Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

HT Thích Phước Huệ

23/09/201019:40(Xem: 2029)
HT Thích Phước Huệ
ht thich phuoc hue

Thời gian trên dưới hơn mười năm nơi xứ người dưới sự lãnh đạo của Hòa Thượng Thích Phước Huệ, Phật giáo Việt Nam tại Úc Châu đã đóng góp vào nền văn hóa đa nguyên thật đáng Kể. 

Ngài đã kiến tạo các cơ sở Phật giáo đã được hình thành và toàn thể Phật giáo đồ cũng có nơi y cứ học hỏi giáo lý. 

Hằng năm, nhiều khoá giảng dạy Phật pháp đã được tổ chức, nhiều khoá hàm thụ giáo lý đã được đem thực hành, đem 'Phật pháp đến nhà'. Giúp đỡ Tăng, Ni sinh du học trong và ngoài nước. 

Đồng thời hàng trăm loại sách xiển dương giáo nghĩa Tịnh độ đã được ấn tống đến toàn thể Phật tử. Những tổ chức tu như Cực Lạc Liên Hữu đã được tổ chức hơn mười hai năm qua, mỗi hai tuần đều có một ngày đêm Thọ Bát Quan Trai, nhóm tu học thiền cũng được nuôi dưỡng và nhóm họp hai tuần một lần ở Chùa. 

Đặt biệt nhất là khoá xuất gia nhắn hạn, tập những người có ý chí tu học có cơ hội sống với cuộc sống thanh tịnh tăng già để lần đến xuất gia thực thụ. Khoá Hạ mỗi năm có nhiều người Xuất gia sau khi tập sự tu học môt tháng.
 




HT Thich Phuoc Hue
Sơ lược Tiểu Sử 

Hòa Thượng Trưởng lão thượng Phước hạ Huệ, 
Pháp Chủ Tổ Đình Phước Huệ, Sydney Úc Đại Lợi. 
(1922-2012)


Hòa Thượng Thích Phước Huệ sanh năm 1922, tại ấp Mỹ Thủy, xã Thạnh Mỹ Lợi, quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định, miền Nam Việt Nam. Thân phụ là cụ ông Trần Văn Hoạch, thân mẫu là cụ bà Lê Thị Ngọc. 

Vào năm 13 tuổi, sau khi tốt nghiệp Tiểu học Pháp-Việt, Người xuất gia với Ngài Thích Đạt Đức, Trụ Trì Chùa Thiền Tôn, ngôi chùa mà người thường cùng bà nội đi lễ Phật. Người được thầy bổn sư ban pháp danh là Lãng Điền. 
Năm 15 tuổi, Ngài nhập chúng ở Chùa Tôn Thạnh, theo sự giáo huấn của sư cụ trụ trì Thích Liễu Thiền. 

Năm 16 tuổi, Ngài thọ giới Sa Di, được thầy Bổn Sư đặt pháp tự là Tắc Phước, pháp hiệu Phước Huệ, thuộc dòng truyền thừa đời thứ 23 của Thiên Thai Tông tính từ bài kệ của Tổ Bá Tòng bên Trung Quốc và là đời thứ 3 của Việt Nam Thiên Thai Giáo Quán tông. 

Năm 21 tuổi, Ngài đăng Tam Đàn thọ cụ túc và đắc giới Tỳ Kheo nơi Sơ Tổ Liễu Thiền. Sau khi trực cư ở các tự viện và học đạo với thầy tổ, ngài trở về chùa Thiền Tôn giúp ngài Đạt Từ tổ chức các sinh hoạt và trông nom bổn đạo. 

Vào năm 1960, trong kỳ Đại hội toàn quốc của giáo hội, Ngài được tấn phong lên phẩm vị Thượng Tọa. 

Năm 1982, tại Úc Đại Lợi, trong kỳ họp lần thứ nhất của Đại Hội Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan, một giáo hội mang tầm vóc quốc gia, lãnh đạo và hỗ trợ cho cộng đồng Phật Giáo Việt Nam tại Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan, Ngài được suy tôn lên ngôi vị Hòa Thượng và từ đó ngài dùng pháp hiệu Phước Huệ làm đạo hiệu. 

