Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Đức Đạt Lai Lạt Ma Đối thoại Trực tuyến với Hàng nghìn Sinh viên Indonesia

19/08/202109:59(Xem: 357)
Đức Đạt Lai Lạt Ma Đối thoại Trực tuyến với Hàng nghìn Sinh viên Indonesia


Đức Đạt Lai Lạt Ma Đối thoại Trực tuyến với Hàng nghìn Sinh viên Indonesia
(His Holiness the Dalai Lama’s conversation with Indonesian Students)


Đức Đạt Lai Lạt Ma Đối thoại Trực tuyến với Hàng nghìn Sinh viên Indonesia 4

Hình 1: Một thành viên của khán giả ảo đang cúng dường Mandala truyền thống, khi bắt đầu Đức Đạt Lai Lạt Ma đối thoại trực tuyến với hàng nghìn Sinh viên Indonesia, từ nơi cư trú của Ngài, Dharamsala, HP, Ấn Độ, 11/8/2021. Ảnh: Ven Tenzin Jamphel

Sáng ngày 7 tháng 8 năm 2021, bà Dwi Lestari, một nhà văn và nghệ sĩ người Indonesia, đã cung kính đảnh lễ Đức Thánh Đạt Lai Lạt Ma, cùng đối thoại trực tuyến với hơn một nghìn sinh viên Indonesia. Chủ đề của buổi chia sẻ pháp thoại các Câu chuyện "Jataka" (chuyện tiền thân của Đức Phật), được ghi lại trong Bồ tát Bản sinh Man Luận (Jatakamala), hay " Garland of Birth Stories", và được mô tả qua các bức phù điêu khắc đá được trang trí chung quanh Thánh địa Phật giáo Borobodur, Di sản Thế giới. Sự kiện này nhằm khởi động lại sách "Nusantara Dharma", đang diễn ra với sự cộng tác bởi cộng đồng Kadam Chöling Indonesia.

Đức Thánh Đạt Lai Lạt Ma bắt đầu cảm ơn một diễn viên người Indoneia, đã cúng dường Madala truyền thống, và chúc thính giả của Ngài "Good morning".

"Hôm nay", Ngài tiếp tục, "Tôi mong muốn được tổ chức các buổi chia sẻ pháp thoại với những thanh niên người Indonesia, những người yêu kính đạo Phật. Tôi là một thành viên của Tăng đoàn Phật giáo, và một trong những cam kết của tôi là thúc đẩy sự hòa hợp giữa các tôn giáo.Tất cả các truyền thống tôn giáo khác nhau của chúng ta, cho dù chúng tôi đang nói về Ấn Độ giáo, Cơ Đốc giáo, Hồi giáo hay Phật giáo đều mang một thông điệp chung về tầm quan trọng của từ bi tâm và lòng bác ái. Mỗi người đều sử dụng các quan điểm triết học khác nhau để củng cố lòng vị tha, luôn quan tâm đến người khác. Một số người nói rằng có một vị thần, những người khác tập trung vào luật nhân quả. Mục đích thực sự của tất cả họ là giúp những người theo dõi họ trở thành những người tốt hơn, nhân ái hơn. 

"Liên quan đến vị Thượng đế sáng tạo, Cơ Đốc giáo miêu tả Ngài như một thực thể của tình yêu vô hạn. Hồi giáo thuyết về Thiên Chúa bác ái và nhân từ. Do Thái giáo đề cập đến Đức Chúa Trời là Đấng Công chính. Mặc khác, Kỳ Na giáo và đạo Phật có khái niệm về một vị Thượng đế sáng tạo, nhưng họ vẫn hướng đến việc đào tạo những con người chân chính từ bi. 

Nơi tôi sống tại Ấn Độ, tất cả các tôn giáo lớn trên thế giới đều có mặt. Và họ đã sống hòa thuận bên nhau trong hơn một nghìn năm. 

Hôm nay, tôi rất hoan hỷ được gặp gỡ các anh chị em đến từ quốc gia Hồi giáo đông dân nhất thế giới. Chúng ta chấp nhận tôn giáo hay không là vấn đề của sự lựa chọn cá nhân. Chúng ta đều là con người. Chúng ta được hưởng lợi bởi từ bi tâm và sự chăm sóc của người mẹ hiền của chúng ta sinh ra. Thật vậy, nếu không có tình thương như biển trời bao la và lòng nhân ái của người mẹ hiền, chúng ta không thể sống sót. 

