Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Từ những vần thơ đến câu kệ

03/03/201809:05(Xem: 2399)
Từ những vần thơ đến câu kệ


Duc The Ton 28

Từ những vần thơ đến câu kệ


 

Có những vần thơ gắn liền với mỗi người từ thuở biết viết, biết đọc cho đến lúc trưởng thành, đi theo suốt cuộc đời, và cũng có thể…cho đến hơi thở cuối cùng.

Những vần thơ hay những câu thơ của những thi sĩ nổi danh mà mình đã thuộc nằm lòng, đã ghi nhớ tận đáy sâu của ký ức, và bỗng một lúc nào đó, ở một tình huống nào đó, một nhân duyên nào đó, tự chúng hiện ra một cách tự nhiên trong dòng tư tưởng, sự nghĩ suy, và bộc ra thành lời nói như là của chính mình và đôi lúc, chỉ nhớ đến vần thơ, câu thơ đó mà cũng không hề nhớ đến tác giả là ai nữa ! Các vần thơ, các câu thơ ấy thực sự đã gắn liền với mình, với đời sống mình, đôi lúc còn được xem như là kim chỉ Nam để giúp mình phản ứng, cư xử trước mọi hoàn cảnh, vui hay buồn, tốt hay xấu đang xảy ra.

Không ai không có những câu thơ này đọng lại trong đầu, trong tâm hồn và sẽ được thốt ra đúng lúc đúng thời, tùy hoàn cảnh, tùy nhân duyên.

Riêng tôi, có những vần thơ, những câu thơ và cả những câu ca dao trong kho tàng văn học của quê hương ta hay những câu thi kệ tìm thấy trong kinh điển Phật Giáo mà chỉ một lần đọc qua đã ghi đậm trong trí nhớ và theo suốt cả cuộc đời. Xin chia sẻ cùng bạn đọc trong bài viết này.

Khi ở tiểu học thì dù có học bao nhiêu bài học thuộc lòng nhưng rồi tôi chẳng còn ghi nhớ bài nào cả ! Tuổi thơ của tôi thì chỉ ham đàn, hát và múa ! Và những bài hát của tuổi thơ thì nó cũng trong sáng nhẹ nhàng và bay đi theo với những áng mây xanh, cũng nhẹ nhàng như thế mà thôi. Có lẽ tôi đã trưởng thành nơi cái tuổi mười hai vì ở vào chặng tuổi này tôi đã ham mê đọc sách, kể cả sách báo của người lớn và những lời dạy của người lớn thì một lần nghe qua dường như là không thể quên.

Do học với các Ma Sœur ở trường Jeanne D’Arc, mỗi ngày đều có đọc Thánh Kinh và đã sáu chục năm qua nhưng lúc nào tôi vẫn nhớ câu : « Tu aimeras ton prochain comme toi-même » ( Thương người khác như thương chính mình ) Lời khuyên này thực sự ra rất khó làm ! Nhưng tôi nhận ra ý nghĩa cao quí của nó và thật sự tôn trọng đạo Thiên Chúa. Từ câu kinh này tôi liên tưởng đến lòng Từ Bi trong đạo Phật.

Lại một câu khác đã gây ấn tượng sâu đậm trong tôi : « Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng » Vì học và ở nội trú tại trường, dù là kẻ ngoại đạo, không cùng tôn giáo, không được «  rửa tội  » nhưng tất cả các học trò đều phải tham dự chung các buổi lễ ở trường, và câu kinh kia cũng tự nhiên ghim vào tim, vào óc tôi cho đến tận bây giờ. Mỗi khi làm chuyện gì, hậu quả không tốt xảy đến, tôi đều nhận trách nhiệm của mình mà không đổ lỗi cho ai cả. Từ câu kinh này tôi lại liên tưởng đến luật nhân quả trong đạo Phật. Tự mình gieo nhân, tự mình lãnh chịu hậu quả.

