Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Vài nhận định về sự bình đẳng trong Phật giáo

08/04/201319:51(Xem: 3393)
Vài nhận định về sự bình đẳng trong Phật giáo


Vài nhận định

về sự bình đẳng trong Phật giáo

Thích Lệ Thọ

Giới học giả đã bỏ ra không ít thời gian và giấy mực để bàn về chuyện bình đẳng hay không bình đẳng giữa Tăng và Ni với những giới luật chênh lệch từ thời đức Phật. Nhận thấy đây là vấn đề hay nên tôi cũng thường lưu tâm khi có những ý kiến mới, nhằm đúc kết những nhận định khách quan với lòng mong mõi là đáp ứng được phần nào về mặt nhận thức cho giới học giả. Trong khi chờ đợi cộng đồng Phật giáo thế giới tìm ra câu trả lời đúng đắn nhất qua logic, Lịch sử, Khảo cổ, Ngôn ngữ học… và đặc biệt là sự thể nghiệm tâm linh của Ni đoàn!

Đầu tiên chúng ta hãy nhận định đức Phật là người như thế nào? Nhà Khoa học, Tâm lý học, sử học, Toán học, Y học, nhà Minh triết…cộng tất cả những cái ấy lại cũng chưa đủ để chỉ cho bậc Toàn Giác như Ngài! Vì những gì Ngài nói ra đã hơn 2600 năm: “trong vũ trụ này không phải chỉ có trái đất là có sự sống và mầm sống là do duyên sinh…”, vậy mà mãi cho tới ngày nay các nhà khoa học và ngành không gian của con người mới phỏng đoán được ngoài trái đất này còn có vô số sự sống khác: “Hai nhà khoa học Charles Lineweaver và Tamara Davis, Đại học New South Wales ở Sydney (Australia) mới đưa ra phỏng đoán trên sau khi dùng phương trình Drake để tính xác suất của sự sống trong vũ trụ. Theo đó, ở các hành tinh có điều kiện tương tự trái đất, sự sống có thể đã hình thành và đang phát triển song song với chúng ta. Và như lời đức Phật nói sự sống này là Duyên sinh: “Jeffrey Bada và Antonio Lazcano, Đại học California ở San Diego (Mỹ), đã nhận định những mầm sống đầu tiên trên trái đất có lẽ đã không hình thành ở điều kiện nhiệt độ rất cao như người ta vẫn tưởng, mà ở nhiệt độ giá lạnh dưới các lớp băng dày cách đây hàng tỷ năm. Và sự sống cũng không chỉ xuất hiện một lần, mà nhiều lần…” (vnexpress 16/6/2002) Các nhận định trên cho chúng ta suy luận tiếp, với trí tuệ siêu việt của Đức Phật đã vượt xa các khối óc khoa học thượng thặng ngày nay! Như vậy, chắc chắn rằng trong đời sống của Ngài không có hành động dư thừa và phát biểu thiếu thận trọng mà đặc biệt là đưa ra các giới điều cho hàng đệ tử được thanh tịnh thân và tâm! Nên chuyện chấp nhận cho nữ giới xuất gia làm Tỳ khoe Ni là cả một vấn đề nan giải trong bối cảnh của xã hội Ấn Độ lúc đó, khi phải trở thành đời sống “khất sĩ”, phải đối mặt với thú dữ, cướp bóc, thời tiết khắt nghiệt…và đặc biệt là phải đưa ra những giới cấm nào cho thích hợp để Tăng Ni sinh hoạt chung một đoàn thể mà không phát sinh tình cảm! Vì nó là bức tường ngăn cản bước chân của Hành giả tiến đến giải thoát. Chỉ đặt chừng ấy vấn đề thôi thì đủ thấy cả một tấm lòng “bi mẫn” và trí tuệ siêu việt để giải quyết vấn đề chứ không đơn giản như bao nhiêu học giả đã lấy lăng kính của thế kỷ 21 soi ngược lại trước Công nguyên, rồi cho rằng đức Phật thiếu Từ bi thiếu bình đẳng giữa Tăng và Ni. Đó là những chi tiết hết sức quan trọng, nhưng có bao giờ các học giả tự đặt mình vào hoàn cảnh Nữ Khất sĩ? chứ đừng nói là đã trải qua đời sống Tu sĩ! Nên “Diana Y. Paul giải thích giới luật: “Bản văn đầu tiên được dịch dưới đây trình bày sự lệ thuộc của Ni đoàn đối với Tăng đoàn, cho thấy Ni đoàn bị mất đi quyền tự trị, và bị tước đoạt quyền lực để định nghĩa những bổn phận tôn giáo mà nữ giới phải thực hiện. Không giống như hệ thống tổ chức bên Thiên chúa giáo, các ma-sơ không bị lệ thuộc bên các linh mục. Chư Ni Phật giáo trong xã hội Ấn Độ cổ đại bị phụ thuộc vào chư Tăng, cơ cấu tổ chức của chư Ni cũng lệ thuộc hệ thống tổ chức của chư Tăng. Họ được chư Tăng trực tiếp hướng dẫn trong các buổi họp của nhị bộ Tăng”. (Buddhismtoday-Quan điểm Phật giáo về nữ giới-so sánh luật Tỳ Kheo và Tỳ Khoe Ni dựa trên giới bổn tiếng Hoa-Liên Hiếu dịch)