Hòa Thượng theo học tại Phật học Đường Liên Hải do Đại Sư Trí Tịnh và Quảng Minh sáng lập. 

Sau này, Hòa Thượng theo học khóa Cao Đẳng Phật Học đầu tiên ở Ấn Quang. 

Ngài trở thành giáo sư giảng dạy tại Ấn Quang. Ngài còn đảm trách giảng dạy Tăng, Ni tại chùa Pháp Hội ở Sài Gòn và Pháp Quang ở Chợ Lớn. 

Ngài cùng đại sư Tịnh Đức thành lập Phật học đường Long Xuyên ở chùa Bình Đức tỉnh An Giang, chi hội Phật học Long Xuyên. 

Ngoài việc giảng dạy, Ngài còn tổ chức khóa huấn luyện Tăng tài GHPGVNTN của miền Khánh Anh, tỉnh An Giang, khóa an cư kiết hạ, huấn luyện hành chánh, tổ chức cho Tăng sĩ, đồng thời kiến lập Đại Giới Đàn Khánh Anh cho giới tử có lòng cầu pháp giải thoát được lãnh thọ giới pháp. 

Hòa Thượng là một trong những giảng sư Phật học nổi tiếng toàn quốc thời bấy giờ. Trong hai thập niên, Hòa Thượng đã được bổ nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trong Giáo Hội Tăng Già Nam Việt và trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất: Giám Viện kiêm Giáo Sư Phật Học Đường Nam Việt, Phật Học Ni trường Dược Sư, tỉnh Gia Định, Đốc Giáo Phật Học Đường Ấn Quang, Phó Tổng Lý nội vụ hội đồng quản trị Tổ Đình Ấn Quang và các cơ sở trực thuộc, Ủy Viên Nghi Lễ Vụ, trực thuộc Tổng Vụ Pháp Sự và là chánh đại diện của miền Phật Giáo Huệ Quang miền Tây Nam phần sáng lập và Giám Đốc trường Trung học Bồ Đề Long Xuyên, quản nhiệm nhà in Sen Vàng do ngài Thiện Hòa thiết lập sau chùa Ấn Quang. Chức vụ cuối cùng của Hòa Thượng là Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Tăng Sự của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, trước khi rời Việt Nam để tiếp tục việc hoằng dương Phật pháp ở hải ngoại. 

Hòa Thượng là một trong những Tăng chức cao cấp và quan trọng của ba tổ chức lớn của Phật giáo: chùa Ấn Quang, Phật Học Đường Nam Việt và GHPGVNTN. 

Trong thời gian hoằng pháp tại Việt Nam, Hòa Thượng đã trùng tu, tiếp nhận và kiến lập nhiều ngôi chùa như chùa Thiền Tôn, nay ở đường Nguyễn Thị Định, Quận 2, chùa Phước Huệ ở xã Trảng Bom, Quận Đức Tu, tỉnh Biên Hòa, chùa Phước Thạnh ở Rạch Ròi do Pháp sư Thiện Thuận trụ trì, chùa Quảng Đức tại cơ sở của chi hội Phật học Long Xuyên, chùa Bửu Long ở Mỹ Luông, An Giang. 


Nhân Duyên Phát Triển Phật Giáo ở Úc Châu

Hòa thượng đến Úc vào năm 1980 tại thành phố Melbourne và chọn thành phố Fairfield, Sydney để cư trú. 

Năm 1981, ngài lập Niệm Phật Đường Phước Huệ tại Fairfield, sau khi chuyển đổi về một địa điểm khác cùng vùng thì lấy tên chùa Phước Huệ. 

Cuối năm 1981, Ngài thành lập Tổng Hội Phật Giáo Úc Châu và Tân Tây Lan, sau nầy gọi là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan, một giáo hội mang tầm vóc quốc gia, lãnh đạo và hỗ trợ cho cộng đồng Phật Giáo Việt Nam tại Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan, Hòa Thượng là Viện Trưởng Viện Hoằng Đạo. 