Và cũng đang ở trong môi trường thấm nhuần tư tưởng của Thiên Chúa giáo như thế thì đột nhiên một ngày, nhân đọc ở tờ báo văn học, mà câu nói nổi tiếng của đức Phật Thích Ca đã như một tiếng sấm sét đập vào tai tôi : «  Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành » Nếu nói theo ngôn ngữ nhà Phật thì lúc ấy tôi như được khai ngộ và trí óc, tâm thức của tôi bừng lên một thứ ánh sáng của sự Giác Ngộ. Tôi chỉ vừa tròn mười hai tuổi. Từ đó ánh sáng Phật Pháp đã hướng dẫn tôi cho đến ngày hôm nay.

Sức mạnh của lời nói, của tư tưởng là điều khó lường, khó nghĩ bàn. Do đó mà biết đọc biết viết quả là một điều hết sức quan trọng. Không có cha mẹ nào mà không muốn cho con mình đi học, đi đến trường lớp, học chữ học nghĩa, dù khó khăn, dù tốn kém cách mấy cũng không từ. Riêng gia đình tôi, thì cha tôi, dù là người của khoa học nhưng rất say mê văn chương thơ phú, tủ sách trong nhà khá lớn và có khá nhiều loại sách quí của văn chương Pháp. Các chị tôi thì lúc bấy giờ đã là những thiếu nữ mười tám, hai mươi nên cũng đọc sách báo rất nhiều và tôi, lúc ấy chỉ lên mười, mười hai cũng được đọc « ké » cho tới khi tôi cũng trở thành một thiếu nữ đến tuổi « cập kê ». Tôi còn nhớ nào Phổ Thông, Văn Nghệ Tiền Phong, Phụ Nữ Diễn Đàn…Ngoài ra còn phải nhắc đến tờ báo Lành Mạnh do cha tôi làm chủ nhiệm mà tôi cũng rất say mê vì ngoài những đề tài về y học còn có những trang thơ văn làm cho tờ báo bớt phần khô khan, thêm phần hấp dẫn. Thuở đó, tôi đã là một độc giả tuy nhỏ tuổi, nhưng rất trung thành với tờ báo Lành Mạnh. Không có một số nào khi cha tôi cầm về mà tôi bỏ qua. Cũng từ Lành Mạnh mà tôi được biết đến thơ của các thi sĩ như Quách Tấn, Trụ Vũ và cả đến triết gia Phạm Công Thiện mà cuốn sách đầu tiên tôi cầm trong tay, do chính cha tôi đem về nhà và đã trở thành cuốn sách gối đầu của tôi lúc mới lên mười bốn, mười lăm, đó là cuốn « Ý Thức Mới Trong Văn Nghệ và Triết Học ». Có thể nói những gì đã được đọc từ cuốn sách này cũng đã lay động tâm hồn tôi một cách mãnh liệt như tôi đã từng bắt gặp câu nói của đức Phật Thích Ca !

Khi học xong trung học, cả nhà ngạc nhiên khi tôi ghi tên vào đại học Vạn Hạnh. Mẹ tôi thì thất vọng vô cùng, bà chỉ mong có một đứa con chịu học theo ngành dược để về sau có một cái Pharmacie ! Năm anh chị trước tôi chẳng ai làm theo ý thích của mẹ tôi cả, đến lượt tôi thì bà lại càng thất vọng hơn nữa ! Học Triết, học đạo Phật thì không biết tôi sẽ làm được gì trong đời ?!

Thì ra, tôi tự hiểu, chính câu nói kia của đức Phật đã hướng dẫn tôi và đẩy tôi vào Vạn Hạnh !

Tuy nhận ra con đường là tu hành để thành Phật như câu nói trên xác định, nhưng con đường này rất khó thực hiện và phải trải qua bao khúc quanh, ngả rẽ mà vẫn chưa « lên đường » vẫn còn dậm chân một chỗ, vẫn còn đi lạc lối, vẫn còn mò mẫm trong bóng tối và đôi lúc phải rơi tận hố sâu của khổ đau mới chịu nhớ lại và tìm về con đường.

Và như thế, tôi đã rong chơi ngày tháng dài, khá dài mà quên hẳn con đường thành Phật này để hụp lặn trong dòng đời với bao thăng trầm, bao khó khăn, hạnh phúc thì ít mà đau khổ thì nhiều.

