04-Ði lễ chùa

28/01/201109:41(Xem: 11305)
04-Ði lễ chùa

BƯỚCÐẦU HỌC PHẬT
HòathượngThích Thanh Từ
PhậtLịch 2541-1998

Đi lễchùa

I.-MỞÐỀ

Ngườixưanói "làm việc có nghĩa do tâm tỉnh ngộ, làm việc vônghĩa do tâm mê mờ". Chúng ta thao thức ước mơ có thì giờrảnh đi chùa để được nghe những lời chỉ dạy đạo lýcủa Tăng, Ni. Quả là do tâm tỉnh ngộ làm động cơ thúcđẩy chúng ta. Nếu chúng ta mong có lúc rảnh để đến hítrường, lại tửu điếm, chính do tâm mê mờ làm động cơthúc đẩy chúng ta. Chọn lấy một hành động có nghĩa làđể làm theo, đích thực là người trí. Chạy theo những hànhđộng vô nghĩa hư hèn, quả là kẻ ngu. Ðã có mặt trên cõiđời, chúng ta phải chọn lấy một lối đi để đưa đờimình đến chỗ rạng ngời tươi đẹp. Vô lý, chúng ta mãiđua đòi theo sự ăn mặc vui đùa, đến một ngày kia thânnày sắp hoại, tự ta nghĩ sao về thân phận mình? Vì thế,sự đi chùa lễ Phật là một việc làm do động cơ tỉnhngộ thúc đẩy, với một tinh thần cố gắng vươn lên, gầydựng cho mình một ngày mai sáng đẹp.

II.-ÐI CHÙA

Mụcđích đi chùa không phải là để cúng lạy, mà vì học hỏichánh pháp, tập tu đức hạnh. Người Phật tử mới đếnvới đạo chưa thấm nhuần Phật pháp, nếu không được sựchỉ dạy của Tăng Ni thì làm sao hiểu đạo tu hành. Muốnhiểu đạo lý, Phật tử tới lui Tự viện để thưa hỏihọc tập là sự đương nhiên không thể thiếu. Vì sự sốngbận rộn ngoài xã hội, Phật tử đâu đủ thì giờ nghiêncứu giáo lý, chỉ gặp Tăng, Ni trong nửa giờ, một giờ,Phật tử có thể học được nhiều điều trước kia chưabiết. Vì thế, đến chùa để gặp Tăng, Ni là điều thiếtyếu không thể thiếu, đối với mỗi Phật tử tại gia. Ðichùa có hai trường hợp, đi chùa ngày thường và đi chùangày lễ vía.

Ðichùa ngày thường: Bất cứ ngày nào thấy rảnh việc nhà,người Phật tử có thể đi chùa. Khi đi chùa, Phật tử phảinhắm thẳng mục đích thưa hỏi đạo lý. Vì hỏi đạo lý,Phật tử phải ghi lại những điều gì mình chưa hiểu đểđem ra hỏi. Mỗi lần đến chùa, Phật tử phải có ít nhấtđôi ba vấn đề thưa hỏi Tăng, Ni. Những vấn đề ấy, hoặcdo thấy nếp sống sanh hoạt nhà chùa chưa hiểu đem ra hỏi,hoặc đọc trong kinh sách chỗ nào không biết đem ra hỏi.Biết thưa hỏi như vậy, người Phật tử học đạo rấtchóng tiến. Ði chùa hỏi đạo là đúng tinh thần học vấncủa người Phật tử.

Nhưngcũng có những khi không vì hỏi đạo mà vẫn đi chùa. Ðâylà trường hợp vì đua chen trong cuộc sống, người Phậttử thần kinh bị căng thẳng, vội vàng bỏ việc đến chùa.Ðến đây để ngồi yên trên tảng đá dưới bóng mát tàncây, nghe tiếng gió thì thào trên ngọn cây, giọng chim líulo trong cành râm, khung cảnh tịch mịch của nhà chùa, khiếntâm hồn lắng xuống thần kinh dịu lại. Không cần gặp ai,chẳng màng thưa hỏi, chỉ cần mắt ngắm mấy cội tùng xanh,mũi ngửi mùi hương nhẹ của hoa lan, hoa nguyệt quới, ngồiđặt lưng tựa bên vách chùa, chúng ta cảm nghe lòng nhẹ nhàngkhoan khoái, những giờ phút này gánh nợ đời oằn oại đôivai bỗng dưng như quẳng mất. Chính cảnh cô liêu tịch mịchcủa nhà chùa đã giải tỏa xoa dịu phần nào nỗi bực dọcnão phiền của Phật tử.

