03-Ngũ giới

28/01/201109:41(Xem: 10699)
03-Ngũ giới

BƯỚCÐẦU HỌC PHẬT
HòathượngThích Thanh Từ
PhậtLịch 2541-1998

Ngũgiới

I.-MỞÐỀ

Conngườilà đối tượng của đạo Phật, bao nhiêu luật, baonhiêu pháp môn, đức Phật đều vì con người lập bày. Ðemlại sự an vui hạnh phúc cho con người, là mục tiêu chánhyếu của đạo Phật. Song quan niệm đạo Phật, không phảiđược nhiều của cải, nhiều tình yêu v.v... là con ngườicó hạnh phúc. Hạnh phúc là người sống biết tiết chế,biết tôn trọng hạnh phúc của mọi người, biết thành thậtthương mến nhau. Một dân tộc văn minh là biết tôn trọngsanh mạng của nhau, tôn trọng những quyền tự do căn bảncủa con người. Vì thế, ngũ giới là nền tảng căn bảnđem lại hạnh phúc cho con người, xây dựng con người sốngđúng ý nghĩa văn minh của nhân loại. Ngũ giới là cơ bảnđạo đức của người Phật tử, khi bắt đầu bước chântrên con đường giác ngộ giải thoát. Thiếu căn bản đạođức này, dù chúng ta có nói đạo đức cao siêu đến đâucũng là lối nói rỗng. Sự tu hành thiết thực phải gầydựng cơ bản trước, sau mới tiến lên những bậc cao siêu.Ðó là tầm quan trọng của ngũ giới.

II.-ÐỊNH NGHĨA

Ngũgiới là năm điều ngăn cấm do đức Phật chế ra, bảo cácPhật tử phải tuân hành theo. Sau khi qui y người ấy đã tựnhận là đệ tử Phật, để đủ tư cách một Phật tử cầnphải gìn giữ năm giới. Năm điều răn cấm này, Phật vìthương xót chúng sanh mà chế ra, cốt khiến đời sống họđược an lành hạnh phúc. Gìn giữ năm giới này là vì mình,không phải vì Phật. Hình thức năm giới:

1.Không sát sanh: Không sát sanh nghĩa là không được giết hạimạng sống của con người. Chúng ta tự quí sanh mạng củamình, vô lý lại sát hại sanh mạng kẻ khác. Trên lẽ côngbằng nhân đạo không cho phép chúng ta làm việc ấy. Nếulàm, chúng ta đã trái lẽ công bằng thiếu lòng nhân đạo,đâu còn xứng đáng là đệ tử Phật. Giết hại mạng sốngngười có ba: trực tiếp giết, xúi bảo người giết, tùyhỉ trong việc giết hại. Phật tử không tự tay mình giếtmạng người, không dùng miệng xúi bảo đốc thúc kẻ khácgiết, khi thấy họ giết hại nhau chỉ một bề thương xótkhông nên vui thích. Ðó là giữ giới không sát sanh. Nhưngsuy luận rộng ra, chúng ta quí trọng mạng sống, những convật cũng quí trọng mạng sống, để lòng công bằng trànđến các loài vật, nếu không cần thiết, chúng ta cũng giảmbớt giết hại sanh mạng của chúng.

2.Không trộm cướp: Của cải tài sản của chúng ta, không muốnai xâm phạm đến, của cải tài sản của người, chúng tacũng không được giựt lấy hay lén lấy. Bởi cướp giựthay lén lấy của người là hành động trái nhân đạo, phạmluật pháp chánh quyền, phải bị trừng phạt. Trộm cướplà do lòng tham lam ác độc, chỉ nghĩ lợi mình, quên nỗiđau khổ của người, mất cả công bằng và nhân đạo, ngườiPhật tử quyết định không được làm.

3.Không tà dâm: Người Phật tử có vợ chồng đôi bạn nhưmọi người thế gian khác. Khi có đôi bạn rồi tuyệt đốikhông phạm đến sự trinh bạch của kẻ khác. Nếu phạm thìmắc tội tà dâm. Bởi vì đây là hành động làm đau khổcho gia đình mình và gia đình người, tạo thành nguy cơ tángia bại sản. Do một chút tình cảm riêng tư của mình, khiếnnhiều người khổ đau liên lụy, quả là thiếu lòng nhân.Ðể bảo đảm sự an ổn của gia đình mình và hạnh phúccủa gia đình người, Phật tử nhất định không phạm tàdâm.