Con đường rong chơi ngày tháng dài mà những câu thơ đi kèm theo cũng như bóng với hình.

Cái tuổi mộng mơ, mười lăm mười sáu trăng tròn, đôi lúc cũng thường vu vơ hay…vớ vẩn như Xuân Diệu :

                                      Hôm nay trời nhẹ lên cao

                                      Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn !

Và khi mới biết yêu thì cứ vang vang trong đầu mấy câu thơ của nhà thơ trữ tình này :

                                      Yêu là chết trong lòng một ít 

                                      Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu

                                      Cho rất nhiều mà chẳng nhận bao nhiêu !

Quả thực sự như thế, tôi không hiểu với người khác thì như thế nào nhưng bản thân tôi, cái cảm giác yêu luôn kèm theo với cái cảm giác khổ đau ! Có lẽ đó là dấu hiệu của sự không may mắn của tôi trong tình trường ?!

Về sau, khi tìm hiểu về đạo Phật, tôi mới hiểu ra lời Phật đã từng dạy : cái cảm giác sung sướng chỉ là cái cảm giác mà ở đó khổ được giảm thiểu, và ngược lại cái cảm giác khổ chỉ là cái cảm giác sung sướng bị mờ nhạt đi. Hạnh phúc hay đau khổ chỉ là cái đầu và cái đuôi của con rắn. Nơi con rắn, có đầu, có đuôi nối nhau, thì nơi hạnh phúc hay đau khổ cũng thế, cả hai đều có mặt, như hai cực âm dương, âm thịnh thì dương suy, dương thịnh thì âm suy, nhưng cả hai đều cùng hiện hữu cùng lúc nơi mọi hiện tượng ở đời. Bám vào hạnh phúc cũng không bền, vì luật vô thường chi phối, đau khổ tuyệt vọng cũng chẳng ích chi, vì cũng theo dòng chảy của vô thường, đau khổ nào cũng sẽ chấm dứt, đọa địa ngục rồi cũng sẽ có ngày ra. Luật vô thường, sự đổi thay nơi vạn vật vừa tích cực lại vừa tiêu cực. Luôn nhận ra hai mặt nơi mọi hiện tượng, mọi hoàn cảnh, không xấu hoàn toàn mà cũng không tốt hoàn toàn để hướng mình đến cái tâm an nhiên tự tại, thoát ra mọi sự chấp trước, đó là cách mà đạo Phật hóa giải mọi mâu thuẫn trong cuộc sống. Chấp vào Thiện cũng sẽ trở thành cực đoan và trở thành Ác. Nhận ra rằng Thiện và Ác song hành trên đời nhưng không cố chấp. Nương theo Trung Đạo để tránh cực đoan với lời nói ôn hoà, ái ngữ, có thể chuyển hóa được lòng người, thay đổi hoàn cảnh.

 

Tiếp tục con đường yêu đương của tuổi trẻ. Câu thơ của Hồ Dzếnh lại nghiễm nhiên đi vào lòng và lại được thích thú đón nhận :

                                      Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé

                                      …

                                      Tình mất vui khi đã vẹn câu thề

                                      Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở !

Quả thật tâm lý con người là phức tạp ! Chỉ muốn tự làm khổ mình và «  trầm mình » trong đau khổ, xem đau khổ là một «  lạc thú » ! Đúng như Lưu Trọng Lư đã thốt :

                                      Để chăn gối nằm im chỗ cũ

                                      Hãy lịm người trong thú đau thương !

Thế rồi đau khổ và cô đơn vẫn luôn là cảm giác được trải nghiệm nhiều hơn cả hạnh phúc, dù muốn dù không.

                                      Ai biết tình ai có đậm đà !

Câu thơ này của Hàn Mặc Tử nói lên nỗi cô đơn ngút ngàn của ông với người con gái xứ Huế cũng bỗng nhiên ghim vào tim mình vào những đêm khuya trăn trở.

