Lời tựa

18/01/201108:24(Xem: 4547)
Lời tựa

 

J. Krishnamurti
KRISHNAMURTI BÀN VỀ GIÁO DỤC
(KRISHNAMURTI ON EDUCATION)
Lời dịch: Ông Không -2007

LỜI TỰA

Quyển sách này là kết quả của những cuộc nói chuyện và những cuộc thảo luận được tổ chức ở Ấn độ bởi J. Krishnamurti với học sinh và giáo viên của những trường học tại Rishi Valley ở Andhra Pradesh và Rajghat ở Vanarasi. Những trung tâm này được điều hành bởi Krishnamurti Foundation India, được thành lập nhằm mục đích để tạo ra một môi trường xã hội trong đó những lời giáo huấn của Krishnamurti có thể được truyền đạt cho trẻ em. Krishnamurti nhận định rằng giáo dục có tầm quan trọng chính yếu trong việc truyền đạt về cái đó, cái trung tâm cho sự thay đổi cái trí con người và sự sáng tạo của một nền văn hóa mới. Thay đổi căn bản như thế chỉ xảy ra khi em bé, trong khi đang được dạy những kỹ năng và môn học khác nhau, cũng được trao cho khả năng ý thức được những tiến hành của suy nghĩ, cảm thấy và hành động riêng rẽ của em. Trạng thái ý thức này giúp em học sinh tự phê bình và quan sát đồng thời hình thành một hoà hợp của trực nhận, phân biệt và hành động, có ảnh hưởng sâu sắc cho sự trưởng thành của em bé trong liên hệ đúng đắn với con người, với thiên nhiên và với những dụng cụ mà con người đã tạo ra.

Ngày hôm nay đang có một nghi ngờ về cấu trúc căn bản của giáo dục và những hệ thống khác nhau của nó ở Ấn độ cũng như ở phần còn lại trên thế giới. Ở mọi mức độ càng ngày người ta càng nhận ra rằng những mô hình giáo dục đang tồn tại đã thất bại và không có sự liên quan tổng thể giữa con người với xã hội phức tạp hiện nay. Khủng hoảng về liên hệ của con người với môi trường sống và nghèo đói, bạo lực gia tăng đang bắt buộc con người phải đối diện với những thực tế về hoàn cảnh con người. Vào một thời điểm như thế này, một tiếp cận hoàn toàn mới mẻ đến hệ thống giáo dục căn bản là cần thiết. Krishnamurti tìm hiểu cội gốc của nền văn hóa chúng ta. Thách thức của ông được trình bày không chỉ vào cấu trúc giáo dục mà còn vào bản chất và chất lượng của cái trí và cuộc sống con người. Không giống như tất cả những cố gắng khác vì mục đích bảo vệ hay đề nghị những thay thế cho hệ thống giáo dục, Krishnamurti tiếp cận vấn đề bằng cách phá vỡ giới hạn của những nền văn hóa riêng biệt và thiết lập những giá trị hoàn toàn mới mẻ, và vì thế có thể tạo ra một nền văn minh mới mẻ và một xã hội mới mẻ.

Đối với Krishnamurti một cái trí mới mẻ chỉ có được khi tinh thần tôn giáo và cách suy nghĩ khoa học hoà hợp trong cùng chuyển động của ý thức – một trạng thái khi cách suy nghĩ khoa học và tinh thần tôn giáo không phải là hai tiến hành hay khả năng song song của cái trí. Chúng không hoạt động trong hai đường rãnh riêng biệt như hai chuyển động tách rời mà phải được kích động, nhưng là một chuyển động luôn luôn mới mẻ tuôn tràn tự nhiên trong thông minh và trong cái trí sáng tạo.

Krishnamurti nói về hai cái công cụ sẳn có cho con người – công cụ hiểu biết giúp đỡ anh ta nắm vững những kỹ năng về kỹ thuật, và thông minh được sinh ra từ quan sát và hiểu rõ về chính mình.

Trong khi Krishnamurti quan tâm đến sự vun quén trí năng, sự cần thiết phải có một cái trí rõ ràng, phân tích, trong sáng và lanh lẹ, ông còn nhấn mạnh nhiều thêm đến trạng thái ý thức cao độ về thế giới bên trong lẫn bên ngoài, một khước từ chấp nhận quyền lực ở bất kỳ mức độ nào, và một sự cân bằng hòa hợp của trí năng và tánh nhạy cảm. Để tìm ra những lãnh vực nơi hiểu biết và những kỹ năng kỹ thuật cần thiết, và nơi chúng không liên quan và thậm chí còn gây nguy hại, đối với Krishnamurti là một trong những nhiệm vụ căn bản của giáo dục, bởi vì chỉ khi nào cái trí hiểu rõ tầm quan trọng của sự hiện diện những lãnh vực nơi hiểu biết không liên quan đến, thì lúc đó một kích thước hoàn toàn mới mẻ được nhận ra, những năng lượng mới mẻ được sinh ra, và những tiềm năng chưa vận dụng của cái trí con người được kích động.

