Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

HT Thích Phước Huệ

23/09/201019:40(Xem: 2015)
HT Thích Phước Huệ
ht thich phuoc hue

Thời gian trên dưới hơn mười năm nơi xứ người dưới sự lãnh đạo của Hòa Thượng Thích Phước Huệ, Phật giáo Việt Nam tại Úc Châu đã đóng góp vào nền văn hóa đa nguyên thật đáng Kể. 

Ngài đã kiến tạo các cơ sở Phật giáo đã được hình thành và toàn thể Phật giáo đồ cũng có nơi y cứ học hỏi giáo lý. 

Hằng năm, nhiều khoá giảng dạy Phật pháp đã được tổ chức, nhiều khoá hàm thụ giáo lý đã được đem thực hành, đem 'Phật pháp đến nhà'. Giúp đỡ Tăng, Ni sinh du học trong và ngoài nước. 

Đồng thời hàng trăm loại sách xiển dương giáo nghĩa Tịnh độ đã được ấn tống đến toàn thể Phật tử. Những tổ chức tu như Cực Lạc Liên Hữu đã được tổ chức hơn mười hai năm qua, mỗi hai tuần đều có một ngày đêm Thọ Bát Quan Trai, nhóm tu học thiền cũng được nuôi dưỡng và nhóm họp hai tuần một lần ở Chùa. 

Đặt biệt nhất là khoá xuất gia nhắn hạn, tập những người có ý chí tu học có cơ hội sống với cuộc sống thanh tịnh tăng già để lần đến xuất gia thực thụ. Khoá Hạ mỗi năm có nhiều người Xuất gia sau khi tập sự tu học môt tháng.
 




HT Thich Phuoc Hue
Sơ lược Tiểu Sử 

Hòa Thượng Trưởng lão thượng Phước hạ Huệ, 
Pháp Chủ Tổ Đình Phước Huệ, Sydney Úc Đại Lợi. 
(1922-2012)


Hòa Thượng Thích Phước Huệ sanh năm 1922, tại ấp Mỹ Thủy, xã Thạnh Mỹ Lợi, quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định, miền Nam Việt Nam. Thân phụ là cụ ông Trần Văn Hoạch, thân mẫu là cụ bà Lê Thị Ngọc. 

Vào năm 13 tuổi, sau khi tốt nghiệp Tiểu học Pháp-Việt, Người xuất gia với Ngài Thích Đạt Đức, Trụ Trì Chùa Thiền Tôn, ngôi chùa mà người thường cùng bà nội đi lễ Phật. Người được thầy bổn sư ban pháp danh là Lãng Điền. 
Năm 15 tuổi, Ngài nhập chúng ở Chùa Tôn Thạnh, theo sự giáo huấn của sư cụ trụ trì Thích Liễu Thiền. 

Năm 16 tuổi, Ngài thọ giới Sa Di, được thầy Bổn Sư đặt pháp tự là Tắc Phước, pháp hiệu Phước Huệ, thuộc dòng truyền thừa đời thứ 23 của Thiên Thai Tông tính từ bài kệ của Tổ Bá Tòng bên Trung Quốc và là đời thứ 3 của Việt Nam Thiên Thai Giáo Quán tông. 

Năm 21 tuổi, Ngài đăng Tam Đàn thọ cụ túc và đắc giới Tỳ Kheo nơi Sơ Tổ Liễu Thiền. Sau khi trực cư ở các tự viện và học đạo với thầy tổ, ngài trở về chùa Thiền Tôn giúp ngài Đạt Từ tổ chức các sinh hoạt và trông nom bổn đạo. 

Vào năm 1960, trong kỳ Đại hội toàn quốc của giáo hội, Ngài được tấn phong lên phẩm vị Thượng Tọa. 

Năm 1982, tại Úc Đại Lợi, trong kỳ họp lần thứ nhất của Đại Hội Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan, một giáo hội mang tầm vóc quốc gia, lãnh đạo và hỗ trợ cho cộng đồng Phật Giáo Việt Nam tại Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan, Ngài được suy tôn lên ngôi vị Hòa Thượng và từ đó ngài dùng pháp hiệu Phước Huệ làm đạo hiệu. 

Hòa Thượng theo học tại Phật học Đường Liên Hải do Đại Sư Trí Tịnh và Quảng Minh sáng lập. 