Năm 1987, Hòa Thượng và Thủ hiến Barrie Unworth cùng hành lễ đặt móng xây dựng Phước Huệ Công Đức Tòng Lâm tại Wetherill Park NSW. 

Vào năm 2001, chùa Phước Huệ là ngôi chùa đầu tiên ở Nam bán cầu được hân hạnh tổ chức Đại Hội Ban Chấp Hành Hội Đồng Phật Giáo Tăng Già Thế Giới nhiệm kỳ 7 lần thứ I và Đại Hội Khoáng Đại Thanh Niên Tăng Già Thế Giới lần thứ 3. Đây là lần đầu tiên tại Úc Châu, một đại hội Phật giáo quy mô mang tầm vóc quốc tế, với sự hiện diện gần 200 chư Tôn Đức Tăng Ni đến từ trên 24 quốc gia, bàn thảo, hội họp về nhiều đề tài quan trọng. 

Đầu năm 2002, ngài sang Thái Lan cung thỉnh chín viên Xá Lợi bao gồm tóc, xương, răng của Phật được tôn trí ở bảo tháp Xá Lợi Phật tại chùa Phước Huệ. Đây là bảo tháp đầu tiên của Phật giáo Việt Nam được xây trên nước Úc. 

Hòa Thượng đã trực tiếp và gián tiếp tác động cho nhiều ngôi chùa được xây cất tại Victoria và NSW. Ngài cũng làm lễ chứng minh đặt viên đá xây dựng Phước Huệ Đạo Tràng tại Mỹ quốc, chùa Quang Minh và chùa Hoa Nghiêm ở Victoria, Úc Đại Lợi. 

Cuối năm 2003, Hòa Thượng khai mở Đại Tòng Lâm Phật Giáo trên khu đất 24 mẫu, vùng Peatridge, thành phố Gosford, tiểu bang New South Wales. 

Trong các chuyến đi Phật sự, Hòa thượng Phước Huệ tiếp nhận thêm nhiều chùa vào hệ phái Phước Huệ Công Đức Tòng Lâm như chùa Dược Sư do Ni sư Như Hòa trụ trì, chùa Phổ Hiền do thượng toạ Duy Tín trụ trì, chùa Từ Bi Quan Âm do thầy Minh Đạo trụ trì, chùa Phật Bửu do sư cô Minh Phước trụ trì, chùa Bảo Quang do Đại đức Phước Quang trụ trì, chùa Phổ Đà Nam Hải ở Noumea. Hòa Thượng Phước Huệ là vị Tăng Việt Nam đầu tiên truyền bá và phát triển Phật giáo Việt Nam vào hòn đảo New Caledonia. 

Để có người truyền trì mạng mạch Phật giáo cũng như tông môn, Hòa Thượng thường kiến lập giới đàn để truyền trao giới pháp cho những vị có lòng mong cầu. 

Ngài còn tổ chức đại hội Liên Hữu Phước Huệ đạo tràng, các khóa tu học đoản kỳ vào mỗi cuối năm theo truyền thống tu học xuất gia ngắn hạn của Phật Giáo Nguyên Thủy, khóa an cư ba tháng tại chùa Phước Huệ vào dịp mùa đông bên Úc, khóa huấn luyện trụ trì, hoằng pháp và hành chánh cho chư Tăng, Ni và Phật tử theo hình thức gia giáo, các khóa Phật học căn bản, khóa Phật pháp hàm thụ cho các Phật tử tại gia để nâng cao trình độ giáo lý. 

Ngài chú trọng tới việc gìn giữ văn hóa Phật Giáo và dân tộc. Ở Úc Châu, ngài khai mở trường Việt Ngữ Bồ Đề, sau nhiều năm, trường phát triển thành ba trường: Bồ Đề 1 tới 3. Ngài chủ trương và khuyến khích đệ tử Tăng, Ni học thêm ngoại điển để sử dụng vào việc hoằng dương Phật pháp. Tuy nhiên, Ngài luôn đặt trọng điểm cho Tăng, Ni trau dồi nội điển. 