4.Không nói dối: Nói lời trái với sự thật để mưu cầulợi mình, hoặc hại người là nói dối. Do động cơ thamlam ác độc, sự kiện xảy ra thế này lại nói thế khác,sửa trái làm mặt, đổi phải thành quấy, khiến ngườimắchọa. Người nói như thế trái với đạo đức, mất cả lòngnhân, không xứng đáng là một Phật tử. Phật tử là ngườiđạo đức nên ăn nói có mẫu mực, thấy biết thế nào nóithẳng thế ấy, không điêu xảo dối trá. Trừ trường hợpvì lợi người lợi vật, không nỡ nói thật để ngườibị hại hoặc khổ đau, do lòng nhân cứu người cứu vậtnói sai sự thật mà không phạm. Không nói dối là giữ lòngtin đối với mọi người chung quanh.

5.Không uống rượu: Ðạo Phật chủ trương giác ngộ, muốnđược giác ngộ trước phải điềm đạm tỉnh sáng, uốngrượu vào gan ruột nóng bức, tâm trí quay cuồng, mất hếtbình tĩnh không còn sáng suốt, trái hẳn mục đích giác ngộ.Chính vì nóng bức cuồng loạn, có những người khi say sưatội lỗi họ cũng dám làm, xấu xa gì họ cũng không sợ,mất hết lương tri. Vì thế, người biết đạo đức phảitránh xa không uống rượu. Uống rượu chẳng những làm mấttrí khôn, lại gây nên bệnh hoạn cho thân thể, còn di hạicho con cái sau này đần độn. Quả là một họa hại cho cánhân và xã hội. Người Phật tử vì sự nghiệp giác ngộ,vì lợi ích cho mình cho người quyết hẳn không uống rượu.Trừ trường hợp mắc bệnh y sĩ bảo phải dùng rượu hòathuốc uống mới lành, Phật tử được uống thuốc rượuđến khi lành bệnh thì chấm dứt, cần phải trình cho chưTăng biết trước khi uống.

III.-LỢI ÍCH BẢN THÂN

Ngườibiết giữ gìn năm giới đã tạo thành căn bản đạo đứcvà sự an lành cho bản thân. Không sát sanh, bản thân ta khôngbị người giết, hoặc tù tội về giết người, cũng khôngcó thù hận về nợ máu với nhau. Thế là sống chúng ta khôngkinh hoàng sợ hãi do thù hằn gây nên. Không trộm cướp, bảnthân ta không mắc tội tù về trộm cướp, ở đâu hay điđến chỗ nào khỏi sợ người theo dõi nghi ngờ. Tới luitự do, đến đi an ổn, không phải hạnh phúc là gì? Khôngtà dâm, bản thân ta khỏi phải lao thần tổn trí, khỏi sợai bàn tán dở hay, mọi người đều tín nhiệm và tin cậyta. Bản thân ta trinh bạch, khiến người tự quí mến. Tựmình an ổn, gia đình cũng an ổn. Không nói dối, chính ta khôngphải hối hận, lời nói tự có giá trị, gây được niềmtin của mọi người. Người hay nói dối sẽ bị xã hội đánhgiá thấp, đề xướng điều gì đều bị nghi ngờ, làm việcgì ít ai tán trợ. Không uống rượu, chính ta khỏi bị cáitệ điên cuồng mất trí, khỏi gây cho cơ thể bệnh hoạnsuy yếu, khỏi bị người khinh thường trong lúc say sưa. Tráilại, bản thân ta điềm đạm bình tĩnh, thân thể khỏe mạnh,đối với mọi người đều được quí kính, sanh con cũngthông minh sáng suốt. Ðó là lợi ích bản thân ngay trong hiệntại. Nếu về mai sau, không sát sanh thân tráng kiện sốnglâu; không trộm cướp, được tài sản sung túc; không tàdâm, thân thể đẹp đẽ; không nói dối, ăn nói khôn ngoanmọi người yêu chuộng; không uống rượu, trí tuệ sáng suốt.

IV.-LỢI ÍCH GIA ÐÌNH XÃ HỘI

Mọingười trong nhân loại đều tự nhận sanh mạng là tối thượng.Biết tôn trọng sanh mạng là nếp sống văn minh, chà đạptrên sanh mạng là con người dã man. Biết giữ năm giới lànguồn hạnh phúc của gia đình, là nếp sống văn minh củaxã hội. Ðức Phật nhìn thẳng vào con người, đem lại chocon người một đời sống an lành, một gia đình hạnh phúc,một xã hội văn minh, Ngài chế ra năm giới.

