26-Thế nào là Phật pháp?

28/01/201109:41(Xem: 12555)
26-Thế nào là Phật pháp?

BƯỚCÐẦU HỌC PHẬT

HòathượngThích Thanh Từ
PhậtLịch 2541-1998

Thếnào là Phật pháp?

Phậtpháp là những điều đức Phật chứng kiến được sau khigiác ngộ, đem chỗ chứng kiến ấy nói lại để cho mọingười hiểu biết để dứt sạch mê lầm và giác ngộ nhưNgài. Chính từ chỗ chứng kiến của Ngài nói ra, không phảido suy tư phỏng đoán như nhiều triết thuyết khác. Vì thế,Phật pháp là những chân lý, tùy trình độ của người, Phậtnói có sai biệt: Chân lý phổ biến, Chân lý tương đối,Chân lý tuyệt đối.

Chânlýphổ biến Chân lý phổ biến là những sự thật hiệnhữu tràn đầy trên vạn vật. Những sự thật ấy đức Phậtchỉ ra, chúng ta chịu khó khảo sát một cách tinh tế sẽthấy hiển nhiên không sai lệch. Trước hết nhìn theo dòngthời gian, Phật nói:

I.Nhân quả:

Tấtcả sự vật có hình tướng, có tác động đều hình thànhbằng nhân quả. Nhân quả trùm khắp cả mọi sự vật, khôngmột sự vật nào có thể thoát ngoài nhân quả được. Songtrong nhân đến quả có chánh nhân, trợ nhân, thuận nhân,nghịch nhân nên trở thành vấn đề phức tạp. Lại có nhữngtrường hợp vì nhân quá nhỏ nhiệm, nhân xa xôi khiến ngườita không thể thấy, không thể nhớ mà biến thành khó hiểu.Chúng ta thử nhìn từ lãnh vực thực vật, động vật... đểminh chứng lý nhân quả.

1.Về thực vật. Không một thứ cây loại cỏ nào mà chẳngtừ nhân thành quả. Hoặc có thứ nhân của nó là hạt, cóthứ nhân nó là lá, có thứ nhân nó là ngọn, có thứ nhânnó là rễ, là thân. Từ cái nhân ấy nẩy mầm sanh trưởngthành cây, đơm hoa, kết quả. Không có loài thực vật nàongẫu nhiên không nhân thành quả.

Vídụ, hạt cam là nhân, lên thành cây cam có trái cam là quả.Hạt ớt là nhân, lên thành cây ớt có trái ớt là quả...Có nhân ắt phải có quả. Song trong ấy còn tùy thuộc thuậnnhân hay nghịch nhân, mà thành quả hay bất thành quả. Nhưcó hạt cam là chánh nhân, có phân, đất, nước, ánh nắng...là trợ nhân, được săn sóc vun quén là thuận nhân, hạtcam ấy sẽ nẩy mầm sanh trưởng thành cây cam và có tráicam không sai. Ngược lại, có hạt cam mà thiếu phân đấtnước ánh nắng... thì không thể nẩy mầm sanh cây cam, huốnglà có trái cam. Hoặc có hạt cam, có phân đất nước ánhnắng... mà thiếu người săn sóc vun quén thì có thể có câycam mà khó mong có quả cam. Hoặc có hạt cam, có phân đấtnước ánh nắng... có người vun quén, song bị sâu trùng ăngốc, đục trong thân cây - nghịch nhân - thì cây cam ấy sẽbị hoại. Hoặc có trường hợp dường như không nhân màthành quả. Như chúng ta dọn sạch một thửa đất để trồngtrọt. Thửa đất ấy, chúng ta cuốc không còn một gốc cỏ,lượm sạch không sót một cọng cỏ, ta tự cho là đất thậtsạch. Thế mà, qua một vài trận mưa, chúng ta thấy từ lòngđất cỏ vọt lên lấm tấm đều hết. Cỏ này từ đâu đến?Phải chăng đất sanh cỏ? Thật không phải thế, bởi nhữnghạt cỏ li ti đã nằm sẵn trong lòng đất mà mắt chúng takhông thể thấy. Gặp mưa, chúng nẩy mầm lên cây là lý đươngnhiên. Ðây là vì nhân nhỏ nhiệm chúng ta không thấy, nêncó những nhận xét sai lầm.