Cũng vậy, tự mình lo âu, tự mình khắc khoải để trọn vẹn đồng tình với thi sĩ này :

                                      Người đi một nửa hồn tôi mất

                                      Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ !

Tình yêu « vớ vẩn » của tuổi mới lớn thực ra chẳng có chi là khổ. Cái khổ được thơ mộng hóa và «  bắt chước » thi nhân mà thôi chứ tuy là nhỏ tuổi mà cũng …khôn ra phết ! Chẳng dại, chẳng khờ, chẳng đánh mất mình đâu !

Cho đến khi thực sự nếm qua khổ đau mới thấy thấm thía tận tim gan với hai câu thơ của thi sĩ, triết gia Phạm Công Thiện :

                                      Tôi quì hôn lá mới

                                      Đau khổ trắng linh hồn.

Bắt đầu trưởng thành trong tình yêu, thực sự chạm mặt với cuộc đời, trải nghiệm khổ đau cả hồn lẫn xác mới hiểu được ba chữ « Trắng linh hồn » này !

Và rồi thời gian vùn vụt trôi qua, hạnh phúc cũng qua nhanh mà đau khổ cũng không ở lại nhưng rồi mình vẫn muốn níu kéo lại mọi thứ :

                                      O Temps suspend ton vol !

                             ( Thời gian ơi, đừng cất cánh bay ! )

Lamartine, một nhà thơ lãng mạn Pháp đã thốt lên giùm mình cái sợ hãi của thời gian vùn vụt trôi và sẽ cuốn theo tất cả mọi thứ, hạnh phúc cũng như khổ đau, tuy vậy, thời gian ơi, hãy ngừng trôi !

Bài thơ của Ronsard, thi sĩ Pháp, thế kỷ 16, được học thuở nhỏ, cũng cho mình một nhận thức về sự mong manh của cuộc sống, lớn dần cái cảm giác bất lực trước sức tàn phá của thời gian :

                                      Mignonne, allons voir si la rose

                                      Qui ce matin avait déclose.

                   ( Em ơi, hãy cùng xem đóa hồng, sáng nay vừa hé nụ. )

                                      ….

                                      Las ! Voyez comme en peu d’espace

                                      Mignonne, elle a dessus la place

                                      Las ! Las ! Ses beautés laissé choir

                                      Ô vraiment marâtre nature

                                      Puisqu’ une telle fleur ne dure

                                      Que du matin jusques au soir !

( Than ôi ! trông kìa, này em yêu, chỉ mới khoảnh khắc nào khoe sắc hương, mà nay đã tả tơi, phải chăng quá là ác độc hỡi Mẹ của thiên nhiên, bởi một kiếp hoa chỉ sớm nở để tối tàn !)

                            

Khi chạm mặt với khổ đau thì những câu thơ buồn rười rượi của Verlaine, một thi sĩ Pháp, tiền phong cho phong trào thơ mới, lại vang lên trong tâm trí :

                                      Il pleure dans mon cœur

                                      Comme il pleut dans la ville !

                   ( Tim tôi khóc nức nở, chẳng khác gì ngoài kia phố xá trời đang mưa ! )

Cũng không khác gì với câu thơ của cụ Nguyễn Du trong truyện Kiều :

                                      Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ !

Để rồi mình lại thổn thức với bất cứ một âm thanh nào vang lên, cái gì đuợc nghe thấy đều nhuốm khổ đau của chính mình :

                                      Les longs sanglots

                                      Des violons

                                      De l’automne

                                      Blessent mon cœur

                                      D’une langueur

                                      Monotone

( Những tiếng nấc dài, của những cây vĩ cầm vào mùa Thu, làm tim tôi đau nhói, rã rời, đìu hiu đơn điệu…)

Nhưng may thay, với Victor Hugo, nhà đại văn hào Pháp, thế kỷ 19, từng sáng tác nhiều thể loại, tiểu thuyết, kịch và thơ, mình lại tìm được niềm vui, sức sống với trẻ con, tạm quên đi những nặng nề của tâm tư :

                                      Lorsque l’enfant paraît, le cercle de la famille

                                      Applaudit à grands cris…

                             ( Khi trẻ con vừa xuất hiện, là cả nhà vỗ tay mừng reo...)

