5- Yêu Và Thương

15/05/201311:04(Xem: 4637)
5- Yêu Và Thương


THẾ GIỚI HÒA ĐỒNG

HỘI LUẬN GIỮA H.H THE DALAI LAMA& TÁM NHÀ TÂM LÝ HOA KỲ

Bản dịch:Chân Huyền

Nhuận sắc: Chân Văn

CHƯƠNG 5

YÊU VÀ THƯƠNG

Câu hỏi của thính giả:

Chúng ta đã nói quá nhiều về đau khổ và những điều tai hại. Xin quý vị nói thêm về Niềm Vui là Hạnh Phúc.

Đạt lai lạt ma:

Khi có người giúp bạn bớt Khổ là bạn đã vui rồi. Tây Tạng chúng tôi có câu: “Nếu bạn vui thái quá thì sau đó bạn sẽ phải khóc thôi.” Câu này nói lên sự tương đối giữa cái mà ta gọi là Vui và Khổ, và nó có nghĩa là chuyện gì cũng có giới hạn.

Đối với quan điểm của một người thực hành đạo Bụt, điều quan trọng là bạn phải có một tinh thần an nhiên, vững vàng, không bị lên cao hay xuống thấp nhiều quá. Có vui, có khổ, có cả phiền muộn chán đời, nhưng không quá cao, quá thấp. Lối sống này có thể coi như thiếu màu sắc, nhưng thật ra, sống căng thẳng với quá nhiều kích động là điều không tốt. Cũng giống như ánh sáng trong phòng. Khi quá sáng làm loá mắt, lúc quá tối không nhìn rõ, cả hai đều không có ích lợi mấy.

Lối sống này phụ thuộc nhất là vào tình trạng tinh thần của chúng ta. Tôi cho rằng giữ được tâm bình an vững chãi là điều quan trọng nhất. Muốn có tâm bình, ta phải tập luyện. Tâm trí chúng ta có thể trở nên vững vàng, kiên cường, ít bị ngoại cảnh lôi kéo xô đẩy. Ngược lại với tình trạng trên là khi bạn quá nhạy cảm: một chút chuyện buồn có thể làm bạn chán đời, và một chút vui cũng làm bạn bị kích thích mạnh mẽ. Sống như vậy thật không nên.

Trí tuệ trong tâm thức thâm sâu của bạn sẽ giúp bạn ứng xử với những chuyện khó khăn. Bạn đừng để vấn đề nó nhận chìm, mà hãy chấp nhận và từ tốn giải quyết nó. Khi có chuyện vui tới, bạn hãy tiếp nhận nó một cách an nhiên. Chấp nhận mọi chuyện một cách bình thường, đó là bí quyết.

Daniel Brown:

Thưa ngài, tôi xin hỏi một câu về bản chất của cách thực tập này. Hầu như có hai lối thực tập: một là làm việc với những cảm xúc tiêu cực (hay những tính bất thiện) và hai là phát triển những tính tốt của mình. Đó là hai cách thực tập bổ túc nhau nhưng độc lập với nhau. Làm việc với những cảm thọ tiêu cực không nhất thiết sẽ làm tăng các đức tính. Là con người, ta cũng cần nuôi dưỡng những tính tốt như lòng tin, tính kiên nhẫn và lòng bác ái.

Trong xã hội chúng tôi, có nhiều ngành trị bệnh thiên về phân tích tâm lý như Phân tâm học chẳng hạn, họ chú ý tới những tính chất bất thiện của tâm tư. Các ngành khác (như trị liệu bằng sự hoán chuyển cá nhân), lại cho là chúng ta phải nuôi dưỡng các đức tính nữa. Chúng tôi thường không đồng ý mà chống đối nhau về vấn đề này. Trong đạo Bụt, làm sao để phát triển các tính thiện?

Đạt lai lạt ma:

Muốn nuôi dưỡng lòng vị tha, thiền giả phải coi trọng hạnh phúc của người khác, quán chiếu nhiều lần về những hậu quả của sự săn sóc và tình thương yêu dành cho những người đó. Thiền giả cũng phải quán chiếu về những hậu quả bất lợi của sự ích kỷ, chỉ biết phục vụ ưu tiên cho phúc lợi của mình mà chống lại người khác. Hai cái nhìn khác nhau này của thiền quán đưa tới một trạng thái tinh thần lành mạnh. Tương tự như vậy, khi tập nuôi dưỡng lòng từ bi, người ta có thể cũng quán chiếu về cái tâm ganh ghét. Hai thứ này đi đôi với nhau và đều có ích cả. Ta nên chú trọng vào loại tâm nào trước? Thật khó mà định được, vì nó là vấn đề của từng cá nhân.