Sanhmạng là giá trị tối thượng của con người mọi ngườiđều phải tôn trọng, vì tôn trọng sanh mạng con người,Phật cấm Phật tử không được sát sanh. Sanh mạng con ngườiđược tồn tại vững bền, nhờ tài sản nuôi dưỡng, vìtôn trọng tài sản của người, Phật cấm Phật tử khôngđược trộm cướp. Sự sống của con người cần có gia đình,gia đình là tổ ấm của nhân loại, tổ ấm ấy bị lung laylà mất hạnh phúc, vì tôn trọng hạnh phúc của gia đình,Phật cấm Phật tử không được tà dâm. Sự sống chung đụngtrong gia đình và ngoài xã hội cần phải tin tưởng nhau, thiếulòng tin thì không thể thông cảm thân yêu, vì đem sự tinyêu lại cho mọi người, Phật cấm không được nói dối.Trật tự của gia đình và xã hội là sự an ổn, một duyêncớ gây xáo trộn trong gia đình và ngoài xã hội là làm mấttrật tự chung, vì tôn trọng trật tự của gia đình và xãhội, Phật cấm Phật tử không được uống rượu.

Chỉtrong năm giới thôi, nếu gia đình nào gìn giữ trọn vẹnlà gia đình ấy có hạnh phúc, trên thuận dưới hòa, tin yêuthuần cẩn. Nếu mọi người trong xã hội ứng dụng triệtđể là một xã hội văn minh, chan hòa sự cảm thông và thươngmến. Chúng ta vì lợi ích bản thân, vì hạnh phúc của giađình, vì sự an lạc của xã hội, nỗ lực gìn giữ năm giới.Gìn giữ năm giới là tôn trọng nhân bản, là nếp sống vănminh, là nền tảng đạo đức vậy.

V.-KẾT LUẬN

Sựkhổ đau tột độ của con người không gì hơn, khi họ nghĩđến sanh mạng họ bị đe dọa, tiền của họ bị mất mát,người yêu họ bị xâm phạm. Chính đây là nỗi thống khổkhắc nghiệt nhất của con người. Vì cứu khổ đem vui lạicho con người, Phật cấm người Phật tử không được làmba điều ấy. Tình thương vĩnh viễn không có, nếu con ngườikhông tin tưởng và cảm thông nhau. Ðiều này cũng là nỗiđau khổ thứ yếu của con người. Bởi vì trong cuộc sốngmà không có tình thương, là loài người đang lạc loài ởgiữa bãi sa mạc hay chốn rừng hoang, còn đâu sự đùm bọcthân yêu chia sớt cay đắng ngọt bùi. Muốn đem tình thươngcho nhân loại, trước tiên phải có tin tưởng thông cảm nhau,nên Phật cấm người Phật tử không được nói dối. Chínhbao nhiêu đó, chúng ta đã thấy lòng từ bi lênh láng củađức Phật. Tinh thần cứu khổ ban vui của đạo Phật đãthể hiện rõ ràng trong năm giới này. Vì thương mình thươngngười, Phật tử chúng ta phải cố gắng gìn giữ và khuyênngười gìn giữ. Ðó là căn bản của Ðạo làm người hiệntại và mai sau.






Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/05/2015(Xem: 42766)
Một tập sách với tựa đề như trên, trong xã hội hiện nay, không có gì đặc biệt; so với Kito giáo tại Việt Nam, cũng là việc làm bình thường, vì hàng năm, một số giáo xứ thường xuyên tổ chức các lớp hướng dẫn giáo lý và hôn nhân cho thế hệ trẻ từ tuổi 18 trở lên; nhưng đặc biệt của tập sách nầy nằm trong hai lĩnh vực: 1/ Phật giáo chưa từng xuất hiện sách hoặc lớp hướng dẫn về hạnh phúc gia đình, mặc dù có những kinh điển nói qua vấn đề nầy, quá tổng quát, chưa thích ứng với từng cảnh trạng của từng xã hội biến thái khác nhau hiện nay. 2/ Sách không trực tiếp dạy giáo lý như các lớp “giáo lý và hôn nhân” của các giáo xứ, nhất là giòng Tên; nhưng sách hướng dẫn tháo gỡ nhiều vấn đề mắc mứu liên quan đến tâm lý xã hội và đạo đức nhà Phật.
05/04/2015(Xem: 17745)
Cái Tâm là cái chi chi, có chi chi củng cứ chi chi với Tâm. Theo quan niệm của Phật Giáo, Duy Thức Luận: Tâm thức tạo ra thế giới vạn vật, "tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức" hay "nhất thiết duy tâm sở tạo." Tất cả đều nói lên một ý rằng cả thế giới chúng ta đang sống đều do tâm thức tùy theo nhân duyên mà sanh ra muôn sự, muôn vật rồi cũng tùy theo nhân duyên mà diệt đi. Không có việc gì, vật gì, có thực tướng ngay cả chư pháp, tồn tại vĩnh viễn ngoại trừ Tâm Bồ Đề là vô sinh, vô diệt đó chính là Tâm Phật.
16/03/2015(Xem: 11651)
Con đường luận pháp nhứt là trực chỉ nhân tâm hay trở về chân nguyên, tức là phải rõ đệ nhất nghĩa các kinh Phật dạy mà hành đúng pháp, là một việc cần liễu tri và tinh thông thành phần và mục đích pháp học mới có thể mở ra lối đi chân chánh giác ngộ niết bàn. Giải thoát khỏi dòng tâm thức vẩn đục (vô minh) để được minh tâm kiến tánh là hướng đi của mọi tu sĩ. Phổ Nguyệt mong mỏi pháp Phật nhiệm mầu được soi sáng bằng tuệ quán của mỗi người chúng ta cố gắng thâm cứu và thực hiện hoàn mỹ hơn đem lại nhiều lợi ích hơn trong việc tu học.
05/01/2015(Xem: 26165)
Các soạn và dịch phẩm của cư sĩ Hạnh Cơ - Tịnh Kiên - Mười Vị Đệ Tử Lớn Của Phật (dịch từ tác phẩm Thập Đại Đệ Tử Truyện, nguyên tác Hoa văn của Tinh Vân pháp sư, nhà xuất bản Phật Quang, Đài-bắc, ấn hành năm 1984) Chùa Khánh Anh (Paris) in lần 1, năm 1994 Tu viện Trúc Lâm (Edmonton) in lần 2, năm 1999 (có thêm phần “Phụ Lục” do dịch giả biên soạn) Ban Phiên Dịch Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam (Nha-trang) in lần 3, năm 2004 Chùa Liên Hoa và Hội Cư Sĩ Phật Giáo Orange County (California) in lần 4, năm 2005 - Lược Giải Những Pháp Số Căn Bản Làng Cây Phong (Montreal) in lần 1, năm 1996 Ban Bảo Trợ Phiên Dịch Pháp Tạng Việt Nam (California) in lần 2 (có bổ túc và sửa chữa), 2008 - Giấc Mộng Đình Mai của Nguyễn Huy Hổ (tiểu luận) Làng Cây Phong (Montreal) in lần 1, năm 2001 - Bộ Giáo Khoa Phật Học (dịch từ bộ Phật Học Giáo Bản – sơ cấp, trung cấp, cao cấp – nguyên tác Hoa văn của Phương Luân cư sĩ, Linh Sơn Xuất Bản Xã, Đài-bắc, ấn hành năm 1996) * Giáo Khoa Phật Học
05/01/2015(Xem: 23649)