                                      …

                             Quand l’enfant vient, la joie arrive et nous éclaire

                                      On rit, on se récrie, on l’appelle…

( Khi trẻ con vừa đến, là niềm vui cũng đến và làm cho ta choáng ngợp. Ta cười, ta lại cất tiếng gọi nhau, ta mời gọi trẻ con …)

 

Nhưng rồi trẻ thơ cũng phải lớn và ta cũng phải già !

Trải qua những bất trắc của cuộc đời, thời niên thiếu đã qua nhanh, trên vai đã gánh nhiều trách nhiệm, có những lúc, những nơi mà tưởng như tuyệt vọng, đau khổ cùng cực thì lại có những câu thơ đem lại hi vọng và niềm lạc quan, giúp sức mạnh để tiến tới, hướng về tương lai :

                                      Sơn cùng thủy tận nghi vô lộ

                                      Liễu ám hoa minh hựu nhất thôn

Bài thơ Đường của thi nhân Lục Du đời Tống, quả đã khơi dậy niềm tin nơi con người. Tưởng đã rơi vào đường cùng, không có lối thoát, không đường ra, không giải pháp thế mà bất ngờ «  một thôn xóm liễu xanh tươi, hoa rực rỡ »  hiện ra trước mắt !

Tương tợ như thế, thiền sư Mãn Giác của Việt Nam ta cũng có câu thơ thật đáng nhớ nằm lòng để giữ mãi niềm tin và lạc quan :

                                      Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận

                                      Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

Ôi ! Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết rồi ! Nhìn kìa : Đêm qua sân trước một cành mai !

Nỗi buồn xuân tàn hoa rụng và nỗi mừng vui, kinh ngạc khi tìm thấy một cành mai còn đâu đó ! Vậy thì cứ nhìn đời cũng như thế, đau khổ, tuyệt vọng làm chi, có thể hạnh phúc đang chờ ở một góc nào đó, rồi sẽ bắt gặp thôi !

Đau khổ trong cuộc sống cũng thường đi kèm với sự bất mãn, phẫn nộ mà nhà Phật gọi là Sân. Khi tức giận, không bằng lòng, nổi nóng, là khi đó có Sân và có cả Hận. Nhưng khi nhớ lời Phật dạy ở nơi Kinh Pháp Cú :

                                      Hận thù diệt hận thù

                                      Đời này không thể có

                                      Từ bi diệt hận thù

                                      Là định luật thiên thu.

Thì bỗng nhiên lúc đó, lửa sân hận tự nhiên được dập tắt, không còn la hét, mắng chửi, thóa mạ hay đánh đập, hành hung gì được cả !

Cũng vậy, ngăn chận được tâm nóng giận, hành động sai trái nhờ nghe đi nghe lại, lập đi lập lại trong đầu :

                                      Chớ làm các điều ác

                                      Hãy làm các hạnh lành

                                      Giữ tâm ý trong sạch

                                      Đấy chính lời Phật dạy.

Bình thường, ai làm điều xấu ác với mình, thì mình đau khổ, khó lòng nguôi ngoai, nhưng cứ tâm niệm và đọc tụng lời Phật dạy thì tự nhiên đau khổ cũng tự hóa giải :

                                      Nó mắng tôi, đánh tôi

                                      Nó hại tôi, cướp tôi

                                      Ai ôm ấp niệm ấy

                                      Hận thù không thể nguôi.

 

                                      Nó mắng tôi, đánh tôi

                                      Nó hại tôi, cướp tôi

                                      Không ôm ấp niệm ấy

                                      Hận thù sẽ tự nguôi.

