Giọt mồ hôi thanh thản

22/02/201112:01(Xem: 15322)
Giọt mồ hôi thanh thản

GIỌT MỒ HÔI THANH THẢN
Tác giả: Nguyên Minh
NXB: Tôn giáo
Khổ sách: 13x19 cm
Độ dày: 144 trang

408

THAY LỜI TỰA

Tôi vẫn luôn tin rằng một trong những vốn liếng quý giá nhất của con người chính là sự vững tin vào khía cạnh lạc quan của cuộc sống. Chừng nào mà niềm tin này vẫn còn được giữ vững, chúng ta sẽ luôn có đủ nghị lực để vượt qua tất cả khó khăn và đối mặt với những khổ đau, bất hạnh. Ngược lại, nếu ai đó đánh mất đi niềm tin này thì sẽ là nỗi bất hạnh lớn lao nhất cho người ấy, vì những khổ đau rất thường gặp trong cuộc sống sẽ dễ dàng làm cho người ấy suy sụp tinh thần và gục ngã.

Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta phải luôn nhìn đời qua một cặp kiếng hồng. Bởi vì trong thực tế thì cuộc sống chưa bao giờ và cũng sẽ không bao giờ chỉ toàn những điều tốt đẹp. Sự thật là chúng ta đã sinh ra và lớn lên trong vô vàn những khổ đau vây quanh. Ngay cả những mảnh đời được xem là may mắn nhất cũng không hề vắng bóng của khổ đau. Và việc đối mặt với sự thật này lại chính là điều tất yếu nhất để mỗi chúng ta có thể tự vươn lên tìm cho mình một giá trị đích thực trong cuộc sống.

Vững tin vào khía cạnh lạc quan của đời sống có nghĩa là nhìn xuyên qua lớp mây mù trùng trùng giăng bủa của những khổ đau và bất hạnh để thấy được có một mặt trời hồng tươi rực rỡ vẫn luôn tỏa sáng. Cho dù những gì chúng ta phải đối mặt mỗi ngày luôn có vẻ như vui ít buồn nhiều, nhưng điều đó không ngăn cản chúng ta nhìn sâu vào bản chất của đời sống để thấy được những giá trị lạc quan chân thật cần đạt đến.

Ngay cả khi cuộc sống vẫn còn đầy dẫy khó khăn và bộn bề những lo toan, vất vả, chúng ta vẫn có thể vững tin được rằng ý nghĩa đích thực của đời sống này không chỉ là ngày qua ngày cam chịu những khổ đau dằn vặt, mà sự thật là mỗi người chúng ta đều có khả năng đạt đến một trạng thái tinh thần an vui thanh thản bằng vào những nỗ lực của chính mình.

Điều này cũng giống như giữa một cơn mưa giông với mây đen mịt mù bao phủ, chúng ta vẫn có thể biết chắc rằng bên kia lớp mây đen mù mịt kia luôn tồn tại một mặt trời chói chang rực sáng. Tuy nhiên, sự khác biệt lớn lao ở đây là, đám mây đen mù mịt của những khổ đau và bất hạnh quanh ta sẽ không bao giờ tự nó tan biến đi như trong trường hợp của một cơn mưa giông. Vì thế, chúng ta không thể ngồi yên chờ đợi điều đó xảy ra mà cần có những nỗ lực nhất định trong việc học hỏi và rèn luyện một nếp sống tích cực, cũng như thực hành những phương thức thích hợp mang đến cho tâm hồn một sức mạnh nhằm có thể đối mặt và vượt qua đau khổ. Có như vậy, ta mới có thể xua tan được những đám mây đen ảm đạm do khổ đau và bất hạnh gây ra trong tâm hồn chúng ta.