Ðếnchùa ngày lễ vía: Cùng Phật tử với nhau như con một cha,những ngày lễ vía là ngày huynh đệ sum họp. Ngày thườngmỗi Phật tử có hoàn cảnh riêng gia đình riêng, ít khi gặpđược nhau để thăm hỏi sự tu hành, nhắc nhở nhau về đứchạnh. Nhân ngày lễ vía ở chùa, toàn thể Phật tử tụ hộivề cùng thăm hỏi nhau trong tình đạo bạn, cùng giãi bàynhau về kinh nghiệm tu hành, thật là một cơ hội quí báu.Chúng ta đâu không nghe ông cha chúng ta đã nói "ăn cơm cócanh, tu hành có bạn". Ðoàn tụ dưới mái chùa, huynh đệngồi gần nhau đàm đạo mật thiết thân tình, đây là mộtniềm vui để dắt dìu nhau trên con đường đạo đức. Mếnthương nhau, đoàn kết nhau, khích lệ nhau, cùng nỗ lực leolên cho đến tận đỉnh ngọn giác ngộ.

Càngcao cả hơn, khi chúng ta nghe Tăng, Ni kể lại hành trang nhuộmmùi từ bi đượm màu giác ngộ của chư Phật, Bồ-tát, hoặcnghe giải thích giáo lý cao siêu thoát tục của Phật dạy,làm sáng tỏ thêm đường lối tu hành. Thật là những cơhội hiếm có để Phật tử thấm nhuần chánh pháp. Vắngmặt trong những ngày lễ vía, là một thiệt thòi đáng kểcủa người Phật tử. Có nghe giáo lý, có học công hạnhcủa Phật, Bồ-tát, Phật tử mới biết phương hướng tuhành, mới thấy những gương sáng ngời để noi theo. Dù đãqui y mấy mươi năm, không chịu học hỏi giáo lý, không siêngnghe giảng dạy, Phật tử này vẫn mờ mịt không hiểu gìvề đạo Phật. Là Phật tử phải tỏ ra xứng đáng vớidanh nghĩa của mình, nghĩa là học và hành đúng với đườnglối Phật dạy. Vì thế, đi chùa nghe giảng là điều tốicần thiết của người Phật tử.

III.-LỄ PHẬT

LạyPhật không vì van xin tha tội, không vì cầu mong ban ân, chỉvì quí kính một đấng lòng từ bi tràn trề, trí giác ngộviên mãn. Vì quí kính công đức trí tuệ của Phật nên chúngta lạy Ngài. Lạy Phật để thấy mình còn thấp thỏi ti tiện,bỏ hết những thói ngạo mạn cống cao. Quí kính gương caocả của Phật để mình noi theo. Phước đức lạy Phật làtại chỗ đó.

LễPhật vì dẹp ngã mạn - Bản chất con người chúng ta lúcnào cũng tự cao tự đắc, vênh váo nghênh ngang. Ðó là tánhxấu khiến mọi người chán ghét, tiêu mòn công đức. Phậttử biết được cái dở này, kính lạy Phật, Bồ-tát, cácbậc tôn túc, để diệt trừ tâm ngã mạn của mình. Kínhlạy các ngài là tự mình thấy không bì kịp các ngài, biếtmình thấp thì tánh ngạo mạn từ từ biến mất. Khi lạycác ngài không mong một ân sủng nào, chỉ vì một lòng kínhtrọng đức hạnh của các ngài, tự thấy mình hèn hạ thấpthỏi, thế là mọi công đức từ đó phát sanh. Bởi đứaăn trộm thì phục kẻ ăn trộm giỏi, chàng võ sĩ thì nểtay vô địch, kính trọng Phật, Bồ-tát, các bậc tôn túctự nhiên chúng ta có dự phần trong ấy rồi. Quả như câunói "kính thầy mới được làm thầy". Chúng ta muốn dẹpbỏ những tánh xấu, tập tành đức hạnh, kính lễ nhữngbậc đức hạnh là điều cần thiết vậy.

LễPhật vì noi gương - Kính lạy Phật, chính vì chúng ta muốnhọc đòi noi theo gương của Ngài. Tại sao chúng ta phải họcđòi theo gương đức Phật? Bởi vì, Phật đã đầy đủ mọicông đức, trí tuệ từ bi viên mãn, nên chúng ta phải họctheo. Ðây chúng tôi đơn cử một công hạnh nhỏ xíu củaNgài, thử xem chúng ta có theo kịp không?

Mộthôm, đức Phật một mình mang bình bát vào thôn xóm khấtthực, bỗng có một người ngoại đạo biết Ngài và biếtrõ Phật đi đến đâu ắt đệ tử của chúng đều bỏ đạoqui kính Phật. Nổi tức, ông đi theo sau lưng Phật mạ lỵđủ điều, Phật vẫn chậm rãi tiến bước đều đều khôngmột lời đối đáp. Ðến đầu đường, ông ta chạy đóntrước mặt Phật, chặn lại hỏi: Cù-đàm thua ta chưa? Phậtung dung trải tọa cụ xuống đất, ngồi kiết già đọc bàikệ:

Kẻhơn thì thêm oán
Ngườithuangủ chẳng yên
Hơnthuahai đều xả
Ấyđượcan ổn ngủ. -- (Kinh Trung A-hàm)
Ngoạiđạo hối lỗi ăn năn lễ tạ.