Một trong những vấn đề thách thức không giải quyết được cho những người giáo dục khắp thế giới là vấn đề tự do và trật tự. Làm thế nào một em bé, một học sinh, lớn lên trong tự do và cùng lúc lại phát triển trạng thái ý thức sâu sắc của trật tự phía bên trong? Trật tự là cội gốc của tự do. Tự do, đối với Krishnamurti, không có điểm kết thúc nhưng được làm mới mẻ từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác trong chính động thái đang sống. Trong những trang này, người ta có thể có được một ít hiểu rõ, một cảm thấy chất lượng tự do này mà trật tự là một thành phần tồn tại tự nhiên trong nó.

Những năm tháng một em học sinh trải qua trong một trường học phải để lại trong em hương thơm và an lành. Điều này chỉ có thể xảy ra khi không có ganh đua, không có uy quyền, khi dạy học và học hỏi là một tiến hành cùng lúc trong hiện tại, nơi cả người giáo dục và người được giáo dục đều đang tham dự trong động thái học hỏi.

Không giống như sự truyền đạt về tinh thần tôn giáo bởi nhiều giáo phái và những nhóm tôn giáo, Krishnamurti giải thích về thế giới thực tế này nhưng vẫn chứa đựng một kích thước tôn giáo sâu sắc. Những lời dạy của Krishnamurti khác hẳn sự tiếp cận truyền thống về liên hệ giữa người thầy giáo và người được dạy, vị đạo sư và người đệ tử. Sự tiếp cận truyền thống theo căn bản được dựa vào phân chia giai cấp; có người giáo viên hiểu biết và người học sinh không hiểu biết và phải được dạy dỗ. Đối với Krishnamurti, người thầy giáo và em học sinh vận hành cùng một mức độ – truyền đạt bằng phương pháp đặt câu hỏi và đưa ra câu hỏi ngược lại cho đến khi những chiều sâu của vấn đề được phơi bày và hiểu rõ được bộc lộ, khai sáng cái trí của cả hai người.

Trung tâm Krishnamurti Foundation Indiacảm thấy rất vinh dự khi có thể trao tặng quyển sách này cho em học sinh và người giáo dục.

Ban biên tập.


Lời Ban Biên Tập TVHS

Các Nhà xuất bản tại Việt Nam cũng như ở hải ngoại có nhu cầu in cuốn sách này vì mục đích kinh doanh, xin vui lòng liên lạc với Dịch gỉa và tổ chức Krishnamurti Foundation India: Vasanta Vihar 124 Greenways Road RA Puram Chennai - 600 028 Tel: 24937803/24937596 Email: [email protected]