Trong một tập sách nhan đề “Hạnh phúc là điều có thật”[1] được xuất bản trước đây, tôi đã có dịp chia sẻ với độc giả một số vấn đề về việc làm thế nào để có thể nhận rõ và đạt được niềm vui trong cuộc sống. Chỉ ít lâu sau khi tập sách được phát hành, tôi đã nhận được khá nhiều thông tin phản hồi từ bạn đọc. Trong số đó, không ít người đã đề cập đến những khó khăn nhất định mà chúng ta luôn vấp phải trong thực tế khi thực hành những phẩm chất tốt đẹp để đạt đến hạnh phúc. Chẳng hạn, chúng ta có thể thực hành sự cảm thông và tha thứ với những người thân trong gia đình một cách dễ dàng hơn so với khi phải đối mặt với một bạn đồng nghiệp xấu tính hoặc một ông xếp hay cáu gắt. Vấn đề càng trở nên khó khăn hơn rất nhiều nếu chúng ta không may rơi vào những môi trường làm việc không như mong muốn, hoặc phải làm những công việc không hoàn toàn đúng với chuyên môn hoặc sở thích của bản thân. Nhưng trong thực tế thì điều này lại rất thường xảy ra, và chúng ta dường như có rất ít sự lựa chọn ngoài việc phải cố gắng để thích nghi với những gì mà cuộc sống mang đến.

Tất cả chúng ta đều không thể chỉ sống co mình trong môi trường gia đình, mà bắt buộc phải có rất nhiều mối quan hệ khác trong công việc, trong giao tế... Ít nhất, chúng ta ai cũng cần phải có một công việc để nuôi sống bản thân và gia đình. Và mối quan hệ trong công việc bao giờ cũng có những khó khăn, căng thẳng hơn so với mối quan hệ với những người thân trong gia đình.

Do đó, sự thật là việc thực hành một nếp sống thanh thản sẽ không dễ dàng chút nào khi chúng ta phải đối mặt với vô số những lo toan và áp lực, chẳng hạn như những yêu cầu căng thẳng của công việc hay những cách ứng xử rất “khó chịu” của người khác. Trong rất nhiều trường hợp, cung cách ứng xử hằng ngày của chúng ta thường không chỉ xuất phát từ bản chất tự thân, mà có vẻ như còn là một tấm gương phản chiếu những áp lực ta đang phải gánh chịu từ cuộc sống.

Không chỉ vậy, áp lực của công việc thường khi còn ảnh hưởng đến cả cuộc sống trong gia đình. Một người chồng đi làm về mệt nhoài sau một ngày quá bận rộn thường không dễ nở nụ cười cảm thông và tha thứ với một sai lầm nào đó của người vợ, nhất là khi anh ta nghĩ rằng chỉ có mình là người khó nhọc nhất trong gia đình! Con cái cũng thường phải gánh chịu những cơn nóng giận vô cớ của cha mẹ khi họ trở về nhà trong trạng thái quá mệt mỏi sau một ngày làm việc căng thẳng.

Tất cả những điều đó, nếu được nhận thức trong một tâm trạng bình tĩnh và sáng suốt thì bất cứ ai trong chúng ta cũng đều phải thừa nhận là vô lý và chẳng mang lại kết quả tốt đẹp gì! Nhưng với một tâm trạng mệt mỏi và căng thẳng thì chúng lại rất thường xảy ra như một tiến trình hoàn toàn tự nhiên đến nỗi rất ít khi chúng ta tự đặt câu hỏi về sự vô lý của chính mình. Vấn đề ở đây là, “tiến trình tự nhiên” đó thật ra hoàn toàn có thể thay đổi được theo hướng tốt đẹp hơn nếu chúng ta biết quay lại quan sát chính bản thân mình để thấy được những cách ứng xử như thế nào là thực sự có lợi trong từng trường hợp.

Thời gian làm việc của chúng ta bao giờ cũng chiếm một tỷ lệ khá lớn trong cuộc sống hằng ngày, cho dù là ta đang giữ bất cứ vị trí nào trong xã hội. Vì thế, qua công việc chúng ta không chỉ nhận được những giá trị vật chất bằng vào sức lao động của bản thân, mà còn có cả những giá trị tinh thần trong cuộc sống. Qua giao tiếp trong công việc, chúng ta có cơ hội tiếp xúc và tạo ra tình cảm gắn bó với nhiều người. Qua công việc, chúng ta học được cung cách ứng xử với người khác cũng như rất nhiều ý nghĩa cao đẹp trong cuộc sống. Và cũng qua công việc mà chúng ta có thể tìm được niềm vui sống, thực hiện được những điều có ý nghĩa đóng góp tích cực cho xã hội, cũng như rèn luyện năng lực thể chất lẫn tinh thần để vươn lên hoàn thiện bản thân mình.