Daniel Goleman:

Thưa ngài, trong thế giới tây phương, chúng tôi có một thứ mẫu mực nào đó cho sức khoẻ hay sự lành mạnh tinh thần. Đạo Bụt Tây Tạng có khuôn mẫu nào về chuyện này không?
Đạt lai lạt ma:

Nói một cách tuyệt đối, chỉ có Bụt là người lành mạnh mà thôi. Nhưng nói như vậy thì không thực tế. Vậy nên, thực tế mà nói, hiện nay hình như chúng ta chỉ dùng những ước lệ bình thường để coi khi nào thì con người lành mạnh? Khi nào thì xã hội công nhận một con người là tốt và lành mạnh? – Không có gì tuyệt đối hết. Bạn có thể gặp một người coi như rất lương hảo, nhưng khi bạn thấy một người khác có lòng từ bi và trí tuệ hơn, thì người thứ nhất lại bị coi như kém rồi. Ta không thể có một tiêu chuẩn tuyệt đối được.

Nhưng khi muốn cho rõ ràng hơn, thì ta có thể nói rằng, một con người lành mạnh là người sẵn lòng giúp đỡ tha nhân khi có cơ hội. Khi không có cơ duyên, thì ít nhất họ cũng không làm hại ai. Sống như vậy, họ là người lành mạnh. Đây là điều căn bản của đạo Bụt. Thực ra, tôi tin đó cũng là căn bản của các tôn giáo khác.

Daniel Goleman:

Vậy khi con người biết thương yêu một kẻ khó thương là họ mở được con đường từ bi?

Đạt lai lạt ma:

Phải, đúng như vậy.

Margaret Brenman-Gibson:

Trường hợp này thường xảy ra cho các nhà tâm lý trị liệu. Họ phải có thể thực sự thương người đang đau khổ kia, người mà họ thấy không có điểm nào dễ thương cả.

Tôi thường hỏi sinh viên sau lần đầu tiên các em gặp bệnh nhân, là con người đầy khổ đau đang cần được cứu giúp: “Em có thấy ưa người bệnh chút nào không? Thực tâm em thấy sao? Hãy thành thực cho tôi biết”. Nếu câu trả lời là “không” thì tôi bảo em để người bệnh cho sinh viên khác chữa. Nếu bạn không thấy một điểm dễ thương nào ở người bệnh, nếu bạn không thật sự đáp ứng được nhu cầu của người đó thì bạn không phải là thầy thuốc thích hợp cho họ.

Đạt lai lạt ma:

Phải, điều này rất đúng.

Daniel Goleman:

Hình như những người đã từng là nạn nhân bị cha mẹ bạo hành, hay lớn lên thiếu tình thương, thường rất khó có lòng từ bi với người khác. Thưa ngài, ngài có cách nào giúp cho những người không thương mình mà lại có từ tâm đối với kẻ khác chăng?

Đạt lai lạt ma:

Nếu người ta chưa bao giờ được yêu thương, từ bất cứ đâu, nếu chưa có ai biểu lộ tình thương dành cho họ, thì rất khó. Nhưng con người đó chỉ cần gặp một người nào tỏ ra yêu thương họ hết lòng - chấp nhận và từ bi với họ - thì cho dù họ chưa từng yêu con người mình, họ vẫn có thể có từ tâm với người khác khi biết được là người khác cần tới họ. Bởi vì trong con người, ai cũng có những hạt giống của từ bi và yêu thương, chỉ cần có chất xúc tác là chúng hiện hành.

Stephen Levine:

Thưa ngài, nhiều người dù đã cố gắng rất nhiều, vẫn đi tới chỗ không thể sống an vui được. Nhiều người đang phục vụ kẻ khác mà tâm rất buồn phiền. Phật pháp có thể dạy gì cho chúng tôi trong việc này?

Đạt lai lạt ma:

Có lẽ bạn phải cấy cho họ một ít tế bào óc của người Tây Tạng. Chúng tôi thường dễ vui lắm. Tôi nói đùa vậy thôi. Khi một người sống với quá nhiều thảm kịch, thì điều nên làm là chấp nhận quan niệm rằng chúng ta có nhiều tiền kiếp và nhiều đời sống sau khi chết. Như vậy, tầm nhìn sẽ rộng hơn dù đời sống hiện tại của họ không còn hy vọng.