Lạicó trường hợp khác, một hôm tăng chúng trong chùa chúng tôira thăm vườn, bẻ được hai trái mãng cầu xiêm, từ hai câymãng cầu cách nhau độ bốn thước tây. Khi xẻ ra ăn, cảchúng đều ngạc nhiên, trố mắt nhìn nhau, đặt câu hỏi:Tại sao cùng một loại, chung một thửa đất, mà trái nàyngọt, trái kia chua? Mỗi người đều có giả thuyết khácnhau, riêng tôi chỉ cười thôi. Cuối cùng, tôi giải thíchcho họ nghe: Sở dĩ hai cây cùng một loại, chung một thửađất mà mùi vị khác nhau, do trước kia tôi lấy hạt củahai trái mãng cầu chua và ngọt ương trồng, nên kết quảnhư thế. Ðó là vì nhân xa xôi khiến người ta không thểbiết, nên sanh nghi ngờ. Bởi những lý do trên, nhân quả trởthành tế nhị phức tạp, nếu người nhận xét nông nổiđơn thuần thì khó thấu triệt được.

2.Về động vật. Tất cả loài động vật hình thành cũng từnhân đến quả. Có loài động vật nhân là trứng, có loàiđộng vật nhân từ bào thai, có loài động vật nhân từloài khác hóa ra. Không có loài động vật nào tự nhiên màcó, song có cũng tùy thuộc chánh nhân, trợ nhân, thuận nhân,nghịch nhân, sự sanh trưởng của nó được hoàn hảo haysuy kém, hoặc hoại diệt chẳng hạn.

Ðâylà nói nhân quả trên vạn vật có hình tướng. Chúng ta cóthể khẳng định rằng "tất cả loài sanh vật trên quả địacầu và cả quả địa cầu này đều nằm gọn trong lòng nhânquả".

3.Về tác động. Chẳng những nhân quả trùm khắp mọi loàimọi vật có hình tướng, mà nhân quả cũng bao gồm mọi tạotác mọi hành động của mọi loài. Ở đây chúng ta chú mụcvào loài người để thấy rõ nhân quả.

Nhữngtác động về thân miệng của chúng ta có tánh cách lợi người,đem lại nguồn an vui cho người, là tác động lành. Nó sẽmang lại cho ta sự an vui ngay hiện tại, hoặc sau này, gọilà quả lành. Những tác động có tánh cách thương tổn khiếnngười đau khổ, gọi là nhân dữ. Nó sẽ chuốc lấy sựđau khổ trở về ta ngay hiện tại, hoặc mai kia, gọi là quảdữ.

Vídụ, chúng ta ra tay cứu giúp người hoạn nạn nguy khốn, quacơn hoạn nạn họ vui vẻ cám ơn ta. Chính khi thấy họ anổn, lòng chúng ta cũng vui lâng lâng. Mặc dù chúng ta khôngmong gì hơn nữa, song người thọ ơn bao giờ cũng nghĩ đếnđền đáp, nếu gặp cơ hội tốt, họ sẽ đền ơn ta. Ngượclại, chúng ta làm thương tổn khiến người đau khổ, họsẽ bực tức oán hờn phản kháng ta. Chính khi ấy lòng chúngta cũng bị bất an. Nếu mai kia họ gặp dịp thuận tiện sẽtrả thù, khiến chúng ta bị khổ đau hơn, họ mới vừa lòng.Ðó là nhân lành gặt quả lành, nhân dữ chịu quả dữ.

Nhưngcũng có những trường hợp dường như ngoại lệ, mà thậtkhông phải. Như chúng ta đã gieo nhân lành hoặc dữ, mà suốtđời không gặt được kết quả; vì nhân chưa chín muồimà báo thân chúng ta đã hoại, nhân ấy sẽ còn tiếp tụctheo thời gian chớ không mất. Hoặc có khi chúng ta không gâynhân lại chịu quả. Vì nhân xa xôi còn lưu lại, chúng takhông nhớ.

Tácđộng của ý còn thầm lặng bên trong chưa phát lộ ra, songnó rất nguy hiểm. Vì thân miệng đều do nó chủ động saikhiến. Nó dấy nhân lành thì thân miệng theo đó tạo nhânlành, nó dấy nhân dữ thì thân miệng theo đó tạo nhân dữ.Cho nên, người hiểu lẽ nhân quả đối với tác đ?ng củaý, phải dè dặt tối đa. Tác động của ý có nhân quả cũngy hệt thân miệng.