Chúng ta thử đặt lại vấn đề tại sao đức Phật đã chấp nhận phụ nữ làm Tỳ kheo Ni mà lại cho họ giữ nhiều giới hơn Tăng? Sao Ngài lại bất công đến thế? Trong khi Ngài đang kêu gọi xã hội lúc bấy giờ xoá bỏ giai cấp, vậy mà Ngài lại thiết lập giai cấp trong đoàn thể của Ngài? Nên Susan Murcott phát biểu: “Tăng đoàn quản lý Ni đoàn, các giới luật và quy tắc của chư Ni lại nghiêm khắc hơn chư Tăng. Mục đích của các giới nghiêm khắc này là để kềm chế bản chất ngang ngạnh của phụ nữ và để giành quyền hành tuyệt đối cho chư Tăng. Các vấn đề vừa nêu trên, Tỳ-kheo-ni In Young Chung nhận định: “Mặc dù, hầu hết các học giả và các nhà nghiên cứu Phật giáo đều tán thành Tỳ-kheo-ni dưới quyền Tỳ-kheo Tăng là do có quá nhiều giới thêm vào cho Tỳ-kheo-ni và Bát Kính Pháp buộc họ phải tuân thủ, tôi vẫn không đồng ý với những ý kiến này. Hơn nữa, dựa vào thực tế của đời sống khi các giới hình thành, nếu khảo sát hoặc so sánh các điều luật của cả Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni một cách tỉ mỉ, chúng ta sẽ thấy rằng các điều luật ấy hết sức thực tiễn và cảm thông cho đời sống tu sĩ cả Tăng lẫn Ni. Điều này phải được nhìn nhận một cách sâu sắc về “đời sống khất sĩ” của chư Ni như đã mô tả trong Luật Tạng. Thật sai lầm khi chúng ta chỉ dựa vào sự hiện diện của các giới trội hơn cho Tỳ-kheo-ni mà lại khái quát hoá quan điểm của Phật giáo về phụ nữ nếu không khảo sát nguồn gốc của các giới đó hoặc bối cảnh xã hội”

Từ đây, chúng ta có thể suy luận thêm cùng một vấn đề chênh lệch về giới, nhưng các học giả đều có mỗi góc độ nhìn khác nhau. Và những người “trong cuộc” lại có cái nhìn thực tiển và chính xác hơn! Ngay điểm này, chúng ta có thể tạm chia ra làm hai khái niệm:

1/ Học giả: là một chuyên gia đi thu thập dữ liệu, nghiên cứu, so sánh, thậm chí chẻ sợi tóc ra thành ngìn mảnh nhỏ để đi đến kết luận: 1+1=2 mà không cần trải qua thực nghiệm!

2/ Hành giả: là người giai đoạn sau của Học giả, là sau khi nghe rồi suy nghĩ, thấy sự việc đó đúng, đi đến thực hành (Văn như tư, tư như tu). Nên Hành giả là người: 1+1=1. Hai phạm trù hoàn toàn trái ngược nhau, nên đứng về mặt khách quan nhận xét thì các Học giả đúng về mặt so sánh số lượng với số lượng Tỳ Kheo Tăng giữ 250 giới, Tỳ Kheo Ni giữ 348 giới. Nhưng ngay nơi 2 danh từ Tăng và Ni đã nói lên sự khác khác biệt giữa hai giới tính.