Mặc dù vậy, trong khi những giá trị vật chất luôn có thể đo đếm được, thì những giá trị tinh thần lại rất nhiều khi bị lãng quên, không được quan tâm đến. Nhưng cho dù chúng ta có thể lãng quên, không quan tâm đến chúng, thì những giá trị ấy vẫn luôn tác động một cách vô cùng cụ thể đến trạng thái tinh thần của ta trong đời sống hằng ngày.

Nói một cách khác, chính những giá trị tinh thần mới là yếu tố quyết định việc chúng ta có được một cuộc sống an vui hạnh phúc hay không. Chúng ta có thể nỗ lực làm việc vất vả để có được nhiều giá trị vật chất hơn, nhưng chúng ta không thể bằng vào cách đó để có được những giá trị tinh thần. Những giá trị tinh thần chỉ có thể đạt được qua việc điều chỉnh những nhận thức sai lầm, thực hành nếp sống tốt đẹp và rèn luyện tâm hồn theo những chuẩn mực, giá trị đạo đức nhất định.

Về mặt vật chất, để nhận được từ xã hội những gì cần có trong cuộc sống, chúng ta nhất thiết phải có phần đóng góp của riêng mình cho xã hội, và sự hợp lý trong mối quan hệ hai chiều này luôn thể hiện tính công bằng của xã hội mà ta đang sống. Nếu có những người muốn nhận được rất nhiều từ xã hội nhưng lại không có những đóng góp thỏa đáng, tính công bằng của xã hội đó sẽ có nguy cơ bị phá vỡ. Vì thế, nếu chúng ta mong muốn xây dựng một xã hội công bằng thì điều trước hết là chính bản thân ta phải cố gắng thực hiện tốt phần đóng góp của mình cho xã hội.

Nhưng khi xét đến những giá trị tinh thần thì không phải như vậy. Ngay cả trong một xã hội công bằng lý tưởng, khi tất cả mọi người đều cảm thấy hài lòng với những giá trị vật chất có được bằng vào sức lao động của bản thân, thì cũng chưa hẳn họ đã có thể nhận được những giá trị tinh thần tương ứng. Nói cách khác, phần giá trị tinh thần mà mỗi người có được – vốn cũng quan trọng không kém phần giá trị vật chất – lại không hề được phân chia theo phần đóng góp cho xã hội, mà luôn tùy thuộc vào tính chất đúng đắn của những nhận thức về cuộc sống cũng như sự tu dưỡng nội tâm của mỗi người.

Mặt khác, nếu như ai đó nhận được quá nhiều những giá trị vật chất nhưng lại đóng góp quá ít cho xã hội, người ấy sẽ bị xem là một thành phần ăn bám hoặc bóc lột sức lao động của người khác, và sẽ luôn bị xã hội khinh chê, ghét bỏ. Nhưng hoàn toàn ngược lại, nếu như bạn có khả năng nhận được rất nhiều những giá trị tinh thần trong công việc, điều đó sẽ luôn tạo ra một sự kính phục, ngưỡng mộ nơi những người khác. Và sự khác biệt – cho dù rất lớn – giữa mọi người về những giá trị tinh thần mà họ nhận được không bao giờ có thể xem là dấu hiệu của sự bất công.

Vì sao có sự khác biệt như vừa nói? Vì khi có ai đó nhận được phần giá trị vật chất quá nhiều so với sự đóng góp của họ, thì tất yếu là phải có những người khác mất đi một phần giá trị vật chất mà lẽ ra họ phải nhận được. Nhưng khi bạn nhận được rất nhiều những giá trị tinh thần, sẽ không có bất cứ ai bị giảm mất phần chia của mình. Ngược lại, người có khả năng nhận được nhiều giá trị tinh thần trong công việc lại cũng đồng thời mang lại rất nhiều giá trị tinh thần tích cực cho những người quanh mình.

Nhưng trong thực tế, khi chọn lựa một công việc để mưu sinh, chúng ta thường ít khi có cơ hội để quan tâm đến những điều khác ngoài tiền lương và những yêu cầu của công việc. Một công việc vừa với khả năng và mức lương “đủ sống” bao giờ cũng đã là mơ ước của rất nhiều người. Những vấn đề khác, chẳng hạn như môi trường làm việc, những mối quan hệ trong công việc... thường không mấy khi được đưa vào các tiêu chuẩn chọn lựa, cho dù trong thực tế chúng luôn có ảnh hưởng sâu xa đến niềm vui sống mỗi ngày của chúng ta.