Tuynhiên, nhân quả, không phải đơn giản như nhiều người đãhiểu "gây nhân lành được quả lành, tạo nhân dữ bị quảdữ". Vẫn có những trường hợp dường như trái lại. Bởivì nhân quả là một dòng biến động theo thời gian. Thờigian có quá khứ, hiện tại, vị lai thì nhân quả không thểchặn một quãng mà đoán định được. Chúng ta muốn hiểuthấu đáo nhân quả phải căn cứ vào ba thời mà khảo sát.Nắm chắc lý nhân quả, chúng ta sẽ có sức tự tín mãnhliệt, vì không còn lệ thuộc vào sức thiêng liêng bên ngoài.Chúng ta tự nhận là chủ nhân ông toàn cả cuộc đời củamình.

Nhânquả là dòng biến động sanh diệt tiếp nối, nên nó là hiệnthân của Vô thường. Vì vô thường nên mãi lăn lộn trongvòng sanh diệt, cũng là thành quả của luân hồi. Chủ thuyếtnhân quả không phải cố định cứng khằng, mà linh độngthăng giáng, tùy theo sự đủ thiếu các nhân của nó. Ngườihọc Phật nhận chắc lý nhân quả, là đã có căn bản vữngvàng trên đường tiến tu. Ðồng thời cũng gạt phắt nhữngthuyết mê tín vu vơ như: đồng bóng, bói xăm, tướng số,may rủi... Vì biết rõ mọi tác động đẹp xấu của chúngta, sẽ cải tạo xây dựng một cuộc đời vui khổ trong hiệntại và vị lai. Còn băn khoăn trông đợi, thắc mắc điềugì mà phải đi coi bói tướng số? Thế là, chúng ta can đảmnhận chịu mọi trách nhiệm hay dở do mình gây nên, khôngcòn oán hờn kêu than chi cả. Cũng phá tan những bệnh chấp:định mạng, nhất nhân, vô nhân. Vì biết rõ vạn vật trênthế gian không có cái gì cố định, duy nhất, ngẫu nhiên,mà đều do nhân quả hình thành.

II.Duyên sanh:

Nhìnvề mặt không gian, vạn vật đều do các duyên chung hợp thànhhình. Cho nên nói "các pháp từ duyên sanh". Duyên là chỉ chonhiều phần tử tổ hợp thành một vật thể. Vật thể khôngtự có, phải do nhiều nguyên tố hay nhiều phần tử chunghợp. Nói tới duyên sanh là không chấp nhận sự đơn thuần,mà khẳng định là hợp thể. Vạn vật có hình tướng trênquả địa cầu và kể luôn quả địa cầu đều do các duyênchung hợp thành hình. Cho đến những thứ không có hình tướng,chỉ có tác động, cũng thuộc duyên sanh.

Trướckhảo sát những vật có hình tướng gần chúng ta nhất. Nhưcái bàn viết hiện đây của ta, trước nó không tự có, phảicó gỗ, có đinh, có bào, có đục, có cưa... và có ông thợmộc, do sự cưa xẻ bào đục kết ráp của ông, sau mới thànhcái bàn. Những nguyên liệu dụng cụ và ông thợ mộc, đềulà duyên chung hợp thành cái bàn. Nếu có người hỏi: cáibàn này do vật gì làm ra, chúng ta đáp: do ông thợ mộc, hoặcdo gỗ... Ðó là lối đáp đơn thuần, không đúng toàn thểcủa cái bàn. Nếu chấp lối đáp ấy đúng, thì mắc phảibệnh thiên kiến.

Ðếnnhư cái nhà chúng ta hiện ở hoặc nhà lá hay nhà gạch, trướcnó cũng không tự có. Nếu là nhà lá, phải có cột kèo đòntay cây lá rồi, sau chúng ta mới ráp lại thành cái nhà. Nếulà nhà gạch, phải có gạch xi măng cát vôi ngói gỗ và thợhồ, mới xây thành cái nhà. Khi thành hình cái nhà, gọi làduyên hợp; khi cái nhà hư hoại đi, gọi là duyên tan. Chỉdo duyên hợp duyên tan, thật thể cái nhà vốn không thậtcó.

Khảosát như thế qua mọi sự vật, chúng ta không thấy có mộtsự vật nào không phải duyên hợp mà thành. Dù vật nhỏbé như cây kim ngọn cỏ, vật to lớn như núi biển quả địacầu, đều nằm chung trong một thông lệ ấy.