Nhưng tôi nghĩ rằng bạn không nói tới những kiếp người đầy bất hạnh, mà bạn muốn chú ý tới những con người theo một truyền thống tâm linh nào đó và hay làm việc công ích, nhưng vẫn cảm thấy chán đời, thiếu hạnh phúc và không có khả năng sống vui vẻ. Trong khi thiền tập, người ta có thể tiến sâu và có hiểu biết về cái Tâm mình, cùng bản chất không vui của cuộc đời. Torng tiến trình đó, họ mong cầu được thoát khỏi vòng Khổ não. Nhưng nếu kết quả thiền tập của họ - trong khi vẫn sống rằng buộc với xã hội – không được thoả đáng lắm, họ thấy không đạt được trình độ họ mong cầu, thì sự thất vọng sẽ làm cho họ không còn vui được. Vấn đề có thể là vì họ mong cầu nhiều quá. Ai muốn nhiều lúc đầu thì sau cũng sẽ mất vui.

Jean Shinoda Bolen:

Thưa ngài. Tôi có một câu hỏi về vấn đề thăng bằng giữa lòng từ bi và sự không vướng mắc (hỷ xả). Trong tâm lý học tây phương, hình như khi muốn giúp một người nào, chúng tôi không tới gần họ được như người Phật tử Tây Tạng thường được khuyến khích làm. Tôi nghĩ là quý vị hành xử gần với phương pháp trị bịnh tâm thần hơn. Chúng tôi thường có lòng vị tha và quan sát cảm thọ của người khác, ráng để tình cảm mình không bị cuốn hút vào đó trong khi làm công việc chữa trị. Nhưng nếu chúng tôi sống với người thân cận bằng thái độ đó, chỉ quán sát mà không có phản ứng, chỉ nghĩ tới họ và có lòng từ bi thôi, thì chúng tôi sẽ không gần họ đủ để có tình thân lâu dài. Một trong những vấn đề người trị bịnh tâm thần và có lẽ cả các thiền giả có thể mắc phải là chúng ta không còn phản ứng đích thật trước hoàn cảnh của người khác. Nếu tiến xa hơn, chúng ta sẽ rơi vào tình trạng dửng dưng của những người chế tạo bom. Chúng ta rời xa trái tim mình, rời xa các cảm ứng, sợ hãi và mất luôn các loại cảm xúc khác.

Ta cần hoá giải những điều trái ngược này - để có thể quán sát với lòng từ bi mà vẫn có thể chăm sóc, liên hệ chặt chẽ với người khác. Vẫn cảm thấy những mất mát tình cảm làm ta buồn, và người khác vẫn có thể khiến ta đau khổ vì ta thực sự quan tâm tới họ. Không còn vấn đề vướng mắc hay dửng dưng nữa. Tuỳ theo công việc, ta có thể tìm được mức độ tối hảo cho sự thăng bằng này.

Jack Engler:

Đặc biệt người Mỹ chúng tôi thường tưởng như chúng tôi phải có quyền sống Hạnh Phúc. Sự thật, chúng tôi nổi giận dễ dàng khi không có hạnh phúc hay khi thấy người khác có được cái gì mình không có, hay khi thấy họ có nhiều hơn mình. Điều này hầu như nằm trong nhiều quy tắc nền tảng để xây dựng quốc gia này.

Quan niệm đó cũng khác với quan niệm của Phật Giáo về khả năng sống hạnh phúc. Ý tưởng cho là ta có quyền ngay lúc này, không cần đợi chờ, và ta không cần phải làm việc cực khổ mới có được hạnh phúc là ý tưởng rất nguy hại. Nhưng đó là một phần giấc mộng của người Mỹ. Dù hiến pháp Hoa Kỳ có viết: chúng ta có quyền theo đuổi hạnh phúc, nhưng chúng tôi cho như vậy là mình có quyền sống hạnh phúc hoài hoài. Ý tưởng này ảnh hưởng lên mọi hành động của chúng tôi. Tỷ dụ như khi thực tập theo đạo Bụt khong mang lại hạnh phúc tức thời cho chúng tôi thì chúng tôi sẽ không có bao nhiêu khả năng để thực hành bồ tát đạo, sống từ bi và phục vụ. Đằng sau tất cả những quan điểm đó, chúng tôi lại quan niệm rằng hạnh phúc cá nhân mới là thứ quan trọng nhất đời. Điều này luôn luôn được nhấn mạnh trong văn hoá chúng tôi.