Và như đã nói, một khi không thể chọn lựa được những điều kiện tốt đẹp như mong muốn, thì điều duy nhất mà chúng ta có thể làm không gì khác hơn là phải biết cách thích nghi tốt với những điều kiện hiện có. Hơn thế nữa, có vẻ như đây mới chính là vấn đề khả thi cho tất cả chúng ta, bởi vì trong thực tế thì bên cạnh những khó khăn cũng như những điều trái ý, mọi môi trường hay điều kiện làm việc đều luôn có những khía cạnh tích cực, tốt đẹp nào đó. Chỉ cần chúng ta biết nhận ra điều ấy thì việc thích nghi tốt với môi trường làm việc sẽ không phải là điều không thể được.

Cho dù là những công nhân làm việc trong nhà máy, trên công trường, hay những người làm công việc quản lý hoặc lao động trí óc, tất cả chúng ta ngày ngày đều phải đổ mồ hôi trong công việc, ít nhất cũng là để nuôi sống bản thân và gia đình. Tuy nhiên, bao giờ cũng vậy, luôn có những giọt mồ hôi nhỏ xuống trong sự bực dọc, cáu gắt hoặc bất mãn, và cũng có những giọt mồ hôi nhỏ xuống trong sự vui tươi, thanh thản của tâm hồn. Tập sách mỏng này chính là muốn chia sẻ với các bạn đôi điều về những giọt mồ hôi thanh thản, những giọt mồ hôi luôn mang lại cho bạn cả giá trị vật chất cũng như những giá trị tinh thần cao quý nhất!