Trong thế giới ngày nay, chúng ta phải đối mặt với các vấn đề xung đột, bởi chúng ta thiếu ý thức đúng đắn, về tình anh em và tình chị em. Chúng ta lãng quên những giá trị cơ bản của con người. Chúng ta cố gắng giải quyết các tranh chấp, và sự khác biệt về quan điểm bằng cách sử dụng vũ lực. Tuy nhiên, tôi tin rằng hầu hết loài người đã chán nản bạo lực và chiến tranh. Do đó, các cộng đồng tôn giáo chúng ta có trách nhiệm thúc đẩy từ bi tâm. Chúng ta phải cùng chung bên nhau tình đời ý đạo trên hành tinh này, vì vậy chúng ta phải làm việc để thế giới này trở thành một thế giới hòa bình hơn"

Thánh tăng Đạt Lai Lạt Ma thừa nhận sự quan tâm đặc biệt của một số người Indonesia đối với 34 câu chuyện Jataka kể lại quá khứ tiền thân của Đức Phật. Tác giả Aryahura, ban đầu không phải là một Phật tử, mà là một học giả trứ danh của một truyền thống khác. Vào thời điểm đó, các học giả của Đại học Phật giáo Nalanda lo lắng rằng, ông có thể đánh bại họ trong cuộc tranh luận, nên họ đã thỉnh cầu Đức Bồ tát Long Thọ giúp đỡ. Ông đã cử một đệ tử giỏi nhất, Aryadeva, người đã thuyết phục Aryadeva về giá trị lời vàng ngọc của Đức Phật. Sau đó, vào cuối đời, Aryadeva, là một nhà thơ nổi tiếng, đã sáng tác cuốn "những câu chuyện về sự ra đời" bằng tiếng Phạn. 

Đức Đạt Lai Lạt Ma Đối thoại Trực tuyến với Hàng nghìn Sinh viên Indonesia

Hình 2: Đức Đạt Lai Lạt Ma đối thoại trực tuyến với hàng nghìn Sinh viên Indonesia, từ nơi cư trú của Ngài, Dharamsala, HP, Ấn Độ, 11/8/2021. Ảnh: Ven Tenzin Jamphel

Đức Đạt Lai Lạt Ma nhận xét rằng, những câu chuyện đọc rất hay, nhưng đôi khi Ngài cảm thấy chúng có phần tô điểm quá mức. Điểm quan trọng cần lưu ý ở câu chuyện mang tính đạo đức nhân văn, trong đó có các đức tính hoàn thiện, độ lượng, đức hạnh và nhẫn nhục, Bồ tát đã nêu gương. Cơ bản của tất cả các câu chuyện là khái niệm Ấn Độ cổ đại về "Từ bi tâm, Karruna" và "Bất bạo động, Ahimsa". Ngài nhấn mạnh những chủ đề này là phổ biến đối với hầu hết các tôn giáo, nhưng cho dù chúng ta có hướng đến một truyền thống tôn giáo hay không, chúng ta đều cần phải có ấm lòng từ bi nếu chúng ta muốn hạnh phúc.  

Khi trả lời các câu hỏi của các khán thính giả, Đức Đạt Lai Lạt Ma giải thích rằng, mạng sống của mình vì lợi ích của người khác, như các vị Bồ tát đã làm được ghi chép trong các câu chuyện, là đáng giá nếu thực sự lợi ích mang lại. Ngài nói thêm rằng, cần có trí tuệ và minh mẫn để đánh giá lợi ích đó sẽ là gì. 

Ngày nay đối với những khó khăn nghiêm trọng mà thế giới phải đối mặt, đại dịch Covid-19 và sự nóng lên toàn cầu, chúng ta có thể thực hiện các bước để giảm áp lực của chúng. Nhưng chúng ta không thể từ bỏ hy vọng hoặc từ bỏ hành động. 

Đức Đạt Lai Lạt Ma kể rằng, Ngài đã từng hành hương Thánh địa Phật giáo Borobudur, Indonesia. Ngài miêu tả các bảo tháp là một ngôi đại già lam cổ tự Phật giáo tuyệt vời, nhưng Ngài tuyên bố điều quan trọng hơn nữa là một ngôi chùa trong tâm của mỗi chúng ta, nơi chúng ta luôn tắm mát trong suối nguồn bi tâm và sưởi ấm dưới ánh quang dương trí tuệ. Nếu chúng ta kết hợp điều đó với trí tuệ bát nhã vốn sẵn nơi mỗi con người, chúng ta có thể tạo ra một thế giới hạnh phúc hơn, không chỉ bằng cách nói những lời cầu nguyện, mà bằng cách tham gia vào hành động thiết thực. 