Đạt lai lạt ma:

Cố gắng để đạt được hạnh phúc cá nhân là chuyện tự nhiên. Nhưng điều này khác xa với chuyện vì hạnh phúc của mình mà coi thường, bỏ qua hoặc làm hư hạnh phúc của những người khác. Hai điều này rất là khác biệt.

Câu hỏi của thính giả:

Xin ngài nói thêm về lòng từ bi và các cơ sở, tổ chức – như cơ sở kinh doanh, xã hội hay cơ quan chính phủ? Làm sao ta có thể giúp đỡ các tổ chức này hành động có từ ái?

Đạt lai lạt ma:

Trước tiên, không có tổ chức nào mà không là tập họp của các cá nhân. Không có người ta thì không có cơ quan nào cả. Vậy thì điều tốt nhất là ta chú trọng vào các cá nhân trong cơ sở đó, nhất là những người có trách nhiệm lớn lao, để khuyến khích họ nên có chánh niệm (tỉnh thức) và lòng từ bi. Làm cho tất cả tổ chức hiểu rõ hơn về những phúc lợi do lòng từ ái mang lại: chuyện này quan trọng ngang với vấn đề sống còn của tổ chức.

Jean Shinoda Bolen:

Xin ngài nói thêm về vấn đề sống còn?

Đạt lai lạt ma:

Chúng ta đã trao đổi rất nhiều về khủng hoảng của nền văn minh hiện đại, về những rối loạn và các vấn đề lớn đang xảy ra. Nguyên do vì đâu? Đó là vì ta thiếu tình thương và lòng từ. Nếu chúng ta nhìn kỹ vào vấn đề này, ta sẽ hiểu về những hệ quả tất yếu của lòng từ bi. Dĩ nhiên sự đe doạ của vũ khí nguyên tử rất nguy hiểm, nhưng muốn chấm dứt được sự đe doạ này, giải pháp cuối cùng vẫn là tâm từ bi: ta phải hiểu rằng tất cả mọi con người đều là anh chị em cả.

Câu hỏi thính giả:

Tôi nhận thấy là trẻ em bắt đầu mất lòng từ ái khi chúng đi học, vô trường gặp phải những trẻ không biết thương yêu. Xin ngài đề nghị cho chúng tôi một phương pháp nào dạy cho trẻ biết cách đối phó với những kẻ không có tâm từ bi mà vẫn phát triển được lòng vị tha trong con người chúng?

Đạt lai lạt ma:

Điều rất quan trọng là trẻ phải được thân cận với những người bạn tốt, tử tế, và gần gũi với cha mẹ chúng trong gia đình. Vấn đề là ta cần cố gắng thắt chặt mối giây liên hệ thân thiết của gia đình. Nếu không, chúng ta không làm được bao nhiêu.

Con người ta khi sinh ra được bú sữa mẹ. Đó là bài học đầu tiên về tình yêu và lòng từ ái. Bú sữa từ vú mẹ, tự nó là một bài học về sự liên hệ có gốc rễ là tình thương yêu. Chúng ta phải cố gắng giữ gìn tinh thần đó. Nhờ nó, nhờ mối liên hệ yêu thương giữa ta và sữa mẹ mà ta phát triển những tình cảm thân thương sau này. Tình yêu thương gia đình rất cần thiết. Nếu có không khí từ ái trong gia tộc, thì không chỉ cha mẹ mà các con cháu cũng được hưởng phúc lợi nhiều. Trẻ sẽ khoẻ mạnh hơn cả về thể xác lẫn tinh thần.

Tôi tin tưởng một cách sâu xa lòng từ ái không phải chỉ là con đường phát triển của loài người, mà nó cũng là sự sống còn của nhân loại, khi ta quan niệm sống còn là sanh ra và lớn lên. Đối với tôi, chuyện này rất rõ rệt.