Source: rongmotamhon

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
03/09/2010(Xem: 7314)
Khi thế kỷ hai mươi kéo màn kết thúc, chúng ta thấy rằng thế giới trở nên nhỏ hơn và loài người trên thế giới đã trở thành gần như một cộng đồng. Những liên minh quân sự và chính trị đã được tạo thành những nhóm đa quốc gia rộng lớn, công nghiệp kỷ nghệ và mậu dịch quốc tế đã sản xuất một nền kinh tế toàn cầu, và sự đối thoại toàn thế giới đang xóa đi những hàng rào cũ kỷ của khoảng cách, ngôn ngữ, và chủng tộc.
01/09/2010(Xem: 21065)
Theo dòng diễn tiến của những cuộc du hóa qua những quốc gia trên thế giới, giàu và nghèo, Đông và Tây, chúng tôi đã từng thấy con người say sưa với niềm vuisướng, và những con người khổ đau. Sự phát triển của khoa học kỷ thuật dường như có đạt được thêm một ít đường nét, một số cải tiến; phát triển thườngcó nghĩa thêm ít nhiều những tòa nhà ở thành thị.
01/09/2010(Xem: 6028)
Chúng ta cần một loại tỉnh thức tập thể. Có những người đàn bà và đàn ông trong chúng ta đã tỉnh thức, nhưng chưa đủ; hầu hết mọi người vẫn đang ngủ…Nếu chúng ta tỉnh thức về tình trạng thật sự của chúng ta, sẽ có một sự thay đổi trong ý thức tập thể của chúng ta. Chúng ta phải làm điều gì đấy để thức tỉnh con người. Chúng ta phải hổ trợ Đức Phật để đánh thức những người đang sống trong mộng.” Thiền Sư Nhất Hạnh, trong Sự Đáp Ứng của Phật Giáo đến Tình Trạng Khẩn Cấp của Khí Hậu.
31/08/2010(Xem: 4946)
Thảm trạng môi trường và xã hội đổ vở bây giờ lan rộng và khắp hành tinh trong sự đo lường. Những sự cải tiến kỷ thuật đã cung ứng cơ sở cho một loại tiến triến mới của xã hội, vượt khỏi những biên giới của văn hóa, tôn giáo, và tâm linh. Tuy thế, kỷ thuật không phải hoàn toàn được điều khiển trực tiếp bởi lý trí, nhưng bởi những động lực nội tại của xã hội học và tâm lý học. Những khuynh hướng bản năng của loài người có những phương diện phá hoại cũng như tốt đẹp. Chúng ta có thể ca tụng kiến thức nghệ thuật, khoa học hay lòng vị tha của chúng ta bao nhiêu đi nữa, thì chúng ta không thể quên đi sự thật rằng chúng ta cũng là những động vật nguy hiểm nhất.
31/08/2010(Xem: 4998)
Một sự phối hợp những nhân tố đang phá hoại một cách nhanh chóng vòng sinh vật – hệ thống sinh thái địa cầu hợp nhất tất cả những chủng loại sinh sống, sự liên hệ và sự tác động qua lại với đá, đất, nước và khí quyển. Hệ thống khí hậu trái đất đã từng cung ứng nền tảng cho nền văn minh nhân loại đến sự phát triển hơn 5.000 năm qua. Xã hội chúng ta bây giờ mới chỉ bắt đầu nhận ra chiều sâu của sự liên hệ hổ tương sinh thái này. Sự khủng hoảng khí hậu mà chúng ta đang đối diện là nguyên nhân bởi sự vượt quá giới hạn khí carbon kết quả từ sự tiêu thụ nhiên liệu lỗi thời (than đá, dầu mõ,…), và từ sự tàn phá rừng. Điều chỉnh hành động là khẩn thiết cho sự tồn tại của chính loài người chúng ta. Tất cả những kỷ thuật chúng ta cần để tránh khí hậu tan vở đã hiện diện rồi.
30/08/2010(Xem: 8680)
Chưa bao giờ con người ngưng tìm kiếm trong thiên nhiên đề mong thâu thập được nhiều thứ hơn nữa nhằm chất đầy cái nhà kho mãi mãi thiếu thốn của mình. Từ thuở chào đời, hình như định mệnh buộc nó phải đối mặt với một thế giới cứ muốn cắt giảm năng lực của mình, khi nó nhận ra hai bàn tay mình thì quá ngắn, hai chân mình lại quá chậm để có thể bắt kịp cái dòng chảy xiết của sinh tồn để hưởng thụ cuộc sống, nó phải nuôi dưỡng cơ thể.
30/08/2010(Xem: 11202)
Không giống những tôn giáo khác và những lý thuyết hiện đại về kinh tế học, đạo Phật cho rằng kinh tế học gắn liền với đạo đức học và lý thuyết về hành vi (kamma). Mặc dù nhiều nhà kinh tế xem kinh tế học là một khoa học “tích cực” của một loại hiện tượng xã hội, nhưng dưới cái nhìn của đạo Phật, kinh tế học có quan hệ đặc biệt với đạo đức học. Lý thuyết kinh tế học của đạo Phật nhấn mạnh quan điểm về sự chủ tâm (cetan(, tác ý) trong việc giải thích tư cách đạo đức con người. Trong bài này, tác giả cố gắng giải thích vài khái niệm quan trọng trong kinh tế học như đã được mô tả trong kinh điển đạo Phật để cho thấy rằng đạo đức học đóng một vai trò quan trọng trong kinh tế học và do đó có một tầm quan trọng lớn đối với kinh tế học và ngược lại.
30/08/2010(Xem: 17501)
Nhiều người cho rằng Phật giáo là một tôn giáo nên không có sự quan hệ với vấn đề kinh tế đó là nhận định sai lầm, bởi vì con người là một hợp thể do ngũ uẩn tạo thành chia làm hai phần là Vật chất (sắc) và tinh thần (danh). Con người không thể chỉ dựa vào tinh thần không thôi mà có thể tồn tại được, nhưng con người cũng không thể chỉ là động vật thuần nhất về kinh tế vật chất.
30/08/2010(Xem: 17987)
Đạo đức là ngành học đánh giá các hành vi con người biểu hiện qua các hành động của thân, lời và ý do lý trí, ý chí và tình cảm cá nhân thực hiện. Các nhà tư tưởng và các nhà đạo đức thường quan niệm khác nhau về giá trị, tiêu chuẩn giá trị. Dù vậy, vẫn có nhiều nét tư tưởng gặp gỡ rất cơ bản về ý nghĩa đạo đức, nếp sống đạo đức mà ở đó giá trị nhân văn của thời đại được đề cao.
30/08/2010(Xem: 19522)
Tất cả chúng ta đều mong ước sống trong một thế giới an lạc và hạnh phúc hơn. Nhưng nếu chúng ta muốn biến nó trở thành hiện thực, chúng ta phải bảo đảm rằng lòng từ bi là nền tảngcủa mọi hành động. Điều này lại đặc biệt đúng đối với các đường lối chủ trương về chính trị và kinh tế.