 

Nhờ khổ đau, nhờ gặp bất trắc trong đường đời, tự dưng những năm tháng rong ruổi chốn bụi trần lại đưa tôi về gần với con đường đã được khai ngộ vào cái tuổi mười hai « Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành »

Phật ở đây nên được hiểu là con người tỉnh thức, thấy được sự thật của mọi hiện tượng ở đời đều theo một định luật vô thường, thay đổi biến hoại triền miên, có nhân có quả, có nhân có duyên, có sanh có diệt, nếu bám vào những gì mà bản thân mình không thể làm chủ thì chỉ hoài công vô ích và chỉ gây thêm khổ đau. Sống buông xả mọi tham muốn, đứng trước vô thường vẫn thản nhiên, có sanh thì có tử, có trẻ đẹp thì có già nua, bệnh tật, đứng trước nghiệp quả phải hứng chịu, chẳng qua do chính mình đã tạo nhân, thì bình tỉnh chấp nhận không đổ thừa, không than van, và sáng suốt không tạo thêm nhân xấu làm duyên cho quả xấu nữa.

Phật không phải là đấng tạo hóa hay toàn năng gì cả. Phật chính là người đã làm chủ được những gì xem như không thể làm chủ được. Sự sống sẽ vụt khỏi vòng tay nắm giữ, níu kéo của con người. Hạnh phúc hay khổ đau cũng như tiền tài hay danh vọng, tài sản dù vật chất hay tinh thần cũng không một ai có thể giữ chặt mãi để mọi sự tồn tại vĩnh cữu trên đời. Phật là thấy rõ điều này nên chấm dứt tham muốn. Dừng lại. Không đeo đuổi, chạy theo bất cứ gì. Ngoài sự kiểm soát tâm mình. Thanh tịnh hóa tâm mình. Làm chủ tâm mình. Vượt ra ngoài sự kiềm tỏa của ảo ảnh, của cái Tôi bất diệt, gây ra vô lượng trở ngại, khổ đau. Phật là người tự mình cởi bỏ, giải thoát khỏi cái Tôi nhỏ bé này. Chỉ là giản dị như thế.

Nhưng con đường đi đến thành Phật không giản dị mà cam go !

Từ những vần thơ thuở niên thiếu cho đến những bài thi kệ của Phật, con đường thật dài, quanh co và khúc khuỷu !

 