Hòa Thượng đã nhiều lần đại diện giáo hội và Phật giáo Úc Châu tham dự đại hội Phật giáo như đại hội Phật giáo đồ hữu nghị thế giới tại Nepal, đại hội Liên Hữu Phật giáo thế giới được tổ chức bởi Phật giáo Đài Loan, đại hội Tăng Già Phật Giáo Thế Giới được tổ chức ở Đài Bắc, đại hội Hữu Nghị Phật Giáo Thế Giới ở Nam Hàn, đại hội Liên Hữu Phật giáo thế giới tại chùa Nam Thiên ở Úc Châu, Đại Hội Ban Chấp Hành nhiệm kỳ sáu lần thứ 2 của Hội Đồng Phật Giáo Tăng Già Thế Giới tại Colombo, Tích Lan, đại hội Hữu Nghị Liên Tôn ở Jakarta, Indonesia, Hội Nghị Liên Tôn tại Cebu, Philipines được tổ chức bởi chính phủ các nước Á Châu. 

Năm 1995 Hòa Thượng được cung thỉnh vào ngôi vị trưởng lão của Hội Đồng Phật Giáo Tăng Già Thế giới được tổ chức ở Mã Lai. 

Ngoài việc tham dự đại hội và làm các Phật sự, Ngài còn thăm viếng và ủy lạo các trại tị nạn ở Thái Lan, Hồng Kông, Mã Lai, Nam Dương và Phi Luật Tân, giúp đỡ tiền bạc, quần áo cho đồng bào tị nạn Việt Nam. Ngài cũng mang sách vở Phật giáo, giảng giáo lý và quy y cho rất nhiều người. Ngài thành lập hội cứu trợ tị nạn và dùng danh nghĩa của GHPGVNTN Úc Châu và Tân Tây Lan để bảo trợ và lãnh nhiều Tăng, Ni cùng đồng bào Việt Nam sống ở các trại tị nạn về định cư trên nước Úc. 

Ngài luôn quan tâm tới vấn đề an sinh cứu tế đồng bào khi gặp cảnh thiên tai, khó khăn. Ngài thành lập và là Chủ Tịch Hội Từ Thiện Phật Giáo Úc Việt có tên ngắn là VABAT (Vietnamese- Australian Buddhist Assistance Trust), cứu trợ nhiều nơi trên thế giới và mổ mắt cườm cho đồng bào Việt Nam. 

Ngài và ông Philip Ruddock là Tổng Trưởng Di Trú và Đa Văn Hóa Sự Vụ, sau này là Tổng Trưởng Tư Pháp cùng chủ trì các buổi lễ nhập quốc tịch Úc do Bộ Di Trú liên bang phối hợp với GHPGVNTN Úc Châu và Tân Tây Lan tổ chức cho đa số là đồng bào Việt Nam tại chùa Phước Huệ và chùa Quang Minh. 

Hoà Thượng đã làm việc với các tổ chức như Hội đồng Tăng Già Phật Giáo Thế Giới, Liên Hữu Phật Giáo Thế Giới, Đại Hội Tôn Giáo và Hòa Bình Thế Giới, Viện Triển Lãm Nghệ Thuật của Tiểu Bang NSW, Viện Đại Học Miền Tây Sydney và Bộ Di Trú trong việc phát triển Phật giáo và văn hóa Việt Nam tới Cộng đồng Úc Đại Lợi. 

Nhằm vào ngày quốc khánh Úc, năm 1995, Ngài Toàn quyền Úc Đại Lợi đại diện Nữ Hoàng Anh quốc trao tặng Hòa Thượng Phước Huệ huy chương “Order Australia Medal” OAM, vì những đóng góp tích cực xây dựng cho nước Úc trên nhiều bình diện khác nhau và vì công lao phục vụ cộng đồng của Hòa Thượng. 