Như vậy, chúng ta suy luận thêm, đức Phật là người biết rõ tâm sinh lý của chúng sinh! Vì Ngài đã chứng nghiệm tự thân: “Chính bản thân ta chịu sanh, già, bệnh, chết, sầu khổ và phiền não, khi nhận chân được sự nguy hiểm của chúng, ta đã tìm kiếm cái không bị sanh (ajaata), không bị già, (ajara) không bị bệnh (abyaadhi'm), không bị chết (amata), không bị sầu khổ (asoka'm), không bị phiền não (asankili.t.tha'm), sự an tịnh tối thượng vượt thoát khỏi mọi trói buộc - ta đã chứng đạt niết-bàn. Tuệ nhãn và tuệ tri sau đây đã xuất hiện trong ta; sự giả thoát của tâm trở thành bất động. Đây là đời sống cuối cùng. Ta không còn phải tái sanh nữa”. (Niết bàn và sự chấm dứt luân hồi-Buddhismtoday). Cho nên Ngài đã mạnh dạn chỉ dạy cho hàng đệ tử phải gìn giữ giới luật như thế nào, và Tỳ kheo cần phải giữ bao nhiêu và Tỳ Kheo Ni cần phải giữ bao nhiêu là đủ, để đạt được Trí tuệ và đạo quả Giải thoát! Như vậy, trong sự chênh lệch này đức Phật không hề có sự nhầm lẫn và Ngài đã có sự cân nhắc hết sức tận tường và tinh tế. Vì những người nữ đầu tiên phát tâm xuất gia là Mẹ và những nhưng người thân thuộc của Ngài, nên chắc chắc là Ngài không phải bị sức ép của xã hội, phong tục tập quán và bất cứ một thế lực nào! Đứng ở góc độ này Việt Nam có câu Ca Dao khá giống cách xử sự của Ngài: “thương con cho roi cho vọt, ghét con thì cho ngọt cho bùi”! Như thế, giới luật của Ngài cho Tăng và Ni giữ là cả một tấm lòng bi mẫn như một người “Cha” đối với tất cả các “con”, chứ không phải vì chư Tăng có cùng giới tính với Ngài nên được giảm bớt giới cấm!

Làm sao Ngài không biết sự khác biệt về cơ thể vật lý và tâm sinh lý của Nam và Nữ ! Trong chúng ta đây điều thừa nhận rằng: Người nữ hầu như 80% là sống thiêng về tình cảm và người Nam có đến 85% sống thiêng về lý trí. Nên chúng ta không thể quy nạp đoàn thể Tăng già như một tập đoàn Dầu hoả Rockerfeller hoặc công ty phần mềm của Bill Gate là dù Nam hay Nữ khi hội đủ điều kiện làm việc là cùng tuân thủ chung một nội quy của tổng giám đốc đưa ra! Hay phải theo văn hoá Tây phương, phụ nữ phải được hưởng ưu tiên trên mọi lĩnh vực, hiểu như thế là hết sức tai hại và sai lầm với lộ trình hướng đến Vô ngã trong đạo Phật!

Thật ra, chư Tăng giữ 250 và chư Ni 348 giới ( theo Bắc tông) chỉ là con số tượng trưng cho giới “Tướng”, chứ giới “Tánh” không hẳn là dừng lại ở đó! Ví dụ: giới không được uống rượu, nhưng chúng ta phải hiểu là không được dùng những chất kích thích! Không được khởi tâm nghĩ đến chất kích thích, chứ không thể hiểu một cách đơn giản là chỉ có cấm không được uống rượu mà thôi! Nên giới luật của Tăng Ni là khác hẳn với điều lệ của xã hội. Vì vậy, giới còn được ví: người mù được sáng mắt, giữa biển khơi tìm được hải đảo như châu báu lấy hoài không biết chán! Còn người phá giới như tên bắn, như thác đổ, như ngựa chạy và như xe đang vào đường đèo mà bị bể bánh đứt thắng….những lời dạy đó bàng bạc khắp nơi trong giáo lý của Ngài cho chư Tăng qua các kinh Tứ Thập Nhị Chương và phẩm An Lạc Hạnh trong kinh Pháp Hoa…nhưng có học giả nào phản ảnh đức Phật đã bất công cho Tỳ kheo giữ thêm ngoài 250 giới?