                                                                   Lê Khắc Thanh Hoài

                                                                   Paris, mồng 8 tháng sáu, 2017

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22/01/201807:04(Xem: 2592)
Tôi nghe Đức Đạt Lai Lạt Ma giảng lần đầu tiên vào năm 1972. Chỉ ba ngày sau khi tôi đến Dharamsala ở miền bắc Ấn, ngài đã bắt đầu khóa thuyết giảng 16 ngày, bốn đến sáu tiếng mỗi ngày về những giai đoạn của con đường Giác Ngộ. Tôi đã bắt đầu học Tạng ngữ và thực tập Phật giáo Tây Tạng vào năm 1962, và những vị thầy của tôi, đặc biệt chỉ bảo về những sự phức tạp của các luận điển Tây Tạng, đã chuẩn bị cho tôi việc học hỏi với những học giả du già Tây Tạng tị nạn ở Ấn Độ. Nhưng thật tình mà nói, tôi không nghĩ rằng một vị tái sanh được chỉ định nắm quyền sinh ra ở đông bắc Tây Tạng năm 1935 và được nhìn nhận qua những sự tiên đoán, các giấc mộng, những biến cố cực kỳ phi thường, và các thử nghiệm như Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 vào lúc 2 tuổi – có thể đảm đương nhiệm vụ quan trọng như vậy.
22/01/201806:17(Xem: 2792)
Chúng ta biết rằng nhà khoa học Albert Einstein có những quan điểm rất gần với nhà Phật. Nhưng rồi cũng sẽ bất ngờ, khi thấy có lúc Einstein nói y hệt, gần như 100% y hệt như giáo lý nhà Phật. Đặc biệt là khi Einstein viết thư chia buồn một người bạn thân năm 1950... Thí dụ, các pháp là Không. Thí dụ, vạn pháp là thức. Einstein đều nói lên cả hai quan điểm này. Trong Kinh Tiểu Không MN 121, và Kinh Đại Không MN 122, Đức Phật hướng dẫn cách chú tâm từ một nội dung có nhiều dẫn tới nội dung có ít, và từ có ít sẽ bước vào Không để an trú.
08/01/201819:26(Xem: 2609)
Phật Giáo là Khoa Học Tâm Linh (Jason Gots, chuyển Việt ngữ: Thích Nữ Đức Trí & Thích Nữ Giới Hương) “Đạo Phật nhấn mạnh sư tu tập giúp chúng ta loại bỏ những tà kiến, chứ không phải là nơi tập hợp các hí luận”. (Thích Nhất Hạnh, Trái Tim Của Bụt) Ý Tưởng lớn là gì? Tôi đã có thể dự đoán những lời phê bình. Khoa học thì nói về kinh nghiệm được thực chứng khách quan. Trong khi đó, Thiền Phật giáo, là nói về bạn, sự trải nghiệm chủ quan của riêng bạn trong tâm trí của chính bạn. Tất cả những điều đó có thể gọi là “chứng nghiệm” cho những tác động tích cực của trạng thái thiền, về khả năng vô tận của tâm thức con người như an lạc, từ bi và định tĩnh, vv…
05/01/201804:28(Xem: 3559)
Sau bài giới thiệu “Đọc Trúc Lâm Thiền Phái tại Huế của Thích Tín Nghĩa” phổ biến tới bạn đọc ngày 7/12/2017, Hòa Thượng Thích Tín Nghĩa lại gửi biếu tôi thêm hai cuốn sách : - Trúc Lâm Thiền Phái Thi Tập tái bản lần thứ nhất 2013. - Đạt Ma và Huyền Trang tái bản lần thứ ba 1998.
21/12/201720:01(Xem: 2258)
Hôm nay là ngày 9/10/Đinh Dậu, tức ngày 26/11/2017, tại chùa Quang Sơn, xã An Hiệp, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên, thay mặt chư Tôn Đức Tăng hiện tiền, cũng như chư Tôn Đức Tăng Ni Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Âu Châu, các Phật tử của Âu Châu hảo tâm, các nhà mạnh thường quân tại Âu Châu, phái đoàn chúng tôi xin gửi lời thăm hỏi chân tình nhất đến bà con hiện diện hôm nay.
18/12/201706:53(Xem: 2963)
Thuyết Nhân Duyên_Tuệ Thiền Nguyễn Tối Thiện-2017, Để diễn tả sự liên hệ giữa hai sự vật trong vũ trụ, triết học Trung hoa đưa ra nguyên lý Ngũ Hành bao gồm 5 yếu tố tượng trưng cho năm cơ quan tạng phủ hay năm năng lực khí hóa : Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy. Nguyên lý Ngũ Hành có thể được phát biểu như sau : « phàm cái gì hiện hữu đều có cái sinh ra nó, cái khắc nó, cái nó sinh ra và cái nó khắc, tạo thành một toàn thể 5 yếu tố liên hệ chặc chẻ. » Nguyên lý này áp dụng cho các phần tử (éléments) vật chất hoặc các năng lực khí hóa nhưng nó bị giới hạn trong một đơn vị thời gian nào đó tùy theo sự vận hành của yếu tố vật chất nầy.
15/12/201720:49(Xem: 41068)
