xã tắc hai lần phiền ngựa đá
Non sông nghìn thuở vững âu vàng.

Chúng ta thấy câu đầu “Số đời một hơi thở lặng” nói đến sự tịch diệt của tâm và do đó của tất cả các pháp. Đấy là nghĩa Tịch của tâm.Câu hai nói đến”tính sáng soi” của tâm và của tất cả các pháp. Đấy là nghĩa Chiếu của tâm. Tâm gồm hai phương diện Tịch và Chiếu. Tâm là Tịch Chiếu.

Tâm gồm hai phương diện Tịch và Chiếu, dùng những chữ tương đương là Chỉ và Quán, hay Định và Huệ (xem phẩm Định Huệtrong Pháp Bảo Đàn Kinh). Thiền là sự việc Tịch Chiếu đồng thời, Chỉ Quán đồng thời, Định Huệ đồng thời. Và vì Tịch Chiếu đồng thời, Chỉ Quán đồng thời, nên Thiền tương ưng với bản tâm vốn Tịch Chiếu viên mãn, vốn Chỉ Quán viên mãn, vốn Định Huệ viên mãn. Quả của Thiền là cái tâm Tịch Chiếu viên mãn này:

Cái Tịch Chiếu vốn tự nhiên của bản tâm cũng tức là cái Chân Không Diệu Hữu của Đại thừa.

Tịch là phương diện bên trong. Chiếu là phương diện bên ngoài. Kết hợp và nâng cấp cả hai cho đến viên mãn hợp nhất là con đường Đại thừa:

Sạch giới lòng, chùi giới tướng, nội ngoại nên Bồ tát trang nghiêm”
(Hội thứ 6)
“Dựng cầu đò, dồi chiền tháp, ngoại trang nghiêm sự tướng hãy tu.
Săn hỷ xả, nhuyễn từ bi, nội tự tại kinh lòng hằng đọc”
(Hội thứ 8)

Con đường Bồ tát gồm hai sự tích tập: tích tập trí huệ (nội) và tich tập phước đức (ngoại). Cũng chính nhờ tích tập trí huệ mà đắc Pháp thân; và tích tập phước đức mà có Báo thân và Hóa thân. Con đường Bồ tát là con đường đầy đủ cả “nội và ngoại”, đầy đủ huệ và phước:

Phúc tuệ gồm no, chỉn mới khá nên người thực cốc (biết)”

(Hội thứ 8)

Chúng ta thấy Trần Nhân Tông là người “Phúc tuệ gồm no”. Con đường Điều Ngự Giác Hoàng đã đi là con đường Bồ tát hạnh. Ngài đã phụng sự không mệt mỏi cho xã hội, cho quốc gia dân tộc và cho chúng sanh cho đến hơi thở cuối cùng.

Sự phụng sự không mệt mỏi đó y cứ trên nền tảng trí huệ, trên nền tảng Thiền:

Biết vậy!
Miễn được lòng rồi
Chẳng còn phép khác
Gìn tính sáng, tính mới hầu an,
Nén niềm vọng, niềm dừng chẳng thác.
Dứt trừ nhân ngã, thì ra tướng thực kim cương,
Dừng hết tham sân, mới lảu lòng màu viên giác.
(Hội 2)
Vậy mới hay
Bụt ở trong nhà, chẳng phải tìm xa
Nhân quên gốc nên ta tìm Bụt
Nếu biết rồi chỉn Bụt là ta.
(Hội 5)

Chúng ta cần học tập, sống theo Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông. Chúng ta cần kế thừa Thiền của Trần Nhân Tông. Thiền ấy đặt hai chân lên cuộc đời cụ thể này bằng Bồ tát hạnh. Bởi vì có đi trên con đường Thiền với Bồ tát hạnh, chúng ta mới tìm thấy ý nghĩa cuộc đời mình và đóng góp phần mình làm cho xã hội sống được một đời sống có ý nghĩa.