Chođến những thứ không có hình tướng, chỉ thấy tác động,cũng do duyên hợp mà có. Như điện, gió, chúng ta không thấyhình tướng nó, chỉ biết khi tác động dấy khởi. Về điệnthì có điện âm điện dương, phối hợp mới phát khởi hiệntượng. Về gió phải có khí nặng khí nhẹ... mới có hoạtđộng.

Nơicon người, tư tưởng dấy khởi cũng phải có sáu cơ quanlàm chỗ tựa và đối diện với trần cảnh bên ngoài. Nếuba phần - tư tưởng, cơ quan, trần cảnh mà thiếu một thì,không sao dấy khởi được. Thế nên mọi tác động có ra,đều do duyên hợp mà có.

Nóiduyên sanh là nhằm vào hợp thể, choán một khoảng không gian.Ðã là hợp thể thì không có tự thể và thật thể. Tựthể đã không thì, tên đặt cho sự vật cũng rỗng. Ví nhưtên "cái nhà", chúng ta phân tích từng viên gạch, từng miếngngói v.v... ra, tìm xem cái gì là "cái nhà"? Chỉ khi hợp thểthành hình, tạm đặt cho nó một cái tên. Cái tên ấy chỉcó giá trị tạm thời, từ khi hợp thể thành hình, bởi trướcvà sau nó vốn không có. Chính ngay khi thành hình, chúng ta phântích từng đơn vị một, tìm tự thể cái tên chung ấy, vẫnkhông có. Nên nói: "các pháp duyên sanh tự thể là không".Trước không, sau không, giữa cũng chẳng thật, nên sự cómặt của các hợp thể là hư giả huyễn hoá. Do đó, nóiđến lý duyên sanh thì, xem vạn vật đều như huyễn như hoá.

Thôngsuốt lý duyên sanh, chúng ta thoát khỏi hai chứng bệnh: thiênkiến và mê lầm. Nhất là bệnh mê lầm, quả là bệnh trầmkha khó chữa trị. Vạn vật do hợp thể mà có, hư giả khôngthật, lại mê lầm chấp là thật. Vì chấp thật nên theođó có yêu ghét và sanh tham sân. Ðó là nguyên nhân mãi lăntrong vòng luân hồi sanh diệt. Biết rõ duyên sanh hợp thểhư giả là, dứt mê lầm chuyển thành trí tuệ. Ðây là cửangõ của lâu đài giác ngộ.

Trongphần "Chân lý phổ biến", lý nhân quả và duyên sanh là haisự thật, tràn đầy trên vạn vật và mọi tác động củachúng sanh. Sự thật ấy, quá khứ hiện tại vị lai đềukhông thay đổi. Song nó tinh vi khó hiểu, người chịu khónghiền ngẫm phân tích kỹ càng mới nhận ra được. Hai sựthật này nhằm vào hai chiều của vũ trụ, nhân quả chạysuốt chiều dọc thời gian, nhân duyên xuyên tột chiều ngangkhông gian. Do đó, gọi là "Chân lý phổ biến".