Trải hơn 25 thế kỷ, Chánh Pháp của Phật vẫn được tuyên dương và lưu truyền bởi hàng đệ tử xuất gia lẫn tại gia, đem lại giải thoát và giác ngộ cho những ai học hỏi và thực hành đúng đắn. Chánh Pháp ấy là thuốc hay, nhưng bệnh mà không uống thì chẳng phải là lỗi của thuốc. Trong kinh Di Giáo, đức Phật cũng ân cần huấn thị lần chót bằng những lời cảm động như sau: “Thể hiện lòng đại bi, Như Lai đã nói Chánh Pháp ích lợi một cách cứu cánh. Các thầy chỉ còn nỗ lực mà thực hành… Hãy tự cố gắng một cách thường trực, tinh tiến mà tu tập, đừng để đời mình trôi qua một cách vô ích, và sau này sẽ phải lo sợ hối hận.” Báo Chánh Pháp có mặt để góp phần giới thiệu đạo Phật đến với mọi người. Ước mong giáo pháp của Phật sẽ được lưu chuyển qua những trang báo nhỏ này, mỗi người sẽ tùy theo căn tánh và nhân duyên mà tiếp nhận hương vị.
15/12/201716:25(Xem: 52705)
Văn Hóa Phật Giáo, số 242, ngày 01-02-2016 (Xuân Bính Thân) Văn Hóa Phật Giáo, số 244, ngày 01-03-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 245, ngày 15-03-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 246, ngày 01-04-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 247, ngày 15-04-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 248, ngày 01-05-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 249, ngày 15-05-2016 (Phật Đản PL 2560) Văn Hóa Phật Giáo, số 250, ngày 01-06-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 251, ngày 15-06-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 252, ngày 01-07-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 253, ngày 15-07-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 254, ngày 01-08-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 255, ngày 15-08-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 256, ngày 01-09-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 257, ngày 15-09-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 258, ngày 01-10-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 259, ngày 15-10-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 260, ngày 01-11-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 261, ngày 15-11-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 262, ngày 01-12-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 263, ngày 15-12-2016
08/12/201713:37(Xem: 4135)
Những pháp thoại trong tác phẩm này là những lời dạy tiêu biểu truyền cảm hứng phi thường mà Lama Yeshe và Lama Zopa Rinpoche đã thuyết giảng tại nhiểu thời điểm. Các pháp thoại này là những gì truyền cảm hứng cho nhiều học trò của họ, như tôi, để buông xả những gì chúng ta đang làm và hiến dâng trọn đời mình đi theo các vị Lama[1]. Khi Rinpoche nói “mỗi người chúng ta cần nghỉ như vậy: tất cả chúng sanh đều vô cùng tử tế với tôi trong quá khứ, họ tử tế với tôi trong hiện tại, và họ sẽ tiếp tục tử tế với tôi trong tương lai. Họ là cánh đồng mà trong đó tôi nhận được tất cả hạnh phúc của mình—quá khứ, hiện tại và tương lai; tất cả các tài đức hoàn hảo của tôi đều xuất phát từ những chúng sanh khác. Do vậy, tôi phải chứng đạt giác ngộ. Chỉ tìm kiếm hạnh phúc miên viễn cho riêng tôi, không mang lại hạnh phúc cho những chúng sanh khác, từ bỏ những chúng sanh khác,không quan tâm đến hạnh phúc của họ, là rất ích kỉ. Do đó, tôi phải chứng đạt giác ngộ, hạnh phúc cao cả nhất, để
01/11/201706:29(Xem: 2272)
Long Thọ hay Long Thụ (Nāgārjuna) không phải chỉ là tổ của tông Trung Quán (Madhyamika),[1] trong lịch sử phát triển Phật giáo ngài được coi là vị Phật thứ hai sau Đức Thế Tôn[2] nên trong các hình tượng bồ tát chỉ có tượng của ngài duy nhất được tạc vẽ với nhục kế (uṣṇīṣa), vốn tượng trưng cho trí tuệ viên mãn như hình tượng Đức Phật chúng ta thường thấy. Truyền thống Phật giáo xuy tôn ngài là người thành lập Phật giáo Đại thừa không phải vì theo truyền thuyết nói rằng ngài đã mang kinh điển Đại thừa từ Long Cung về phổ biến mà vì ảnh hưởng thật sự tư tưởng của ngài trong các tông môn. Cho đến ngày nay, tám tông môn Phật giáo lớn từ Thiền đến Mật của Trung Hoa Triều Tiên Nhật Bản Tây Tạng Mông Cổ nhận ngài là tổ đều truyền bá đến Việt Nam từ lâu. Ở nhiều nước như Tây Tạng, Nepan, Mông Cổ chùa viện tư gia còn đắp tượng vẽ hình thờ phượng ngài như Đức Phật. Ngay tại Ấn Độ, đất nước đã tiêu diệt Phật giáo, người ta vẫn còn tiếp tục hãnh diện phổ biến các nghiên cứu về ngài và tôn kính ng