Có thể nói đây là vấn đề lớn và khó cho các Học giả và những ai mới bắt đầu nghiên cứu giáo lý Phật giáo, nó không giản đơn như chuyện 1+1=2, nên một hành giả đã phát biểu: “nếu chẳng một phen sương thấm lạnh, hoa kia đâu dễ ngửi mùi hương”! Vì vậy, Tỳ kheo và Tỳ kheo Ni có chênh lệch giới điều là không hẳn trong đạo Phật bất bình đẳng mà đó là nhu cầu cần thiết cho từng cơ thể vật lý và tâm sinh lý của mỗi Hành giả đang trên đường tìm đến giải thoát. Một khi đã hết bệnh thì tất cả các loại thuốc đều trở thành vô nghĩa, nên trước khi vào Vô dư y Niết Bàn Ngài đã khẳng định: “trong suốt 49 năm ta chưa hề nói một lời!” Vậy mà ngày nay chúng ta cứ đem cái đầu óc phân tích, hý luận chia chẻ giáo lý của Ngài ra hàng tỷ mảnh vụn, rồi phê phán chổ này không logic, chổ kia không công bằng…trong khi hai phạm trù Phân tích và thực nghiệm hoàn toàn trái ngược nhau. Hãy mạnh dạng buông bỏ tất cả thì chúng ta sẽ thấy được trong đạo Phật là bình đẳng tuyệt đối!