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18/03/2014(Xem: 24705)
Phật dạy bậc đại nhân có tám điều giác ngộ. Điều thứ nhất, giác ngộ cuộc đời là vô thường, vũ trụ mênh mông tạm bợ. Gốc của bốn đại vốn không thật, trống rỗng nhưng nếu chúng ta không biết, chấp nó là thật thì sẽ dẫn đến đau khổ. Tập hợp năm ấm là vô ngã, sinh diệt thay đổi không ngừng, không thật và không có chủ thể. Tâm này là cội nguồn phát sinh điều ác, thân này là nơi tích tụ tội lỗi. Người hay quán chiếu được như thế dần dần sẽ thoát khỏi sanh tử.
10/12/2013(Xem: 28000)
Pháp Tướng Tông (Duy Thức Tam Thập Tụng) của Bồ Tát Thế Thân, Vu Lăng Ba giảng, cư sĩ Lê Hồng Sơn dịch
03/12/2013(Xem: 83262)
Người ta thường nói :"Ăn cơm có canh, tu hành có bạn". Đối với tôi, câu nói này thật là quá đúng. Ngày nhỏ chưa biết gì nhưng từ khi làm Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử tôi đã thấy ích lợi của một Tăng thân. Chúng tôi thường tập trung thành từng nhóm 5,7 người để cùng nhau tu học. Giai đoạn khó khăn nhất là sau 75 ở quê nhà. Vào khoảng 1985, 86 các anh lớn của chúng tôi muốn đưa ra một chương trình tu học cho các Huynh Trưởng trong Ban Hướng Dẫn Tỉnh và những Htr có cấp nên đã tạo ra một lớp học Phật pháp cho các Htr ở Sàigòn và các tỉnh miền Nam. Nói là "lớp học" nhưng các Chúng tự học với nhau, có gì không hiểu thì hỏi quý Thầy, các Anh và kinh sách cũng tự đi tìm lấy mà học. Theo qui định của các Anh, Sàigòn có 1 Chúng và mỗi tỉnh có 1 Chúng. Chúng tu học của chúng tôi (Sàigòn) có tên là Chúng Cổ Pháp và phải thanh toán xong các bộ kinh sau đây trong thời gian tối đa là 3 năm:
29/11/2013(Xem: 33789)
Chúng tôi chọn viết đề tài dừng tâm sanh diệt là nhân có một Phật tử than: Trong đời tu hành của con có một chướng ngại mà con không vượt qua được, đó là những niệm tưởng lăng xăng. Nó quấy rầy luôn, cả những lúc nghỉ ngơi cũng không yên.
25/11/2013(Xem: 25617)
Nhìn vào tín ngưỡng Phật giáo nhiều người thường thắc mắc tại sao lại có nhiều "thứ" đến thế! Thật vậy Phật giáo có rất nhiều học phái, tông phái, chi phái..., một số đã mai một, thế nhưng một số vẫn còn đang phát triển và đồng thời cũng có nhiều chuyển hướng mới đang được hình thành. Đối với một người tu tập Phật giáo thì sự kiện ấy thật hết sức tự nhiên: tất cả mọi hiện tượng trong thế giới đều chuyển động, sinh sôi nẩy nở và biến đổi không ngừng. Nếu nhìn vào các tín ngưỡng khác thì ta cũng sẽ thấy cùng một hiện tượng như thế.
30/10/2013(Xem: 53411)
Phật (Buddha) là một từ ngữ để chỉ người giác ngộ viên mãn. Ðức Thích Ca Mâu Ni (Sàkyãmuni) là người đã giác ngộ, nên chúng ta gọi Ngài là Phật. Giác ngộ là thấy biết mọi chân lý về vũ trụ và nhân sinh. Từ chỗ giác ngộ này, đức Phật chỉ dạy các môn đồ còn ghi chép lại thành Tạng kinh. Trong tạng kinh chứa đầy dẫy những chân lý, dù trải qua hơn 25 thế kỷ vẫn còn giá trị nguyên vẹn, không do thời gian làm suy giảm. Ngày nay chúng ta nghiên cứu Tạng kinh thật chín chắn, càng phát hiện những chân lý ấy gần gũi và thích hợp với khoa học một cách không ngờ. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ giới thiệu tổng quát vài nét cương yếu để đọc giả suy ngẫm.
17/10/2013(Xem: 57330)
Tôi đọc kinh sách, nghe giảng và học hỏi, đồng thời rút kinh nghiệm trong những năm qua cùng các pháp hữu nghiên cứu và hoằng truyền chánh pháp, đặc biệt với đạo hữu Nguyên Phước. Thấy cần, rút ra một số nét cơ bản để chia xẻ cùng quý Phật tử thật dễ đọc, dễ hiểu, dễ thực hành trong niềm tin Phật pháp.
08/05/2013(Xem: 6840)
Giáo lý nghiệp của Phật giáo có thể sử dụng để biện giải về sự sinh tử luân hồi, đa dạng của chúng sanh trong ba cõi, sáu đường. Các khái niệm về nghiệp được hình thành rất sớm, ngay trước khi bộ tộc Aryan xâm chiếm Ấn Ðộ.
13/04/2013(Xem: 5071)
Thời đức Phật Thích Ca tại thế (563-483 trước dương lịch) thì Phật pháp được giảng giải và trao truyền bằng lời nói, chứ chưa được ghi lại dưới dạng văn tự. Trong lần kết tập thứ ba, theo lệnh của vua A Dục (Aśoka : 268-233 tr. dl), tức khoảng 218 năm sau khi Đức Phật Niết Bàn, Kinh Phật mới được ghi lại thành văn bản trên những miếng đồng để lưu trữ. Vào thời kỳ nầy thì tiếng Phạn đã được học giả Pānini chuẩn hóa thành tiếng Phạn mà các học giả Tây phương gọi là tiếng Phạn Cổ điển (Classical Sanskrit) để phân biệt với tiếng Phạn thời trước đó trong kinh Vệ Đà, gọi là Phạn Vệ Đà (Vedic Sanskrit).