Source: thuvienhoasen

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/07/201419:41(Xem: 3682)
Ni sư Thích nữ Hải Triều Hạnh, Pháp Hiệu Hoằng Hạnh, Tự Liễu Như, thế danh Trần Duy Hạnh. Sinh năm Ất Mùi 1955 tại Gia Định sài gòn. Ni Sư sinh trưởng trong 1 gia đình gia giáo. Thân phụ là cụ ông Trần Duy Ninh PD: Hoằng Ninh, vốn là em kết nghĩa của Thầy Hải Triều Âm là một y sĩ cùng làm chung một sở y tế với Thầy, khi Thầy chưa xuất gia cụ ông luôn theo Thầy làm trưởng đoàn công tác từ thiện xã hội và Thân Mẫu là Cụ Bà Nguyễn thị Hoa Truật, pháp danh Mỹ Dung, sau Hòa Thượng Pháp Chủ đổi tên là Cát Tường vốn là vị hộ pháp thân tín trong thời gian Thầy xuất gia, nhập thất và suốt chặng đường hoằng Pháp của Thầy.
03/08/201403:32(Xem: 1941)
Lễ nhập quan được cử hành tại Bình Quang Ni tự vào lúc 18g00 cùng ngày. Lễ phúng viếng bắt đầu từ 8g00 ngày 9-7 Giáp Ngọ (4-8-2014). Lễ truy niệm được cử hành vào lúc 4g00 sáng nay, 12-7 Giáp Ngọ (7-8-2014); lễ phụng tống kim quan vào lúc 6g00 sáng cùng ngày. Nhục thân cố Ni trưởng tới đài hỏa táng núi Dinh, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu làm lễ trà-tỳ. Tro cốt của Ni trưởng sẽ được nhập bảo tháp tại Bình Quang Ni tự. Được biết, cố NT.Thích nữ Huyền Tông thế danh Dương Thị Ngọc Cúc, sinh năm 1918 tại P.Đức Thắng, TP.Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Vì sớm giác ngộ lý vô thường, nên năm 17 tuổi (1936), Ni trưởng cùng người cô của mình là cố Ni trưởng Huyền Học quyết tâm vào Sài Gòn xuất gia với cố Ni trưởng Diệu Tịnh tại chùa Hải Ấn. Đến năm 1940, Ni trưởng được thọ giới Cụ túc tại Giới đàn chùa Vạn An (tỉnh Sa Đéc). Suốt hơn 2/3 thế kỷ tu học và hành đạo, Ni trưởng đã tham gia vào phong trào đấu tranh yêu nước trong cuộc kháng chiến chống Pháp năm 1945, đấu tranh đòi quyền bình đẳng tô
01/06/201707:24(Xem: 2546)
Sư Trưởng pháp húy Hải Triều Âm, tự Đại Thành, hiệu Bác Tế Từ Hòa, thế danh Nguyễn Thị Ni, sinh năm 1920 tại tỉnh Hà Đông, nay thuộc thủ đô Hà Nội. Thân phụ là một công chức người Pháp, cụ ông Etienne Catallan. Thân mẫu là một y sĩ người Việt, cụ bà Nguyễn Thị Đắc. Vì thế Sư Trưởng còn có tên thế tục tiếng Pháp là Eugénie Catallan.
08/04/201320:22(Xem: 3515)
Tôi may mắn được diện kiến Người một lần duy nhất, vào năm 1990, tại Chùa Huê Lâm, Thành phố Hồ Chí Minh. Lúc ấy, tôi làm trợ lý cho thầy Thích Phước Cẩn trong việc vận động phiên dịch và ấn hành Phật Quang Đại Từ Điển. Tôi được Người ân cần khích lệ và truyền trao những kinh nghiệm quý báu về cuộc đời tu học và làm việc Phật sự của Người, trong hơn năm mươi năm qua. Lúc ấy, Người đã tròn 80 tuổi. Sức khỏe của Người còn khá tốt. Tinh thần của Người sáng suốt khác thường. Giọng nói của Người thật từ tốn, nhẹ nhàng.