Sau này, Hòa Thượng theo học khóa Cao Đẳng Phật Học đầu tiên ở Ấn Quang. 

Ngài trở thành giáo sư giảng dạy tại Ấn Quang. Ngài còn đảm trách giảng dạy Tăng, Ni tại chùa Pháp Hội ở Sài Gòn và Pháp Quang ở Chợ Lớn. 

Ngài cùng đại sư Tịnh Đức thành lập Phật học đường Long Xuyên ở chùa Bình Đức tỉnh An Giang, chi hội Phật học Long Xuyên. 

Ngoài việc giảng dạy, Ngài còn tổ chức khóa huấn luyện Tăng tài GHPGVNTN của miền Khánh Anh, tỉnh An Giang, khóa an cư kiết hạ, huấn luyện hành chánh, tổ chức cho Tăng sĩ, đồng thời kiến lập Đại Giới Đàn Khánh Anh cho giới tử có lòng cầu pháp giải thoát được lãnh thọ giới pháp. 

Hòa Thượng là một trong những giảng sư Phật học nổi tiếng toàn quốc thời bấy giờ. Trong hai thập niên, Hòa Thượng đã được bổ nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trong Giáo Hội Tăng Già Nam Việt và trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất: Giám Viện kiêm Giáo Sư Phật Học Đường Nam Việt, Phật Học Ni trường Dược Sư, tỉnh Gia Định, Đốc Giáo Phật Học Đường Ấn Quang, Phó Tổng Lý nội vụ hội đồng quản trị Tổ Đình Ấn Quang và các cơ sở trực thuộc, Ủy Viên Nghi Lễ Vụ, trực thuộc Tổng Vụ Pháp Sự và là chánh đại diện của miền Phật Giáo Huệ Quang miền Tây Nam phần sáng lập và Giám Đốc trường Trung học Bồ Đề Long Xuyên, quản nhiệm nhà in Sen Vàng do ngài Thiện Hòa thiết lập sau chùa Ấn Quang. Chức vụ cuối cùng của Hòa Thượng là Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Tăng Sự của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, trước khi rời Việt Nam để tiếp tục việc hoằng dương Phật pháp ở hải ngoại. 

Hòa Thượng là một trong những Tăng chức cao cấp và quan trọng của ba tổ chức lớn của Phật giáo: chùa Ấn Quang, Phật Học Đường Nam Việt và GHPGVNTN. 

Trong thời gian hoằng pháp tại Việt Nam, Hòa Thượng đã trùng tu, tiếp nhận và kiến lập nhiều ngôi chùa như chùa Thiền Tôn, nay ở đường Nguyễn Thị Định, Quận 2, chùa Phước Huệ ở xã Trảng Bom, Quận Đức Tu, tỉnh Biên Hòa, chùa Phước Thạnh ở Rạch Ròi do Pháp sư Thiện Thuận trụ trì, chùa Quảng Đức tại cơ sở của chi hội Phật học Long Xuyên, chùa Bửu Long ở Mỹ Luông, An Giang. 


Nhân Duyên Phát Triển Phật Giáo ở Úc Châu

Hòa thượng đến Úc vào năm 1980 tại thành phố Melbourne và chọn thành phố Fairfield, Sydney để cư trú. 

Năm 1981, ngài lập Niệm Phật Đường Phước Huệ tại Fairfield, sau khi chuyển đổi về một địa điểm khác cùng vùng thì lấy tên chùa Phước Huệ. 

Cuối năm 1981, Ngài thành lập Tổng Hội Phật Giáo Úc Châu và Tân Tây Lan, sau nầy gọi là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan, một giáo hội mang tầm vóc quốc gia, lãnh đạo và hỗ trợ cho cộng đồng Phật Giáo Việt Nam tại Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan, Hòa Thượng là Viện Trưởng Viện Hoằng Đạo. 

Năm 1987, Hòa Thượng và Thủ hiến Barrie Unworth cùng hành lễ đặt móng xây dựng Phước Huệ Công Đức Tòng Lâm tại Wetherill Park NSW. 