Các soạn và dịch phẩm của cư sĩ Hạnh Cơ - Tịnh Kiên - Mười Vị Đệ Tử Lớn Của Phật (dịch từ tác phẩm Thập Đại Đệ Tử Truyện, nguyên tác Hoa văn của Tinh Vân pháp sư, nhà xuất bản Phật Quang, Đài-bắc, ấn hành năm 1984) Chùa Khánh Anh (Paris) in lần 1, năm 1994 Tu viện Trúc Lâm (Edmonton) in lần 2, năm 1999 (có thêm phần “Phụ Lục” do dịch giả biên soạn) Ban Phiên Dịch Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam (Nha-trang) in lần 3, năm 2004 Chùa Liên Hoa và Hội Cư Sĩ Phật Giáo Orange County (California) in lần 4, năm 2005 - Lược Giải Những Pháp Số Căn Bản Làng Cây Phong (Montreal) in lần 1, năm 1996 Ban Bảo Trợ Phiên Dịch Pháp Tạng Việt Nam (California) in lần 2 (có bổ túc và sửa chữa), 2008 - Giấc Mộng Đình Mai của Nguyễn Huy Hổ (tiểu luận) Làng Cây Phong (Montreal) in lần 1, năm 2001 - Bộ Giáo Khoa Phật Học (dịch từ bộ Phật Học Giáo Bản – sơ cấp, trung cấp, cao cấp – nguyên tác Hoa văn của Phương Luân cư sĩ, Linh Sơn Xuất Bản Xã, Đài-bắc, ấn hành năm 1996) * Giáo Khoa Phật Học
19/11/2014(Xem: 16708)
Văn học là một trong những phương thức biểu đạt tình cảm và trí thức của loài người. Một tác phẩm văn học hay, không chỉ tạo ra tiếng vang rộng lớn tại thời điểm và địa phương nào đó, thậm chí nó có khả năng siêu vượt biên giới thời-không, dẫn dắt nhân tâm bước vào cảnh giới chân- thiện- mỹ. Trong Phật giáo có rất nhiều tác phẩm chính là đại diện cho loại hình này; đặc biệt chính bản thân Đức Phật cũng là nhà văn học tài trí mẫn tiệp, trí tuệ siêu quần.
15/11/2014(Xem: 33762)
Nên lưu ý đến một cách phân biệt tinh tế về thứ tự xuất hiện của hai kiến giải sai lầm trên. Đầu tiên là kiến giải chấp vào tự ngã của các nhóm thân tâm, và từ cơ sở này lại xuất phát kiến giải chấp vào tự ngã của cá nhân. Trong trường hợp nhận thức được Tính không thì người ta sẽ nhận ra Tính không của nhân ngã trước; bởi vì nó dễ được nhận ra hơn. Sau đó thì Tính không của pháp ngã được xác định.
25/10/2014(Xem: 30325)
Trong bất cứ một cộng đồng nào đều có nhiều tầng lớp khác nhau, nhiều chủng loại con người khác nhau sống cùng trong đó, thì chắc chắn luôn có sự hiện diện của nhiều mặt tư tưởng khác nhau, phát sinh nhiều vấn đề liên quan. Vì vậy để gìn giữ một cuộc sống yên bình cho một cộng đồng, con người phải có nhiều phương pháp để hòa giải mọi sự khác biệt. Xuyên suốt trong lịch sử của loài người, đã có rất nhiều lời đề xuất để giải quyết, thậm chí phải sử dụng đến phương sách bạo động, chẳng hạn như chiến tranh, xung đôt nhằm giải quyết sự khác biệt.
20/10/2014(Xem: 56152)
Đa số Phật tử Việt Nam thường chỉ học hỏi Phật pháp qua truyền thống Trung Hoa; ít ai để ý đến sự sai biệt căn để giữa khởi nguyên của Phật giáo từ Ấn Độ và những khai triển của Trung Hoa. Người Ấn vốn có thái độ coi thường lịch sử; “bởi vì chư thiên yêu thương cái gì tăm tối”*, họ đẩy tất cả những gì xảy ra lui vào bóng tối mịt mù của thần thoại. Riêng Phật tử Ấn cổ thời, với lý tưởng cứu cánh là Niết Bàn, mọi biến cố lịch sử cũng không bận tâm cho lắm. Ngược lại, người Trung Hoa có thái độ lịch sử một cách xác thiết.
18/08/2014(Xem: 74631)
108 lời dạy của Đức Đạt-lai Lạt-ma được gom góp trong quyển sách tuy bé nhỏ này nhưng cũng đã phản ảnh được một phần nào tư tưởng của một con người rất lớn, một con người khác thường giữa thế giới nhiễu nhương ngày nay. Thật vậy tư tưởng của Ngài có thể biểu trưng cho toàn thể lòng từ bi và trí tuệ Phật Giáo trên một hành tinh mà con người dường như đã mất hết định hướng. Các sự xung đột không hề chấm dứt, con người bóc lột con người, giết hại muôn thú và tàn phá thiên nhiên. Phật giáo thường được coi như là một tín ngưỡng nhưng những lời khuyên của Đức Đạt-lai Lạt-ma trong quyển sách này vượt lên trên khuôn khổ hạn hẹp của một tôn giáo: - "Mỗi khi phải đề cập đến các vấn đề tâm linh thì không nhất thiết là tôi buộc phải nói đến các vấn đề liên quan đến tôn giáo (câu 87).