---o0o---

Vi tính: Tường Chánh

Trình bày: Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
14/11/2021(Xem: 39965)
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn ngự tại xứ Sāvatthi, gần đến ngày an cư nhập hạ suốt ba tháng trong mùa mưa, chư Tỳ khưu từ mọi nơi đến hầu đảnh lễ Đức Thế Tôn, xin Ngài truyền dạy đề mục thiền định, đối tượng thiền tuệ thích hợp với bản tánh của mỗi Tỳ khưu. Khi ấy, có nhóm năm trăm (500) Tỳ khưu, sau khi thọ giáo đề mục thiền định xong, dẫn nhau đến khu rừng núi thuộc dãy núi Himavantu, nơi ấy có cây cối xanh tươi, có nguồn nước trong lành, không gần cũng không xa xóm làng, chư Tỳ khưu ấy nghỉ đêm tại đó. Sáng hôm sau, chư Tỳ khưu ấy dẫn nhau vào xóm làng để khất thực, dân chúng vùng này khoảng một ngàn (1.000) gia đình, khi nhìn thấy đông đảo chư Tỳ khưu, họ vô cùng hoan hỉ, bởi vì những gia đình sống nơi vùng hẻo lánh này khó thấy, khó gặp được chư Tỳ khưu. Họ hoan hỉ làm phước, dâng cúng vật thực đến chư Tỳ khưu xong, bèn bạch rằng: – Kính bạch chư Đại Đức Tăng, tất cả chúng con kính thỉnh quý Ngài an cư nhập hạ suốt ba tháng mùa mưa tại nơi vùng này, để cho tất cả chúng con có
13/11/2021(Xem: 21672)
“Bát Thánh Đạo” là phương pháp tu hành chơn chánh cao thượng đúng theo qui tắc Phật giáo mà đức Thế Tôn đã có lời ngợi khen là quí trọng hơn tất cả con đường tu hành, là con đường không thẳng cũng không dùn, không tham vui cũng không khắc khổ, vừa thành tựu các điều lợi ích đầy đủ đến hành giả, hiệp theo trình độ của mọi người. Cho nên cũng gọi là “TRUNG ĐẠO” (Majjhimapaṭipadā) là con đường giữa. Ví như đàn mà người lên dây vừa thẳng, khải nghe tiếng thanh tao, làm cho thính giả nghe đều thỏa thích. Vì thế, khi hành giả đã thực hành đầy đủ theo “pháp trung đạo” thì sẽ đạt đến bậc tối thượng hoặc chứng đạo quả trong Phật pháp không sai. Nếu duyên phần chưa đến kỳ, cũng được điều lợi ích là sự yên vui xác thật trong thân tâm, từ kiếp hiện tại và kết được duyên lành trong các kiếp vị lai. Tôi soạn, dịch pháp “Bát Thánh Đạo” này để giúp ích cho hàng Phật tử nương nhờ trau dồi trí nhớ và sự biết mình. Những hành giả đã có lòng chán nản trong sự luân hồi, muốn dứt trừ phiền não, để
08/11/2021(Xem: 23613)
Đây chỉ là chiếc thuyền nan, chưa tới bờ bên kia, vẫn còn đầy ảo tưởng chèo ra biển cả. Thân con kiến, chưa gột sạch đất cát, bò dưới chân Hy Mã Lạp Sơn, nghe tiếng vỗ của một bàn tay trên đỉnh cao. Chúng sinh mù, nếm nước biển, ngỡ bát canh riêu cá, Thế gian cháy, mải vui chơi, quên cảnh trí đại viên. Nắm vạt áo vàng tưởng như nắm lấy diệu quang, bay lên muôn cõi, theo tiếng nhạc Càn Thát Bà réo gọi về Tịnh Độ, ngửi mùi trầm Hương Tích, an thần phóng thoát. Con bướm mơ trăng Cực Lạc, con cá ngụp lặn dưới nước đuôi vàng như áo cà sa quẫy trong bể khổ, chờ thiên thủ thiên nhãn nghe tiếng sóng trầm luân vớt lên cõi Thanh văn Duyên giác. Những trang sách còn sở tri chướng của kẻ sĩ loanh quanh thềm chùa Tiêu Sơn tìm bóng Vạn Hạnh, mơ tiên Long Giáng lào xào bàn tay chú tiểu Lan trên đồi sắn.
07/11/2021(Xem: 26307)