Vào năm 2001, chùa Phước Huệ là ngôi chùa đầu tiên ở Nam bán cầu được hân hạnh tổ chức Đại Hội Ban Chấp Hành Hội Đồng Phật Giáo Tăng Già Thế Giới nhiệm kỳ 7 lần thứ I và Đại Hội Khoáng Đại Thanh Niên Tăng Già Thế Giới lần thứ 3. Đây là lần đầu tiên tại Úc Châu, một đại hội Phật giáo quy mô mang tầm vóc quốc tế, với sự hiện diện gần 200 chư Tôn Đức Tăng Ni đến từ trên 24 quốc gia, bàn thảo, hội họp về nhiều đề tài quan trọng. 

Đầu năm 2002, ngài sang Thái Lan cung thỉnh chín viên Xá Lợi bao gồm tóc, xương, răng của Phật được tôn trí ở bảo tháp Xá Lợi Phật tại chùa Phước Huệ. Đây là bảo tháp đầu tiên của Phật giáo Việt Nam được xây trên nước Úc. 

Hòa Thượng đã trực tiếp và gián tiếp tác động cho nhiều ngôi chùa được xây cất tại Victoria và NSW. Ngài cũng làm lễ chứng minh đặt viên đá xây dựng Phước Huệ Đạo Tràng tại Mỹ quốc, chùa Quang Minh và chùa Hoa Nghiêm ở Victoria, Úc Đại Lợi. 

Cuối năm 2003, Hòa Thượng khai mở Đại Tòng Lâm Phật Giáo trên khu đất 24 mẫu, vùng Peatridge, thành phố Gosford, tiểu bang New South Wales. 

Trong các chuyến đi Phật sự, Hòa thượng Phước Huệ tiếp nhận thêm nhiều chùa vào hệ phái Phước Huệ Công Đức Tòng Lâm như chùa Dược Sư do Ni sư Như Hòa trụ trì, chùa Phổ Hiền do thượng toạ Duy Tín trụ trì, chùa Từ Bi Quan Âm do thầy Minh Đạo trụ trì, chùa Phật Bửu do sư cô Minh Phước trụ trì, chùa Bảo Quang do Đại đức Phước Quang trụ trì, chùa Phổ Đà Nam Hải ở Noumea. Hòa Thượng Phước Huệ là vị Tăng Việt Nam đầu tiên truyền bá và phát triển Phật giáo Việt Nam vào hòn đảo New Caledonia. 

Để có người truyền trì mạng mạch Phật giáo cũng như tông môn, Hòa Thượng thường kiến lập giới đàn để truyền trao giới pháp cho những vị có lòng mong cầu. 

Ngài còn tổ chức đại hội Liên Hữu Phước Huệ đạo tràng, các khóa tu học đoản kỳ vào mỗi cuối năm theo truyền thống tu học xuất gia ngắn hạn của Phật Giáo Nguyên Thủy, khóa an cư ba tháng tại chùa Phước Huệ vào dịp mùa đông bên Úc, khóa huấn luyện trụ trì, hoằng pháp và hành chánh cho chư Tăng, Ni và Phật tử theo hình thức gia giáo, các khóa Phật học căn bản, khóa Phật pháp hàm thụ cho các Phật tử tại gia để nâng cao trình độ giáo lý. 

Ngài chú trọng tới việc gìn giữ văn hóa Phật Giáo và dân tộc. Ở Úc Châu, ngài khai mở trường Việt Ngữ Bồ Đề, sau nhiều năm, trường phát triển thành ba trường: Bồ Đề 1 tới 3. Ngài chủ trương và khuyến khích đệ tử Tăng, Ni học thêm ngoại điển để sử dụng vào việc hoằng dương Phật pháp. Tuy nhiên, Ngài luôn đặt trọng điểm cho Tăng, Ni trau dồi nội điển. 

Hòa Thượng đã nhiều lần đại diện giáo hội và Phật giáo Úc Châu tham dự đại hội Phật giáo như đại hội Phật giáo đồ hữu nghị thế giới tại Nepal, đại hội Liên Hữu Phật giáo thế giới được tổ chức bởi Phật giáo Đài Loan, đại hội Tăng Già Phật Giáo Thế Giới được tổ chức ở Đài Bắc, đại hội Hữu Nghị Phật Giáo Thế Giới ở Nam Hàn, đại hội Liên Hữu Phật giáo thế giới tại chùa Nam Thiên ở Úc Châu, Đại Hội Ban Chấp Hành nhiệm kỳ sáu lần thứ 2 của Hội Đồng Phật Giáo Tăng Già Thế Giới tại Colombo, Tích Lan, đại hội Hữu Nghị Liên Tôn ở Jakarta, Indonesia, Hội Nghị Liên Tôn tại Cebu, Philipines được tổ chức bởi chính phủ các nước Á Châu. 