07-01-2007 04:23:45

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
15/12/2017(Xem: 180556)
Văn Hóa Phật Giáo, số 242, ngày 01-02-2016 (Xuân Bính Thân) Văn Hóa Phật Giáo, số 244, ngày 01-03-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 245, ngày 15-03-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 246, ngày 01-04-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 247, ngày 15-04-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 248, ngày 01-05-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 249, ngày 15-05-2016 (Phật Đản PL 2560) Văn Hóa Phật Giáo, số 250, ngày 01-06-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 251, ngày 15-06-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 252, ngày 01-07-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 253, ngày 15-07-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 254, ngày 01-08-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 255, ngày 15-08-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 256, ngày 01-09-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 257, ngày 15-09-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 258, ngày 01-10-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 259, ngày 15-10-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 260, ngày 01-11-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 261, ngày 15-11-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 262, ngày 01-12-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 263, ngày 15-12-2016
08/12/2017(Xem: 27969)
Những pháp thoại trong tác phẩm này là những lời dạy tiêu biểu truyền cảm hứng phi thường mà Lama Yeshe và Lama Zopa Rinpoche đã thuyết giảng tại nhiểu thời điểm. Các pháp thoại này là những gì truyền cảm hứng cho nhiều học trò của họ, như tôi, để buông xả những gì chúng ta đang làm và hiến dâng trọn đời mình đi theo các vị Lama[1]. Khi Rinpoche nói “mỗi người chúng ta cần nghỉ như vậy: tất cả chúng sanh đều vô cùng tử tế với tôi trong quá khứ, họ tử tế với tôi trong hiện tại, và họ sẽ tiếp tục tử tế với tôi trong tương lai. Họ là cánh đồng mà trong đó tôi nhận được tất cả hạnh phúc của mình—quá khứ, hiện tại và tương lai; tất cả các tài đức hoàn hảo của tôi đều xuất phát từ những chúng sanh khác. Do vậy, tôi phải chứng đạt giác ngộ. Chỉ tìm kiếm hạnh phúc miên viễn cho riêng tôi, không mang lại hạnh phúc cho những chúng sanh khác, từ bỏ những chúng sanh khác,không quan tâm đến hạnh phúc của họ, là rất ích kỉ. Do đó, tôi phải chứng đạt giác ngộ, hạnh phúc cao cả nhất, để
09/01/2017(Xem: 14841)
Phật pháp tại thế gian, chẳng thể lìa thế gian mà có. Thế nên biết, người muốn ngộ được lẽ thật của muôn pháp, cũng phải từ muôn pháp mà ngộ, muốn nhận rõ Bản tâm chân thườngcũng phải từ chiếc thân tứ đại vô thường mà nhận.
08/01/2017(Xem: 16190)
Phật pháp tại thế gian, chẳng thể lìa thế gian mà có. Thế nên biết, người muốn ngộ được lẽ thật của muôn pháp, cũng phải từ muôn pháp mà ngộ, muốn nhận rõ Bản tâm chân thường cũng phải từ chiếc thân tứ đại vô thường mà nhận.
07/01/2017(Xem: 17192)
Phật pháp tại thế gian, chẳng thể lìa thế gian mà có. Thế nên biết, người muốn ngộ được lẽ thật của muôn pháp, cũng phải từ muôn pháp mà ngộ, muốn nhận rõ Bản tâm chân thường cũng phải từ chiếc thân tứ đại vô thường mà nhận.
27/12/2016(Xem: 18271)
Lịch sử là bài học kinh nghiệm luôn luôn có giá trị đối với mọi tư duy, nhận thức và hành hoạt trong đời sống của con người. Không có lịch sử con người sẽ không bao giờ lớn khôn, vì sao? Vì không có lịch sử thì không có sự trải nghiệm. Không có sự trải nghiệm thì không có kinh nghiệm để lớn khôn.
25/12/2016(Xem: 8567)
Theo các nhà nghiên cứu Phật học thì Đức Phật Thích ca đã dùng tiếng Magadhi để thuyết Pháp. Tiếng Magadhi là ngôn ngữ thuộc xứ Magadha ở vùng trung lưu sông Ganges (Hằng hà). Rất nhiều sắc lệnh của Đại đế Asoka được khắc trên các tảng đá lớn và các cây cột lớn được tìm thấy có thể cho chúng ta biết một phần nào về ngôn ngữ mà Đức Phật đã nói như thế nào.
22/12/2016(Xem: 45751)
Tất cả chúng ta đều biết rằng lời Phật dạy trong 45 năm, sau khi Ngài đắc đạo dưới cội cây Bồ Đề tại Gaya ở Ấn Độ, đã để lại cho chúng ta một gia tài tâm linh đồ sộ qua khẩu truyền cũng như bằng văn tự. Kể từ đó đến nay, con Người vĩ đại ấy và giáo lý thậm thâm vi diệu của Ngài đã vượt ra khỏi không gian của xứ Ấn và thời gian trải dài suốt 26 thế kỷ từ Á sang Âu, từ Âu sang Mỹ, từ Mỹ sang Úc, Phi Châu v.v… Như vậy đủ để cho chúng ta thấy rằng giáo lý ấy đã khế hợp với căn cơ của mọi người, dầu tu theo truyền thống Nam truyền hay Bắc truyền và ngay cả Kim Cang Thừa đi nữa cũng là những cổ xe đang chuyên chở mọi người đi đến con đường giải thoát của sanh tử luân hồi.
20/12/2016(Xem: 18767)
Đức Phật xuất hiện ở đời vì hạnh phúc chư thiên và loài người. Sau 49 năm thuyết pháp, độ sinh, ngài đã để lại cho chúng ta vô số pháp môn tu tập tùy theo căn cơ của mỗi người nhằm chuyển hóa nỗi khổ và niềm đau, mang lại hạnh phúc an vui, giải thoát, niết bàn. Chỉ xét riêng thánh quả Dự Lưu (Tu Đà Hườn), trong kinh điển Nikaya (Pali) Thế Tôn và ngài Xá Lợi Phất chỉ ra hơn năm cách[i] khác nhau tùy theo hoàn cảnh và sở trường của hành giả xuất gia cũng như tại gia để chứng đắc thánh quả đầu tiên này trong bốn thánh quả. Trong những cách này, cách dễ nhất, căn bản nhất, phổ quát nhất và hợp với đại đa số chúng đệ tử nhất
16/07/2016(Xem: 22805)
Nếu trang phục truyền thống của một dân tộc hay quốc gia biểu đạt bản sắc văn hóa về y phục của dân tộc hay quốc gia đó, thì pháp phục Phật giáo thể hiện bản sắc đặc thù, khác hẳn với và vượt lên trên các quốc phục và thường phục của người đời, dù ở phạm vi dân tộc hay quốc gia. Lễ phục tôn giáo nói chung và pháp phục Phật giáo nói riêng thể hiện tình trạng tôn giáo và xã hội (social and religious status), được sử dụng trong hai hình thức, mặc trong sinh hoạt thường nhật và mặc trong các nghi lễ tôn giáo, nói chung các dịp đặc biệt.