Ngài được thính chúng hỏi làm thế nào để đối phó với sự tiêu cực, và được khuyên nên tuân thủ các nguyên tắc đạo đức của sự trung thực và từ bi tâm. Ngài đề cập đến những khó khăn, mà Ngài phải đối mặt trong cuộc sống của mình, ở quê nhà Tây Tạng và sau đó là một người tỵ nạn sống lưu vong tại Ấn Độ, nhưng tiết lộ rằng, Ngài đã tiếp tục thực hành theo truyền thống Đại học Phật giáo Nalanda mà Thánh tăng Shantarakshita (Tịch Hộ) đã giới thiệu ở Tây Tạng.

Thánh tăng Shantarakshita (Tịch Hộ), vị Thánh tăng Ấn Độ thuộc Trung Quán tông, người truyền bá Phật pháp sang Tây Tạng thời kỳ đầu. Quan niệm của Ngài là Trung Quán nhưng có tính chất dung hòa với Duy thức. Một trong những tác phẩm nổi tiếng của Ngài là Nhiếp chân thật luận (攝真實論, sa. tattvasaṃgraha).

"Người Tây Tạng chúng tôi là những người dũng cảm, kiên quyết," Ngài tuyên bố, "nhưng điều đó không có nghĩa là chúng tôi dùng đến bạo lực. Tinh thần Tây Tạng của chúng tôi kiên định và từ bi, những phẩm chất đã thu hút sự ngưỡng mộ ngay cả một số người Trung Quốc". 

Một sinh viên đặt câu hỏi về mối quan hệ giữa hai quốc gia Phật giáo Indonesia và Tây Tạng. Đức Đạt Lai Lạt Ma trả lời rằng, Thánh tăng Dipankara Atisha (Nhiên Đăng Cát Tường Trí) người Đông Ấn (982-1054) đã đi thuyền từ đông Ấn Độ đến Sumatera, một đảo lớn ở miền tây Indonesia để học Bồ đề tâm pháp với Thánh tăng Dharmakīrti (Pháp Xứng), một trong những Luận sư quan trọng nhất của triết học đạo Phật, đại điện quan điểm của Nhân minh học. Tất nhiên, Thánh tăng Dipankara đã đóng góp rất nhiều trong việc truyền Phật giáo sang Tây Tạng. Sư chuyên nghiên cứu các phương pháp phát triển Bồ đề tâm. Là Tổ của dòng Ma kiệt đa và thuyết sư tại đại học Siêu Giới, Ngài được mời qua Tây Tạng và sống ở đó 12 năm cuối đời mình. Ngài là người sáng lập trường phái Kadampa, gây ảnh hưởng rất lớn cho nền Phật giáo Tây Tạng. Ngày nay, Thánh tăng Dharmakīrti được nhân dân Tây Tạng nhớ đến với tên gọi Lạt Ma Serlingpa. Đức Đạt Lai Lạt Ma nhận xét rằng, dưới ánh sáng của những chuyến vân du hoằng dương chính pháp Phật đà của Thánh tăng Dipankara Atisha, ngày nay việc trao đổi quan điểm và chia sẻ về kiến thức với nhau trở nên dễ dàng hơn nhiều. 

Đức Đạt Lai Lạt Ma Đối thoại Trực tuyến với Hàng nghìn Sinh viên Indonesia 2

Hình 3: Một sinh viên, khán thính giả ảo hỏi Đức Đạt Lai Lạt Ma một câu hỏi trong cuộc đối thoại trực tuyến với hàng nghìn Sinh viên Indonesia, từ nơi cư trú của Ngài, Dharamsala, HP, Ấn Độ, 11/8/2021. Ảnh: Ven Tenzin Jamphel

Đức Đạt Lai Lạt Ma từ chối cho biết câu chuyện nào trong số 'Truyện kể về Jakata' mà Ngài cho là truyền cảm hứng. Ngài nhấn mạnh, điểm mấu chốt là thừa nhận tính hợp nhất của con người; để nhận ra rằng tất cả chúng ta đều giống nhau cùng là nhân loại. Từ quan điểm thực tế, tất cả chúng ta đều phụ thuộc vào nhau, và trên cơ sở đó chúng ta có thể phục vụ lẫn nhau trong tình huynh đệ, cùng chung sống trong đại gia đình trên hành tinh 7 tỷ người. 