Năm 1995 Hòa Thượng được cung thỉnh vào ngôi vị trưởng lão của Hội Đồng Phật Giáo Tăng Già Thế giới được tổ chức ở Mã Lai. 

Ngoài việc tham dự đại hội và làm các Phật sự, Ngài còn thăm viếng và ủy lạo các trại tị nạn ở Thái Lan, Hồng Kông, Mã Lai, Nam Dương và Phi Luật Tân, giúp đỡ tiền bạc, quần áo cho đồng bào tị nạn Việt Nam. Ngài cũng mang sách vở Phật giáo, giảng giáo lý và quy y cho rất nhiều người. Ngài thành lập hội cứu trợ tị nạn và dùng danh nghĩa của GHPGVNTN Úc Châu và Tân Tây Lan để bảo trợ và lãnh nhiều Tăng, Ni cùng đồng bào Việt Nam sống ở các trại tị nạn về định cư trên nước Úc. 

Ngài luôn quan tâm tới vấn đề an sinh cứu tế đồng bào khi gặp cảnh thiên tai, khó khăn. Ngài thành lập và là Chủ Tịch Hội Từ Thiện Phật Giáo Úc Việt có tên ngắn là VABAT (Vietnamese- Australian Buddhist Assistance Trust), cứu trợ nhiều nơi trên thế giới và mổ mắt cườm cho đồng bào Việt Nam. 

Ngài và ông Philip Ruddock là Tổng Trưởng Di Trú và Đa Văn Hóa Sự Vụ, sau này là Tổng Trưởng Tư Pháp cùng chủ trì các buổi lễ nhập quốc tịch Úc do Bộ Di Trú liên bang phối hợp với GHPGVNTN Úc Châu và Tân Tây Lan tổ chức cho đa số là đồng bào Việt Nam tại chùa Phước Huệ và chùa Quang Minh. 

Hoà Thượng đã làm việc với các tổ chức như Hội đồng Tăng Già Phật Giáo Thế Giới, Liên Hữu Phật Giáo Thế Giới, Đại Hội Tôn Giáo và Hòa Bình Thế Giới, Viện Triển Lãm Nghệ Thuật của Tiểu Bang NSW, Viện Đại Học Miền Tây Sydney và Bộ Di Trú trong việc phát triển Phật giáo và văn hóa Việt Nam tới Cộng đồng Úc Đại Lợi. 

Nhằm vào ngày quốc khánh Úc, năm 1995, Ngài Toàn quyền Úc Đại Lợi đại diện Nữ Hoàng Anh quốc trao tặng Hòa Thượng Phước Huệ huy chương “Order Australia Medal” OAM, vì những đóng góp tích cực xây dựng cho nước Úc trên nhiều bình diện khác nhau và vì công lao phục vụ cộng đồng của Hòa Thượng. 

Gần suốt cuộc đời của Hòa Thượng, khi bắt đầu tuổi niên thiếu thì xuất gia học đạo, trở thành vị Tăng tài phục vụ đạo Pháp, chưa hề ngừng nghỉ, quả là công hạnh lớn lao. Sự hoằng pháp của ngài không chỉ đến với người Việt Nam mà còn ảnh hưởng đến người Tây Phương ở các quốc gia như Úc, Tân Tây Lan, Mỹ và New Caledonia. Những điều ngài làm đã góp phần gieo giống Bồ Đề, tỏa sáng giáo lý Phật đà ở các nước kể trên. 

Hòa Thượng hiện là Tông Trưởng Phước Huệ Sơn Môn Học Phái, Pháp Chủ Tổ Đình Phước Huệ, tại Wetherill Park, tiểu bang NSW, nguyên Viện Trưởng Viện Hoằng Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Úc Đại Lợi – Tân Tây Lan, cựu Chủ Tịch Tổng Hội Phật Giáo Úc Đại Lợi (Buddhist Federation of Australia), là một thành viên lâu năm trong Hội Đồng Trưởng Lão của Hội đồng Tăng Già Phật Giáo Thế giới, Hòa thượng có lẽ đã là vị lãnh đạo Phật giáo thâm niên và cao cấp nhất tại Úc đại Lợi. 