Delhi, 18/06/2002


-- o0o --

Nguồn: nigioingaynay.com

Trình bày: Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/04/2013(Xem: 3794)
Đã tạo được nhiều phước báu trong quá khứ, vào thời của Đức Phật Siddhattha Gotama, Bậc Tôn Sư Toàn Giác Tối Thượng, nàng Subha tái sanh vào gia đình của một vị bà la môn khả kính tại Rajagaha (Vương Xá, ngày nay là Rajgir, Ấn Độ). Nàng có sắc đẹp tuyệt trần, trong toàn thể thân nàng chỗ nào cũng dễ mến, vì lẽ ấy có tên là Subha. Khi Đức Bổn Sư ngự tại Rajagaha cô đặt niềm tin (saddha) vững chắc nơi Ngài và trở thành một nữ thiện tín.
08/04/2013(Xem: 3082)
Điều tốt đẹp mà người mẹ, người cha, hay bất luận thân bằng quyến thuộc nào có thể làm, một cái tâm hướng thiện có thể, và nâng ta lên đến mức cao quý (2). Lời dạy này được Đức Phật ban truyền trong khi Ngài ngự tại Tịnh Xá Jetavana (Kỳ Viên), trong thành Savatthi, chuyện liên quan đến một ông quan giữ kho. Câu chuyện bắt đầu tại thị trấn Soreyya và kết thúc tại Savatthi.
08/04/2013(Xem: 3706)
Vào lúc hoàng hôn, vầng thái dương dần dần đắm chìm xuống chân trời ở Phương Tây. Ánh sáng của mặt trăng rằm từ từ ló dạng ở Phương Đông. Ngày đã chấm dứt, và màn đêm bắt đầu phủ xuống. Vào lúc bấy giờ vị đạo sĩ ẩn dật tên Upagupta, đệ tử của Đức Phật, rời xa liêu cốc của mình, an nghỉ bên cạnh một con đường đầy cát bụi, dưới vòm trời mịt mờ u tịch, gần vách thành của thị trấn Mathura, Ấn Độ
08/04/2013(Xem: 3543)
Ngày nay, người phụ nữ chiếm tỷ lệ khá cao trong dân số nước ta, cũng như trên thế giới. Chẳng những đông về số lượng, người phụ nữ còn giữ nhiều vai trò quan trọng trong cộng đồng quốc gia hoặc quốc tế. Có thể nói song song với nhịp tiến hóa của nhân loại, người phụ nữ ngày nay đã thăng hoa tri thức và tài năng trong nhiều lãnh vực khác nhau.
08/04/2013(Xem: 3281)
Phật giáo được du nhập vào Hàn Quốc đến nay hơn 1.600 năm, nhưng lịch sử của Phật giáo Hàn Quốc lại không có nhiều ghi nhận về hoạt động của Ni giới. Thật ra ở Hàn Quốc, Ni giới đã có công lớn trong việc truyền bá Phật pháp ở những giai đoạn đầu của lịch sử. Qua các thời đại Tam kinh (37 trước Tây lịch - 668 sau Tây lịch), Silla Thống nhất (668-935), Goryeo (còn gọi Goh Ryur hoặc Koryo, 918-1392), Joreon (còn gọi Joh Surn hoặc Choson 1392-1910) và thời hiện đại ngày nay, Phật giáo tiếp tục được duy trì và phát triển. Tùy địa phương khác nhau mà vị trí, vai trò và sự biểu hiện của Ni giới trong Phật giáo cũng đa dạng tùy duyên.
08/04/2013(Xem: 3811)
Khi Đức Phật Siddhattha Gotarna (Sĩ Đạt Ta Cồ Đàm) thị hiện ở Ấn Độ cách nay hơn 2,500 năm về trước, người phụ nữ có một địa vị rất thấp kém và đê hèn trong xã hội Ấn Độ. Vào thời bấy giờ, trong phần còn lại của thế giới văn minh, trải dài từ Trung Hoa đến Hy Lạp, vị trí của người phụ nữ vẫn khiêm nhường và hạ cấp. Ngày nay, cùng khắp nơi ai ai cũng nhìn nhận rằng Đức Phật là người đã sáng lập một tôn giáo được truyền bá sâu rộng trên thế gian, phổ cập đến những hang cùng hóc hẻm của quả địa cầu, đã ban truyền một triết lý huy hoàng và vĩ đại nhất trong lịch sử tư tưởng loài người.
08/04/2013(Xem: 4865)
Ngôi tự viện nằm phía Đông thành Savatthi là do bà Visakha, vị nữ thí chủ nhiệt thành của Đức Phật, dâng cúng. Bà được Đức Phật ngợi khen là đứng hàng đầu các bà tín nữ. Nhưng hơn nữa, câu chuyện sau đây của bà Visakha và những lời dạy bảo của ông cha bà cho thấy rằng vào thời bấy giờ người ta đối xử rất nghiêm khắc đối với hàng phụ nữ. Mặc dầu thái độ gắt gao đối với nữ giới và mặc dầu cuộc sống của người phụ nữ có rất nhiều giới hạn, nhờ đức tin dũng mãnh nơi Giáo Huấn của Đức Phật, bà Visakha đã có khả năng vượt lên trên những giới hạn ấy.
08/04/2013(Xem: 7393)
Khi đất trời vạn vật được hình thành và con người được xuất hiện trên quả đất nầy, thì giới tính đã được phân chia rõ ràng: Đó là người nam hay người nữ. Từ những thuở xa xưa vai trò và vị trí của người nữ đã sánh vai cùng nam giới trong mọi lãnh vực của cuộc sống và từ đó cộng đồng xã hội đã được hình thành, trật tự xã hội được ổn định và con người càng ngày càng tiến xa hơn ở những lãnh vực khác nhau như văn hóa, chánh trị, giáo dục, v.v…
08/04/2013(Xem: 16018)
Trong cuộc sống, có người quan niệm tâm lý là sự hiểu biết về ý muốn, nhu cầu, thị hiếu của người khác, là sự cư xử lý tình huống của một người. Đôi khi người ta còn dùng từ tâm lý như khả năng “chinh phục đối tượng”.
01/04/2013(Xem: 6511)
“ Đức Phật dạy chư tỳ kheo có bổn phận suy xét hằng ngày 4 điều: Ân đức Phật, rãi tâm từ, niệm sự chết và quán bất tịnh!”. Hành giả cần phải: Hành 14 giờ chính thức mỗi ngày bằng thiền, trong tư thế ngồi và đi ...
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
110,220,567