Thửhỏihành động này của đức Phật, chúng ta có ai dám tựhào cho mình làm được. Nếu đem danh vọng giá trị so sánh,đức Phật là một vị giáo chủ trong tôn giáo, một vị Tháitử ở thế gian, chúng ta hiện nay là một tín đồ trong tôngiáo, một kẻ tay trắng ở thế gian, đức Phật bị mạ lỵmà không tức giận, chúng ta bị mạ lỵ có tức giận chăng?Nếu chúng ta không tức giận cũng chưa dám bì với đức Phật,vì giá trị danh vọng của chúng ta có ra quái gì. Huống là,bị mạ lỵ chúng ta liền nổi giận ầm ầm. Nhìn lại đứcPhật thử xem chúng ta cách Ngài bao xa? Thế thì lạy Ngài baonhiêu mới xứng đáng trong việc noi gương theo Ngài? Ðếnnhư tâm từ bi, trí giác ngộ của Phật, sánh với chúng tathật là trời cao vực thẳm. Ðời đời kính lễ Ngài, cũnglà cái hãnh diện của chúng ta, biết kính người đáng kính.Thế mà, có một ít người thấy chúng ta lạy Phật, họ tỏvẻ ngạo nghễ. Hãy nghe câu chuyện đối đáp này:

Mộtem gái đi chùa lễ Phật, lễ xong em vừa ra đến sân chùa,gặp một quân nhân đứng ngắm cảnh. Thấy em, quân nhân liềnhỏi: em đi đâu thế? Bé gái đáp: em đi chùa lễ Phật. Quânnhân hỏi: tượng Phật bằng gỗ bằng xi măng, em lễ cáigì? Bé gái hỏi lại: Ở doanh trại anh mỗi sáng có chào cờkhông? Quân nhân đáp: sáng nào cũng chào cờ. Bé gái hỏi:cờ bằng vải bằng màu, tại sao phải nghiêm trang chào? Quânnhân đáp: chào tinh thần Tổ quốc được tượng trưng qualá cờ, chớ không phải chào vải màu. Bé gái nói: Cũng thế,em lạy tinh thần từ bi giác ngộ của Phật được tượngtrưng qua hình tượng chớ không phải lạy gỗ lạy xi măng.Quân nhân đành thôi.

VI.-KẾT LUẬN

Chọnmột hành động có ý nghĩa là con người tỉnh sáng. Khi đãnhận định kỹ việc làm của mình, dù có bị chê khen, chúngta vẫn an ổn thực hành. Chỉ có những kẻ xu thời, thấyai khen cái gì chạy theo cái nấy, mới bàng hoàng khi bị aiphê bình hành động của mình. Ði chùa lạy Phật đã mangsẵn những ý nghĩa của nó, dù có ai chê là mê tín..., tavẫn an nhiên. Ðạo đức có hay không, do lòng ta biết kínhtrọng người đạo đức hay không. Do lòng kính trọng mớithúc đẩy chúng ta học đòi và bắt chước theo người đứchạnh. Lạy Phật là động cơ đẩy mạnh chúng ta tiến mãitrên đường giác ngộ.







Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18/03/2014(Xem: 23939)
Phật dạy bậc đại nhân có tám điều giác ngộ. Điều thứ nhất, giác ngộ cuộc đời là vô thường, vũ trụ mênh mông tạm bợ. Gốc của bốn đại vốn không thật, trống rỗng nhưng nếu chúng ta không biết, chấp nó là thật thì sẽ dẫn đến đau khổ. Tập hợp năm ấm là vô ngã, sinh diệt thay đổi không ngừng, không thật và không có chủ thể. Tâm này là cội nguồn phát sinh điều ác, thân này là nơi tích tụ tội lỗi. Người hay quán chiếu được như thế dần dần sẽ thoát khỏi sanh tử.
10/12/2013(Xem: 27282)
Pháp Tướng Tông (Duy Thức Tam Thập Tụng) của Bồ Tát Thế Thân, Vu Lăng Ba giảng, cư sĩ Lê Hồng Sơn dịch
03/12/2013(Xem: 81674)
Người ta thường nói :"Ăn cơm có canh, tu hành có bạn". Đối với tôi, câu nói này thật là quá đúng. Ngày nhỏ chưa biết gì nhưng từ khi làm Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử tôi đã thấy ích lợi của một Tăng thân. Chúng tôi thường tập trung thành từng nhóm 5,7 người để cùng nhau tu học. Giai đoạn khó khăn nhất là sau 75 ở quê nhà. Vào khoảng 1985, 86 các anh lớn của chúng tôi muốn đưa ra một chương trình tu học cho các Huynh Trưởng trong Ban Hướng Dẫn Tỉnh và những Htr có cấp nên đã tạo ra một lớp học Phật pháp cho các Htr ở Sàigòn và các tỉnh miền Nam. Nói là "lớp học" nhưng các Chúng tự học với nhau, có gì không hiểu thì hỏi quý Thầy, các Anh và kinh sách cũng tự đi tìm lấy mà học. Theo qui định của các Anh, Sàigòn có 1 Chúng và mỗi tỉnh có 1 Chúng. Chúng tu học của chúng tôi (Sàigòn) có tên là Chúng Cổ Pháp và phải thanh toán xong các bộ kinh sau đây trong thời gian tối đa là 3 năm:
29/11/2013(Xem: 32053)
Chúng tôi chọn viết đề tài dừng tâm sanh diệt là nhân có một Phật tử than: Trong đời tu hành của con có một chướng ngại mà con không vượt qua được, đó là những niệm tưởng lăng xăng. Nó quấy rầy luôn, cả những lúc nghỉ ngơi cũng không yên.
25/11/2013(Xem: 25198)
Nhìn vào tín ngưỡng Phật giáo nhiều người thường thắc mắc tại sao lại có nhiều "thứ" đến thế! Thật vậy Phật giáo có rất nhiều học phái, tông phái, chi phái..., một số đã mai một, thế nhưng một số vẫn còn đang phát triển và đồng thời cũng có nhiều chuyển hướng mới đang được hình thành. Đối với một người tu tập Phật giáo thì sự kiện ấy thật hết sức tự nhiên: tất cả mọi hiện tượng trong thế giới đều chuyển động, sinh sôi nẩy nở và biến đổi không ngừng. Nếu nhìn vào các tín ngưỡng khác thì ta cũng sẽ thấy cùng một hiện tượng như thế.
30/10/2013(Xem: 52348)
Phật (Buddha) là một từ ngữ để chỉ người giác ngộ viên mãn. Ðức Thích Ca Mâu Ni (Sàkyãmuni) là người đã giác ngộ, nên chúng ta gọi Ngài là Phật. Giác ngộ là thấy biết mọi chân lý về vũ trụ và nhân sinh. Từ chỗ giác ngộ này, đức Phật chỉ dạy các môn đồ còn ghi chép lại thành Tạng kinh. Trong tạng kinh chứa đầy dẫy những chân lý, dù trải qua hơn 25 thế kỷ vẫn còn giá trị nguyên vẹn, không do thời gian làm suy giảm. Ngày nay chúng ta nghiên cứu Tạng kinh thật chín chắn, càng phát hiện những chân lý ấy gần gũi và thích hợp với khoa học một cách không ngờ. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ giới thiệu tổng quát vài nét cương yếu để đọc giả suy ngẫm.
17/10/2013(Xem: 54539)
Tôi đọc kinh sách, nghe giảng và học hỏi, đồng thời rút kinh nghiệm trong những năm qua cùng các pháp hữu nghiên cứu và hoằng truyền chánh pháp, đặc biệt với đạo hữu Nguyên Phước. Thấy cần, rút ra một số nét cơ bản để chia xẻ cùng quý Phật tử thật dễ đọc, dễ hiểu, dễ thực hành trong niềm tin Phật pháp.
08/05/2013(Xem: 6740)
Giáo lý nghiệp của Phật giáo có thể sử dụng để biện giải về sự sinh tử luân hồi, đa dạng của chúng sanh trong ba cõi, sáu đường. Các khái niệm về nghiệp được hình thành rất sớm, ngay trước khi bộ tộc Aryan xâm chiếm Ấn Ðộ.
13/04/2013(Xem: 4984)
Thời đức Phật Thích Ca tại thế (563-483 trước dương lịch) thì Phật pháp được giảng giải và trao truyền bằng lời nói, chứ chưa được ghi lại dưới dạng văn tự. Trong lần kết tập thứ ba, theo lệnh của vua A Dục (Aśoka : 268-233 tr. dl), tức khoảng 218 năm sau khi Đức Phật Niết Bàn, Kinh Phật mới được ghi lại thành văn bản trên những miếng đồng để lưu trữ. Vào thời kỳ nầy thì tiếng Phạn đã được học giả Pānini chuẩn hóa thành tiếng Phạn mà các học giả Tây phương gọi là tiếng Phạn Cổ điển (Classical Sanskrit) để phân biệt với tiếng Phạn thời trước đó trong kinh Vệ Đà, gọi là Phạn Vệ Đà (Vedic Sanskrit).