Hòa Thượng Trưởng lão đã an nhiên xả bỏ báo thân vào ngày thứ Bảy 28 tháng Giêng năm 2012, hưởng thọ 91 tuổi, bảy mươi pháp lạp.

Tổ đính Phước Huệ

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19/12/201909:53(Xem: 1316)
Tôi biết đến Ni Sư Giới Hương 22 năm về trước, khi tôi du học đến Delhi, Ấn Độ. Đó là lúc Hội Lưu Học Sinh Việt Nam họp bàn kế hoạch tham quan Taj Mahal và danh lam thắng cảnh ở Delhi trước khi vào khóa học Mùa Thu, 08/1997. Vì NS Giới Hương đã du học Ấn Độ trước chúng tôi 2 năm và học ở Cử Nhân Phật Học, Đại Học Vạn Hạnh trước chúng tôi 1 Khóa ( NS học Khóa II, còn tôi Khóa III), nhưng những ấn tượng đầu tiên của chúng tôi lúc đó đối với Ni Sư là : gần gũi, thân thiện, hay giúp đỡ người khác, khiêm tốn, Anh Văn khá lưu loát, trân trọng những người xung quanh, vâng giữ Bát Kỉnh Pháp (thể hiện sự tôn Kính đối với những vị Tỳ Kheo cho dù nhỏ tuổi Đời và Đạo hơn mình). Chắc hẳn nhiều Ni Sinh trong Khóa chúng tôi mơ ước và thầm hỏi : không biết đến khi nào biết rành Anh Ngữ và Delhi như Ni Sư dạo ấy. Chuyến tham quan đó có nhiều kỷ niệm vui và diễn ra tốt đẹp. Mới đó mà đã hơn 20 năm trôi qua, cho đến nay, tôi nhận được lời mời viết bài đóng góp cho Kỷ Yếu : “Tuyển Tập 40 Năm Tu Học và Hoằ
01/09/201320:39(Xem: 88367)
Chết và tái sinh. Thích Nguyên Tạng (sách, tái bản 2007) Phật giáo khắp thế giới . Thích Nguyên Tạng (sách) Pháp Sư Tịnh Không, người truyền bá giáo lý Tịnh Độ (sách) Từ bi và nhân cách . Dalai Lama. Thích Nguyên Tạng dịch (sách) Pháp ngữ của Hòa Thượng Tịnh Không . T. Ng. Tạng dịch (sách) Hỏi hay đáp đúng . Ven. Dhammika. Thích Nguyên Tạng dịch (sách) Các Bộ Phái Phật Giáo ở Ấn Độ. Dr.Nalinaksha Dutt.T Ng. Tạng dịch (sách)
07/08/201718:25(Xem: 2293)
Lúc đầu định đi vào các nhà tù cho biết, vậy mà suốt bốn năm qua, ròng rã hằng tuần, ông vào những nơi này để giúp cho các tù nhân. Từ lúc chỉ đi hai, ba nhà tù, đến nay ông đã đi bảy nơi ở Nam California. Dù đoạn đường từ nơi ông ở đến các nhà tù phần lớn đều trên 200 dặm, nhưng cứ mỗi lần rong ruổi, ông thầm cảm ơn Đức Phật đã đưa đường chỉ lối cho ông.
10/04/201311:08(Xem: 3775)
Sư Cô Thích Nữ Liên Thi, tên đời Hồ Thị Kim Cúc, sinh ngày 20 tháng 6 năm 1969 tại Cam Ranh, Khánh Hòa, xuất gia ngày 18 tháng 5 năm 1990 tại Tịnh Xá Vân Sơn thuộc Xã Lương Sơn, Tỉnh Khánh Hòa, Việt Nam. Sư Cô đến Hoa kỳ ngày 26 tháng 5 năm 2008, mất tích ngày 23 tháng 4 năm 2010 và Phật tử đã tìm ra thi thể của Sư Cô năm tháng sau khi mất tích, ở sân sau của Tịnh Xá Từ Quang thành phố Midway City, tiểu bang California vào ngày thứ năm 23 tháng 9 năm 2010, nơi mà Sư Cô đã sinh hoạt trong suốt thời gian từ ngày đến Hoa Kỳ cho đến ngày mất tích. Sư Cô hưởng dương 42 tuổi đời, 20 tuổi đạo.
19/09/201003:05(Xem: 3198)