Gần suốt cuộc đời của Hòa Thượng, khi bắt đầu tuổi niên thiếu thì xuất gia học đạo, trở thành vị Tăng tài phục vụ đạo Pháp, chưa hề ngừng nghỉ, quả là công hạnh lớn lao. Sự hoằng pháp của ngài không chỉ đến với người Việt Nam mà còn ảnh hưởng đến người Tây Phương ở các quốc gia như Úc, Tân Tây Lan, Mỹ và New Caledonia. Những điều ngài làm đã góp phần gieo giống Bồ Đề, tỏa sáng giáo lý Phật đà ở các nước kể trên. 

Hòa Thượng hiện là Tông Trưởng Phước Huệ Sơn Môn Học Phái, Pháp Chủ Tổ Đình Phước Huệ, tại Wetherill Park, tiểu bang NSW, nguyên Viện Trưởng Viện Hoằng Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Úc Đại Lợi – Tân Tây Lan, cựu Chủ Tịch Tổng Hội Phật Giáo Úc Đại Lợi (Buddhist Federation of Australia), là một thành viên lâu năm trong Hội Đồng Trưởng Lão của Hội đồng Tăng Già Phật Giáo Thế giới, Hòa thượng có lẽ đã là vị lãnh đạo Phật giáo thâm niên và cao cấp nhất tại Úc đại Lợi. 

Hòa Thượng Trưởng lão đã an nhiên xả bỏ báo thân vào ngày thứ Bảy 28 tháng Giêng năm 2012, hưởng thọ 91 tuổi, bảy mươi pháp lạp.