10/04/201311:04(Xem: 3555)
Hôm nay dưới bóng mát thiền lâm Thiên Thai pháp phái, trước giây phút thiêng liêng tỏa ngát hương đàm, chúng con đang qui tụ về đây, nơi vùng đất Thánh, nơi đã ghi đậm nét lịch sử một đời người xuất thị nhập sơn, tầm rong độ nhật, nơi Ngài đã thể hiện công án thoại đàu, luôn luôn quấn quýt đeo đẳng tâm tư với những tháng năm dài chẻ chia suy cứu- Thiền pháp trầm tịch nhưng hưng suy, trừng thanh nhưng hoạt diễm ấy đến nay vẫn còn phong khí nức hương
10/04/201311:04(Xem: 5370)
Căn cứ theo tài liệu nghiên cứu của Thiền sư Mật Thể trong cuốn Việt Nam Phật Giáo Sử Lược, thì dưới triều chúa Nguyễn ở đàng Trong, phong trào phát triển Phật giáo nói chung và Thiền phái Lâm Tế nói riêng bành trướng rất mạnh mẽ ; đồng thời, đã lưu lại cho nền văn học Phật giáo nhiều kiến trúc mỹ thuật, hội họa rất nổi tiếng. Tuy nhiên, khi nhà Tây Sơn thống nhất đất nước, kéo quân từ Nam ra diệt Nguyễn thì đoàn quân lính nầy đã hủy diệt đi những công trình quý báu đó. Bi ký, chứng liệu bị thất tung.
08/04/201319:01(Xem: 824)
Thế nhưng, cũng như chư vị Thiền Tổ khác, sử cũ Việt Nam ta không có quyển nào ghi chép rõ ràng; thậm chí một dòng bi ký cho thật chính xác khắc trên đá cứng cũng không có. Sách Đại Nam nhất thống chí (1910) chỉ ghi: “Chùa Từ Đàm: Ở trên gò ấp Bình An. Tương truyền chùa do Tử Thông Hòa thượng dựng, lại có tên chùa Ấn Tôn”. Lời ghi chép quá đơn sơ, lại có phần sai nữa. Tử Dung chứ đâu phải là Tử Thông? Những tấm bia đá dựng ở chùa Chúc Thánh - Quảng Nam, lại chỉ nói Ngài là: “Người Đại Thanh, qua An Nam, trác tích Thuận Hóa, lập chùa Ấn Tôn”.
09/04/201319:03(Xem: 3381)
Thầy xuất thân trong một gia đình kính tín Tam bảo. Thầy là con út trong gia đình gồm 6 anh chị em. Cha là cụ Ông Lâm Sanh Thảo, một nhà trí thức yêu nước; Mẹ là cụ Bà Trần Thị Năm, một phật tử thuần túy và cũng là một người Mẹ mẫu mực đảm đang.
25/11/201809:26(Xem: 2527)
Thiền sư Thích Nhất Hạnh là một giáo viên, nhà thơ và nhà hoạt động vì hoà bình được kính nể khắp thế giới, với những lời dạy mạnh mẽ và các cuốn sách bán chạy nhất của Ông về chánh niệm và hòa bình. Thiền sư Thích Nhất Hạnh là một tăng sỹ Phật giáo Việt Nam nổi tiếng trên thế giới. Có tài liệu cho biết, tầm ảnh hưởng của ông trong cộng đồng Phật giáo Phương Tây chỉ đứng sau Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14. Lời dạy chủ yếu của ông là thông qua chánh niệm, chúng ta có thể học sống hạnh phúc trong giây phút hiện tại, cách duy nhất để phát triển hòa bình, cả trong bản thân và toàn xã hội.