"Tôi là người Tây Tạng, sống ở Ấn Độ. Tôi coi mỗi người mà tôi gặp đều giống nhau như một người anh, người chị đối với tôi. Đánh nhau là vô ích và tự chuốc lấy thất bại. Chúng ta phải tìm cách để cùng tồn tại và chung sống trong hòa bình"

Được mời bình luận về cách một cộng đồng thiểu số, có thể tự ứng xử khi đôi mặt với chủ nghĩa cực đoan, Đức Đạt Lai Lạt Ma chia sẻ rằng, trong quá khứ giữa các dân tộc bị cô lập, có thể cảm thấy thích hợp khi nói về một chân lý và một tôn giáo. Tuy nhiên, ngày nay tình hình đã thay đổi, và tất cả chúng ta đều nhận thức được nhiều truyền thống tôn giáo, cũng như nhiều khía cạnh của sự thật. 

Một trong những phẩm chất của Phật giáo, có một cái nhìn khoa học về tâm trí và cảm xúc của chúng ta, và có thể giải thích những cách để đạt được sự bình yên trong tâm hồn. Truyền thống Đại học Phật giáo Nalanda, bao gồm các phương pháp giảm thiểu cảm xúc tiêu cực, và tăng cường cảm xúc tích cực, nhân rộng sĩ số hạnh phúc. Tâm lý học Phật giáo có thể hữu ích cho bất kỳ ai quan tâm đến việc khám phá nó, mà không cần phải thực hiện bất kỳ cam kết tôn giáo nào. Đây là một trong những cách mà Phật giáo có thể góp phần tạo ra một thế giới hòa bình hơn. 

Trả lời nhận xét rằng, vào thời Đức Phật còn tại thế, có thể dễ dàng đạt được sự chứng ngộ hơn, Đức Đạt Lai Lạt Ma khẳng định rằng, Ngài không tin có ai đó trở nên chứng ngộ một cách tự nhiên khi họ lắng nghe pháp âm vi diệu của Đức Phật. Ngài chỉ ra rằng, khi còn là Đông cung Thái tử xuất gia, trải qua sáu năm khổ hạnh trong rừng sâu núi thẳm, miệt mài công phu tu tập thiền định trước khi đạt được Phật quả. Ngài đề nghị mọi người lắng nghe những gì Đức Phật đã nói, và tư duy về điều đó để cải thiện sự hiểu biết của họ. Sau đó, họ thiền định về những gì họ hiểu, áp dụng sự tập trung và minh mẫn, điều này cho phép họ thực hiện một sự chuyển hóa nội tâm. 

Đức Đạt Lai Lạt Ma gợi ý rằng, con đường Trung đạo (Madhyamaka) là một cách mạnh mẽ để giúp giảm bớt sự cực đoan, tà kiến. Hãy nghĩ về cách chúng ta nghĩ về tam nghiệp ý nghĩ, lời nói và hành động, và sau đó tự hỏi bản thân rằng đâu là cái 'Tôi" sở hữu những đặc điểm này. Ngài khẳng định rằng, mỗi ngày đều tự hỏi bản thân rằng cái "Tôi" ở đâu và không thể tìm thấy một bản ngã độc lập, vốn có tồn tại. Điều này có tác dụng mạnh mẽ trong việc giảm bớt sự tức giận và chấp trước. Ngài đã trích dẫn trong cuốn "Nhập Trung đạo: Con đường Bồ tát Tích hợp Đại bi và Trí tuệ" của Ngài Chandrakirti (Nguyệt Xứng), một triết gia Trung Quán vĩ đại của đạo Phật ở thế kỷ thứ bảy.

Nhập Trung đạo: Con đường Bồ tát Tích hợp Đại bi và Trí tuệ", một bản dẫn nhập tổng hình thành hai tiếp cận diệu pháp Như Lai, và thực hành lục độ vạn hạnh. 

Sinh viên Dewi Lestari muốn biết làm sao có được pháp tướng tuyệt hảo như Đức Đạt Lai Lạt Ma. Ngài trả lời rằng, chúng ta dành nhiều thời gian để bị phân tâm bởi các giác quan, tuy nhiên cũng có thể ý thức quan tâm đến tinh thần của chúng ta, và có được kinh nghiệm về bản chất của tâm trí. Khi chúng ta phát triển được sự yên tĩnh và tập trung, việc áp dụng tâm trí vào việc phân tích đâu là 'Tôi' và đâu là cảm xúc tiêu cực. Khi chúng ta phát triển sức mạnh nội tâm, chúng ta đạt được sự an tâm vững chắc hơn. Và khi chúng ta có được kinh nghiệm sâu sắc hơn về tâm trí và các cấp độ tinh vi hơn, ánh sáng của tâm trí sẽ hiển lộ. Đó là tâm vi tế của Phật tính, cuối cùng sẽ hiển hiện tâm của Đức Phật. 