Tổ đính Phước Huệ

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22/09/201609:25(Xem: 3517)
Tiếng chuông đại hồng sớm hôm ngân nga đồng vọng giữa núi rừng trùng điệp Bà Nà kia , thức tỉnh du khách nhoài người thức dậy trong sương sớm trên núi cao, ngồi bên tách trà nhìn về Đà Nẵng, nhìn bằng Tâm để thấy rằng con người bé nhỏ li ti như những con kiến kia đang lăng xăng hoạt động trong cõi đời này, dưới phố thị lao xao, để làm gì ? Và khi chết rồi sẽ đi về đâu ? Những nghi vấn bức thiết như thế nếu có được, cũng là từ âm thanh đồng vọng xa xăm trong nỗi nhớ của chiếc xe Hon Đa một thời leo núi, một thời dấn thân cho đời cho đạo, để cho thế đạo vững vàng không chênh vênh khúc khuỷu như nếp gấp của con đường leo núi Bà Nà.
10/03/201204:11(Xem: 3351)
Thời gian trôi nhanh như bóng câu qua cửa sổ! Mới hôm nào mà Hòathượng Thích Trí Thủ đã tiễn chân tôi ra sân bay đi Hà Nội để giảng cho trường Cao cấp Phật học tại chùa QuánSứ, mà bây giờ đã gần đến ngày giỗ đầu của Hòa Thượng.
10/04/201311:05(Xem: 3571)
Hòa thượng thuộc dòng Thiền Lâm Tế đời thứ 39, pháp danh Ngộ Đạo hiệu Từ Vân. Thế danh Đinh Công Thân, sinh năm Bính Dần (1866) Niên hiệu Tự Đức năm thứ 20, tại làng Định Yên, Lấp Vò, (nay là Đồng Tháp). Thân phụ là Cụ ông Đinh Công Thành và thân mẫu là cụ bà Lê Thị Hoài. Gia đình 7 anh em, Ngài thứ tư. Sinh trong gia đình trung lưu phúc hậu, theo truyền thống đạo Phật.
08/08/201318:44(Xem: 33100)
Cho mãi đến ngày hôm nay, 40 năm sau Cố Hòa Thượng Thích Quảng Đức, vị pháp thiêu thân (ngày 20/4 năm Quý Mão - 1963) bóng cây Bồ Đề của Ngài vẫn còn mát mẻ gội nhuần khắp cõi nhân gian, nhất là trong hàng Phật tử Việt Nam, trong nước cũng như ở hải ngoại. Kể cả người ngoại quốc, Âu, Mỹ khi nghe nói đến Việt Nam và Phật Giáo Việt Nam, ít nhiều gì họ cũng nhắc đến hình ảnh hy sinh bất khuất của Bồ Tát Thích Quảng Đức. Nhắc đến với một niềm kính phục, trân quý.
22/01/201507:17(Xem: 3851)
Phật giáo Việt Nam vào cuối thế kỷ 20, Thiền sư Duy Lực đã thắp sáng lại ngọn đèn thiền, tô đậm nét Tông chỉ Tổ Đạt Ma, khôi phục Tổ sư thiền Việt Nam, trải qua hơn 20 năm chuyên hoằng dương Tổ Sư Thiền (dạy tham thiền thoại đầu) ở Việt Nam và các nước trên thế giới. Ngài xuất gia tại Từ Ân Thiền Tự, Chợ Lớn, Sài Gòn, thọ giới Tam Đàn Cụ Túc tại Chùa Cực Lạc Malaysia vào Tháng 05 năm 1974. Từ đó Ngài chuyên tham câu thoại đầu “Khi chưa có trời đất ta là cái gì?” trải qua nhiều năm, một hôm do đọc quyển Trung Quán Luận đến câu: “Do có nghĩa Không nên thành tựu tất cả pháp” đốn ngộ ý chỉ “Từ Không Hiển Dụng”.
11/08/201102:30(Xem: 5043)
Tôi với Ni Sư không cùng chung một lớp nhưng lại chung một trường. Thành phố Huế chỉ lớn bằng bàn tay nên dù không quen cũng thành quen, chuyện lớn chuyện nhỏ gì của nhau rồi dần dà cũng biết cả, nhất là Ni Sư lại là một người học trò giỏi nữa. Thuở ấy Ni Sư là một nữ sinh Đồng Khánh áo trắng tóc thề, mắt sáng, da đã trắng mà má lại luôn luôn ửng hồng xinh xắn vô cùng, nên Tôn Nữ Hỷ Khương đã làm tặng Ni Sư mấy câu thơ như sau:
10/04/201311:09(Xem: 4530)
Ni Trưởng họ Hứa húy Thị Hai, sinh ngày 07 / 07 năm Ất Sửu (1925 ), tại làng Tân Nhựt, tỉnh Chợ Lớn – Sài Gòn. Thân phụ là ông Hứa Khắc Lợi; Thân mẫu là cụ bà Ngô Thị Năng; Gia đình có 02 người con, Ni Trưởng là chị cả và người em trai là Hứa Khắc Tuấn.
10/04/201311:10(Xem: 3819)
Ni Trưởng Thích Nữ Hạnh Viên Tọa Chủ Chùa Linh Sơn, phường Vĩnh Nguyên, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Ni Trưởng, thế danh BÙI THỊ HẢI, húy thượng TÂM hạ ĐĂNG. Tự HẠNH VIÊN, hiệu CHƠN NHƯ, đời thứ 43 dòng Lâm Tế.
30/07/201319:21(Xem: 8800)
Cố Thượng tọa THÍCH CHÁNH LẠC, thế danh Nguyễn Ngọc Quang, Pháp danh Nguyên An, hiệu Chánh Lạc, sinh ngày 07 tháng 12 năm Canh Dần (1950) trong một gia đình có truyền thống Phật giáo, tại thôn Khái Ðông, xã Hòa Hải huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam, nay là phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, Thành phố Ðà Nẵng, thuộc danh lam thắng tích Ngũ Hành Sơn - Non Nước.
31/05/201115:26(Xem: 6387)
Quy ẩn, thế thôi ! (Viết để thương một vị Thầy, mỗi lần gặp nhau thường nói “mình có bạn rồi” dù chỉtrong một thời gian rất ngắn. Khi Thầy và tôi cách biệt, thỉnh thoảng còn gọi điệnthoại thăm nhau) Hôm nay Thầy đã đi rồi Sắc không hai nẻo xa xôi muôn ngàn Ai đem lay ánh trăng vàng Để cho bóng nguyệt nhẹ nhàng lung linh Vô thường khép mở tử sinh Rong chơi phù thế bóng hình bụi bay Bảo rằng, bản thể xưa nay Chơn như hằng viễn tỏ bày mà chi