Kinh Vô Lượng Nghĩa nói “vô lượng pháp từ một pháp mà sinh ra”. Ma Ha Chỉ Quán của Thiên Thai Trí Giả (538-597), quyển 5, nói: “Phật bảo các Tỳ-kheo, một pháp thâu nhiếp tất cả pháp, chính là Tâm”. Phổ môn là vô lượng giáo pháp. Vô lượng giáo pháp này cũng từ một giáo pháp mà sinh ra. Một giáo pháp phổ cập tất cả gọi là phổ môn. Chư Phật thuyết giáo thuận theo Tâm của chúng sinh. Giáo là những ngôn từ được thuyết ra cho những chúng sinh chưa thấu suốt. Pháp là những phương thức với nhiều tướng trạng giống nhau hoặc khác nhau. Tâm ý chúng sinh có bao nhiêu ngõ ngách thì giáo pháp có chừng ấy quanh co. Chư Phật dùng muôn vàn phương tiện khế cơ mang lại lợi ích cho chúng sinh. Ngài Xá Lợi Phất từng nói: “Phật dùng nhiều thứ nhân duyên và thí dụ, phương tiện ngôn thuyết như biển rộng khiến tâm người trong pháp hội được yên ổn, con nghe pháp ấy khiến lưới nghi dứt” là nghĩa trên vậy.
16/09/2021(Xem: 5662)
Sự bùng phát vào cuối tháng 12 năm 2019, bắt nguồn từ Hồ Nam, Vũ Hán, miền Trung Trung Quốc, virus Corona chủng mới (Covid-19) ban đầu được xác nhận là một loại bệnh "viêm phổi lạ" hoặc "viêm phổi không rõ nguyên nhân".
05/09/2021(Xem: 29153)
Bắt đầu gặp nhau trong nhà Đạo, người quy-y và người hướng-dẫn biết hỏi và biết tặng món quà pháp-vị gì cho hợp? Thực vậy, kinh sách man-mác, giáo-lý cao-siêu, danh-từ khúc-mắc, nghi-thức tụng-niệm quá nhiều – nghiêng nặng về cầu-siêu, cầu-an – không biết xem gì, tụng gì và nhất là nhiều người không có hoàn-cảnh, thỉnh đủ. Giải-đáp thực-trạng phân-vân trên, giúp người Phật-tử hiểu qua những điểm chính trong giáo-lý, biết qua sự nghiệp người xưa, công việc hiện nay và biết đặt mình vào sự rèn-luyện thân-tâm trong khuôn-khổ giác-ngộ và xử-thế, tôi biên-soạn cuốn sách nhỏ này. Cuốn sách nhỏ này không có kỳ-vọng cao xa, nó chỉ ứng theo nhu-cầu cần-thiết, mong giúp một số vốn tối-thiểu cho người mới vào Đạo muốn tiến trên đường tu-học thực-sự. Viết tại Sài-thành mùa Đông năm Mậu-tuất (1958) Thích-Tâm-Châu
19/08/2021(Xem: 7433)
Các câu trích dẫn giáo huấn của Đức Đạt-lai Lạt-ma dưới đây được ghi lại từ một tư liệu trên trang mạng tiếng Pháp Evolution-101 https://www.evolution-101.com/citations-du-dalai-Lama/
19/08/2021(Xem: 7135)
Sáng ngày 7 tháng 8 năm 2021, bà Dwi Lestari, một nhà văn và nghệ sĩ người Indonesia, đã cung kính đảnh lễ Đức Thánh Đạt Lai Lạt Ma, cùng đối thoại trực tuyến với hơn một nghìn sinh viên Indonesia. Chủ đề của buổi chia sẻ pháp thoại các Câu chuyện "Jataka" (chuyện tiền thân của Đức Phật), được ghi lại trong Bồ tát Bản sinh Man Luận (Jatakamala), hay " Garland of Birth Stories", và được mô tả qua các bức phù điêu khắc đá được trang trí chung quanh Thánh địa Phật giáo Borobodur, Di sản Thế giới. Sự kiện này nhằm khởi động lại sách "Nusantara Dharma", đang diễn ra với sự cộng tác bởi cộng đồng Kadam Chöling Indonesia.
18/08/2021(Xem: 6821)
Là một doanh nhân hay tinh thần kinh doanh, hoặc một nhóm người sáng tạo, và sản xuất hàng hóa và tạo dịch vụ, bằng cách tận dụng các cơ hội lợi nhuận của doanh nghiệp. Có rất nhiều ví dụ về tinh thần kinh doanh, cụ thể như ẩm thực, cửa hàng, tiệm cắt tóc, mở lớp dạy kèm, và nhiều ví dục khác về tinh thần kinh doanh mà chúng ta có thể làm. Theo quan điểm của Phật giáo, chúng ta không bị cấm kinh doanh miễn là nó không gây tổn hại đến mọi người, mọi loài.
14/08/2021(Xem: 3752)
Sách truyền khẩu cung cấp cho chúng ta, một lượng thông tin dồi dào về các vấn đề quá khứ trong thế giới. Các bạn có thể biết nhiều về cuộc sống cuả tổ tiên huyết thống của các bạn, chỉ đơn giản trong những buổi sum họp gia đình, bằng cách nghe cha mẹ kể về ông bà tổ tiên.