Được đưa ra một số lời khuyên cuối cùng, Đức Đạt Lai Lạt Ma nhấn mạnh cơ hội đặc biệt mà thính giả của Ngài có được để chia sẻ ý tưởng về từ bi tâm, đó là điều mà tất cả chúng ta đều cần. Tương tự như vậy, tất cả chúng ta đều cần từ bi tâm, sự bao dung bằng cách khuyến khích sự phát triển của những phẩm chất thanh cao này, chúng ta có thể góp phần tạo ra một xã hội hài hòa, nhân ái hơn. Tiềm năng của từ bi tâm là điều mà tất cả con người đều sẵn có. Đó là cơ sở để tôn trọng lẫn nhau và có thể học hỏi lẫn nhau.

 Bà Dwi Lestari, một nhà văn và nghệ sĩ người Indonesia đã dâng lời kính tri ân Đức Đạt Lai Lạt Ma, người đã tự động đề nghị các khán thính giả trên màn ảo, cùng tham gia với Ngài trong một phút thiền định về từ bi tâm. Sau đó, Ngài ca ngợi những đức tính của tâm giác ngộ, tâm bồ đề và những lợi ích đáng kinh ngạc của nó. Chúng ta cần ấm lòng từ bi để giúp tha nhân đang trong cơn khốn khó. Chúng ta cần từ bi tâm để thanh lọc những cảm xúc tiêu cực của chúng ta và tích lũy năng lượng tích cực. Tất cả những hành động vô ngã vị tha được miêu tả trong 'Những câu chuyện về Jataka' đều bắt nguồn từ Bồ đề tâm, khát vọng đạt được Phật quả để giúp đỡ người khác. 

Đức Đạt Lai Lạt Ma trích dẫn những câu trong tác phẩm "Tập Bồ tát Học luận" của Thánh tăng Shantideva (Tịch Thiên), ca ngợi việc thực hành bình đẳng, trao đổi giữa bản thân và những người khác. 

Tác phẩm "Tập Bồ tát Học luận" chuyên chú đến khía cạnh tu tập cụ thể mà mỗi Phật tử có thể thực hành. Tất cả những chủ đề được đưa ra và bình luận đều hướng về mục đích cứu cánh, đó là thành tựu đạo quả vị Bồ tát, đạt giác ngộ vì lợi ích chúng sinh. 

clip video:

https://www.youtube.com/watch?v=kGIgKDWBQPM

Thích Vân Phong biên dịch

(Nguồn: dalailama.com)