Ngay từ hồi nhỏ tâm hồn tôi đã hướng về đạo Phật. Tôi it nói, sống trong trầm lặng, ham đọc sách, nhất là những sách về đạo Phật viết cho trẻ em. Tôi chỉ có vài đứa bạn cũng giống tính tôi, gặp nhau thì vào buồng thủ thỉ thù thì nói chuyện với nhau. Cha tôi buôn bán lớn, giao thiệp nhiều, và cũng như phần đông các nhà kinh doanh hồi đó, đều quen biết các vị sư và đóng góp nhiều cho chùa chiền. Khi các thầy đến thăm cha tôi, lúc nào tôi cũng đứng gần nghe ngóng say sưa và dâng trà cho các thầy.
18/08/201709:39(Xem: 9162)
Thầy sinh vào giờ Thân, ngày 18 tháng 4, năm Nhâm Thìn. Ngày tháng năm sinh theo giấy tờ khai sinh ngày 19/5/1953. Quê quán Thành Công, Quảng Điền, Thừa Thiên. Xuất gia lúc 13 tuổi tại chùa Phước Duyên, Huế. Bổn Sư Thế Độ là Hòa thượng Thích Đảnh Lễ, khai sơn chùa Phước Duyên-Huế. Nghiệp sư là Hòa thượng Thích Lương Phương, Viện chủ chùa Phước Duyên – Huế. Năm 18 tuổi, thọ Sa Di tại Tổ đình Tây Thiên Huế, do Đại lão Hòa thượng Thích Giác Nhiên, Trú trì Tổ đình Thuyền Tôn làm Đàn đầu Hòa thượng và Hòa thượng Thích Mật Nguyện, Chánh Đại Diện GHPGVNTN, Miền Vạn Hạnh làm Đàn chủ. Năm 22 tuổi, thọ Tỷ khưu – Bồ tát giới tại Đại giới đàn Phước Huệ tổ chức tại Phật Học Viện Trung Phần, Hải Đức Nha Trang, do Trưởng lão Hòa thượng Thích Phước Hộ làm đàn đầu Hòa thượng và Trưởng lão Hòa thượng Thích Trí Thủ làm Đàn chủ.
09/10/201220:00(Xem: 4216)
Thiền sư Lê Mạnh Thátcho rằng Vua Trần Nhân Tông là một nhân vật tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam nhất là vì tư tưởng hòa giải dân tộc của ông vẫn còn tính thời sự. Trả lời câu hỏi của BBC vì sao tư tưởng của Trần Nhân Tông (trị vì từ năm 1278-1293) và là Phật Hoàng, sáng lập ra phái thiền phái Trúc Lâm vẫn còn có tính thời sự đối với Việt Nam và cả quan hệ Mỹ - Việt cũng như Việt - Trung, Tiến sỹ Lê Mạnh Thát nói:
01/09/201709:31(Xem: 1180)
Sương mù Đà lạt ngàn Thông, Xuân Hương in bóng, bụi hồng trăng thanh. Linh sơn gián vẽ như tranh, Giăng sầu mù trắng, bước chân an lành.
24/06/201100:58(Xem: 1855)
Vua Lê Đại Hành mất vào năm 1005, các hoàng tử tranh giành ngôi vua tạo nên cảnh khổ đau tràn ngập cho Dân Tộc, bên trong bị nội loạn, bên ngoài bị ngoại xâm đe dọa. Trước những thảm trạng đen tối u ám và đầy dẫy những thống hận đó, Vạn Hạnh thiền sư xuất hiện như một thứ ánh sáng phi thường quét sạch vùng trời giông tố để đưa vận nước bước vào thời đại huy hoàng thịnh trị.
16/08/201319:21(Xem: 5705)
Tôi không có duyên may thân cận Sư. Chỉ qua những phật sự chung của giáo hội, được diện kiến Sư trong các buổi họp, hoặc đại hội. Cảm nhận sự hiện diện của Sư nơi đám đông, là người lặng lẽ nhất trong những người lặng lẽ. Ngồi nơi ghế cao mà thu mình lại như chưa hề ngồi đó. Đôi lần phát biểu thì ngôn ngữ cô đọng, kiệm lời, như chưa hề lên tiếng.