 
facebook-1

***
youtube
 
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/201314:16(Xem: 9674)
Con người sinh ra đều giống nhau ở điểm là hai bàn tay trắng, không một mảnh vải che thân, sự khác đi của con người bắt nguồn từ quá trình trưởng thành, chịu ảnh hưởng cuộc sống từ gia đình và xã hội, xuất phát từ cơ sở đó định hướng cho mình một hướng đi, . . .
05/04/201320:34(Xem: 4286)
Các vị giới tử, hôm nay quý vị đến đây để lãnh đạo giáo pháp của Phật. Đó là một việc làm có ý nghĩa rất quan trọng. Nhờ sự thọ giới mà chúng ta trở thành một Phật tử chân chính, lợi mình, lợi người, lợi tất cả chúng sinh, và làm cho Phật giáo miên trường giữa thế gian.
05/09/202110:22(Xem: 1224)
Bắt đầu gặp nhau trong nhà Đạo, người quy-y và người hướng-dẫn biết hỏi và biết tặng món quà pháp-vị gì cho hợp? Thực vậy, kinh sách man-mác, giáo-lý cao-siêu, danh-từ khúc-mắc, nghi-thức tụng-niệm quá nhiều – nghiêng nặng về cầu-siêu, cầu-an – không biết xem gì, tụng gì và nhất là nhiều người không có hoàn-cảnh, thỉnh đủ. Giải-đáp thực-trạng phân-vân trên, giúp người Phật-tử hiểu qua những điểm chính trong giáo-lý, biết qua sự nghiệp người xưa, công việc hiện nay và biết đặt mình vào sự rèn-luyện thân-tâm trong khuôn-khổ giác-ngộ và xử-thế, tôi biên-soạn cuốn sách nhỏ này. Cuốn sách nhỏ này không có kỳ-vọng cao xa, nó chỉ ứng theo nhu-cầu cần-thiết, mong giúp một số vốn tối-thiểu cho người mới vào Đạo muốn tiến trên đường tu-học thực-sự. Viết tại Sài-thành mùa Đông năm Mậu-tuất (1958) Thích-Tâm-Châu
09/04/201314:16(Xem: 4023)
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các nữ tu và cư sĩ Phật giáo góp mặt trong quyển sách nầy về sự hỗ trợ, trí tuệ cũng như lòng ưu ái của họ. Tôi mang ơn sâu xa đối với tất cả quý tăng ni và giới cư sĩ đã tử tế giúp đỡ tôi trong các chuyến đi thu thập các tài liệu, . . .
11/12/201016:42(Xem: 6866)
Bằng cách tập trung vào sự kiện của tình trạng bị quy định chặt chẽ và sự cần thiết cho tinh thần phải trải qua một cách mạng, Krishnamurti dẫn chúng ta đến nền tảng chung, đến cái nguồn của cả cá thể lẫn xã hội.
28/08/201010:43(Xem: 5079)
Viết về Thế Tôn, các nhà nghiên cứu Phật học thường đề cập đến Ngài như một đấng Giáo chủ đã tìm ra con đường giải thoát và chỉ rõ con đường ấy cho nhân loại, hoặc đề cập đến Ngài như một nhà đại tư tưởng, một nhà cách mạng xã hội, v.v... Nhưng có rất hiếm những luận văn, công trình đề cập đến Ngài như một nhà giáo dục tư tưởng, và giáo lý của Ngài như là một hệ thống tư tưởng giáo dục toàn diện và tiên tiến.
09/04/201314:14(Xem: 5224)
Thế Kỷ thứ 20 sắp kết thúc với những tiến bộ vật chất ngoài sức mơ tưởng của con người. Tuy đạt được thành quả vật chất đáng kể, nhưng con người vẫn không hạnh phúc, vẫn sống trong bất an, lo âu, phiền não và đang đứng trước hàng loạt thử thách cam go nhất, . . .
25/01/201210:41(Xem: 3308)
Tôn giáo có mặt cùng thời với lịch sử con người. Có vật chất, tất phải có tinh thần. Có sống chết, có hiện tượng còn mất trong đời sống vật lý, tất phải có các mô thức tâm lý và tâm linh để chống lại sự mất còn bèo bọt đó. Từ đấy, tham vọng bất tử của con người là phải xây dựng một hệ thống thần linh để nuôi lớn hy vọng (có thật)thành đức tin (ước mơ)rằng, con người sẽ sống đời vĩnh hằng sau khi chết trong một thế giới thiêng liêng của thần linh... Sự chuyển mình từ sức mạnh thần quyền sang sức mạnh nhân quyền trong nhiều khía cạnh vi tế và phức tạp của đời sống đã làm cho đạo Phật mỗi ngày một hiển lộ trước cái nhìn tỉnh thức của nhân loại.
10/01/201115:59(Xem: 2930)
“Không có tẩu thoát khỏi sự liên hệ. Trong sự liên hệ đó, mà là cái gương trong đó chúng ta có thể thấy chính chúng ta, chúng ta có thể khám phá chúng ta là gì...
09/04/201314:13(Xem: 3242)
Trong một bài pháp thuyết giảng tại Mã Lai, Thượng tọa Sayadaw U. Sumana cho biết Phật giáo là một tôn giáo có số lượng tín đồ ít ỏi nhất trong bốn tôn giáo lớn trên thế giới và cảnh giác rằng: “Phật giáo hiện nay được thí dụ như là một con cá trong hồ nước cạn và nước sẽ tiếp tục bốc thành hơi nếu không có cây che mát hồ để tránh đi ánh nắng nóng bỏng của mặt trời. Con cá đó sẽ cố gắng tiếp tục sống với cái hy vọng là cơn mưa sẽ đến, nếu như cơn mưa kịp lúc đến thì cá sẽ được sống cho đến khi mãn kiếp. Những người Phật tử thông thường được ví như là cơn mưa làm cho hồ được đầy nước trở lại và do vậy mà Phật giáo được tồn tại dưới sự bảo tồn của Phật tử”.