Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

6. Ma giấu người

23/10/201416:47(Xem: 6982)
6. Ma giấu người

 

Vén Bức Màn Bên Kia Cõi Chết
Tác giả: Đức Hạnh Lê Bảo Kỳ

Xuất bản tại Hoa Kỳ 2005

 

---o0o---



MA GIẤU NGƯỜI.

Chuyện ma giấu người cũng lắm phổ biến trên thế giới, nhất hạng là ở các nước Á Châu, trong đó có Việt Nam, một nước đứng hàng đầu về chuyện ma giấu người, được các tiền nhân xưa và nay, từ nam, trung, bắc nói đến.

Ma giấu người nói riêng ở ba miền Việt Nam có cùng một hiện tượng, nhưng khác vị trí không gian.

Cùng một hiện tượng, đó là con người từ nương dâu, ruộng đồng, rừng núi trên đường về nhà vào lúc chạng vạng hay giữa đêm. Bỗng nhiên thấy có bóng người ở đằng trước không xa lắm. Khi đến gần sát bên, người đó quay lui nói lời xã giao, người trên đường về cũng đáp lại. Rồi sau đó lòng cảm thấy người mà mình gặp giữa đường, trông có vẻ quen quen từ bao giờ.

Giữa lời đối đáp xã giao, người kia (ma) nhã ý mời người này (người thật) vô nhà, thăm chơi. Người được mời đồng ý. Chẳng bao lâu, chỉ mười bước thấy phía trong có ngôi nhà hiện ra. Người mời đi vào nhà, người được mời đi theo vô.

Vào nhà, người được mời thấy trong nhà cũng có phòng ngủ, phòng khách, bàn thờ, bếp núc, đèn sáng đàng hoàng, không khác gì ngôi nhà thật. Người được mời ngồi vào phòng khách, được chủ nhà mời ăn bánh ngọt, uống nước trà nóng rõ ràng, cùng với lời trò chuyện xưa, chuyện nay v.v...

Trong khi đó, thân nhân của người bị ma giấu (vợ, con, cha mẹ, anh em... ) cứ ngồi trông đợi đến khuya, đến sáng và có khi qua ngày hôm sau, mà không thấy chồng, con, anh, em mình về. Tức khắc cùng nhau đi tìm khắp nơi, không sót chỗ nào, từ gần đến xa ngoại ô làng, xã. Dĩ nhiên, phải tìm cho ra, dù đến khuya, đến sáng hay hôm sau vẫn phải tìm cho bằng được.

Khi tìm thấy được, thì hỡi ôi! Có người bị ngồi ở trước ngôi mộ ở nghĩa trang hay bên đồi lẻ loi. Có người bị ngồi trong bụi cây. Có người ngồi trên cành cây đại thọ. Ba nơi đó là vị trí khác nhau. Còn cùng hiện tượng, là người bị ma giấu, ai cũng được ma thăm hỏi, dẫn vào nhà (sang trọng, bình dân, lụp sụp) mời ngồi, mời nước, mời ăn bánh, v.v...

Người bị ma giấu ngồi ở mộ, bụi cây, cành cây như vậy, khi vừa được thân nhân tìm thấy, tức khắc họ không còn thấy gì nữa, chỉ thấy một màu đen tối phủ xuống. Tâm ý của họ lúc bấy giờ như thấy mình đang ngủ ở nhà. Cho nên sau khi được thân nhân phủi bụi đất nơi quần áo, xoa bóp tay chân, moi đất hay lá cây trong miệng ra, thì họ tỉnh giấc, rồi mở mắt. Lúc đó họ nhìn thân nhân trong trạng thái ngơ ngác, lạ lùng và im lặng, nhưng có nghe nên chỉ gật đầu sau lời thân nhân hỏi.

Qua một vài phút cấp cứu, làm tỉnh lại, họ được thân nhân đỡ đứng lên đưa ra khỏi ngôi mộ hay bụi rậm, cành cây. Đa số ngồi ở ngôi mộ, bụi rậm, chứ cành cây thì rất ít nghe nói đến.

Trên đường về lại nhà, có người trả lời liền câu hỏi của thân nhân, có người lắc đầu vì còn bị ủ ê trong tâm hồn. Qua vài giờ nằm nghỉ ngơi, họ mới hoàn toàn tỉnh hẳn. Sau khi họ tỉnh hẳn, họ tường thuật lại những hiện tượng như đã nói vừa rồi.

 

LỜI BÌNH GIẢNG

Cụm từ “ma giấu người” là lời ông bà xưa nói ra do dựa vào những hiện tượng con người đi đêm bị ngồi nơi ngôi mộ, bụi rậm, cành cây trong trạng thái mê, nhưng ý thức bên trong làm việc với các vong linh (ma) giống như nằm mộng thấy lúc ngủ say... như đã trình bày trong bài.

Thật sự không phải ma giấu, phải nói là ma mời, ma tiếp đãi người sống thì đúng hơn. Bởi vì ma, không ai đâu xa lạ. Họ là con người có tấm thân vô hình do thức A-Lại-Da biến thể sau khi nó ra khỏi xác chết. Thân vô hình ấy được gọi là thân trung ấm hay gọi là vong linh. Vì chữ “Linh” là biết (thức) nhạy cảm do bảy quan năng trong thân trung ấm trỗi dậy và làm việc y như lúc còn sống trên đời.

Con người lúc còn sống trên đời, bản tính của họ là hiền hòa, biết nghĩa, trọng ân, hiếu khách hay hung ác, kỳ thị, ganh ghét, thù hận... Sau khi chết, những bản tính ấy không bao giờ mất, do thức A-Lại-Da mang theo. Do vậy, với con người lúc còn sống, họ có đức tính hiền hòa, hiếu khách, nên thường mời bạn hữu thân thích đến nhà để hàn huyên tâm sự qua chén trà, miếng bánh v.v... Cũng như vậy, qua bên kia cõi chết, vong linh họ vẫn hiền hòa, hiếu khách, cho nên họ thường đón rước những người đi đêm có cùng tần số với họ vào nhà họ, đó là ngôi mộ, bụi rậm, cành cây để tiếp đãi và hàn huyên.

Tại sao những vong linh vốn có đức tính hiền hòa, hiếu khách như vậy, mà không siêu thoát, cứ ở nơi ngôi mộ, bụi rậm, cành cây, để rồi mời người sống vào hàn huyên? Bởi vì đức tính hiền hòa, hiếu khách, không phải là năng lực làm cho vong linh siêu thoát. Năng lực đưa vong linh siêu thoát, phải là do cái tâm trống rỗng, không còn vọng động, hết vô minh, phiền não... gọi là tâm thanh tịnh, có trí tuệ giác ngộ qua quá trình tu tập một cách tích cực. Thì, những vong linh vốn có đức tính hiền hòa, hiếu khách, lại bị cộng thêm cái tâm còn luyến tiếc của cải, tiền tài, còn tham ái, nhớ thương con cháu, quyến thuộc... , là cái lực không lên, chẳng xuống, cứ lững lờ trong bầu ánh sáng mờ ảo, vọng thức của họ. Cho nên những cảnh như: ngôi nhà có đủ phòng ốc, bàn ghế, đèn đuốc, trà nước, bánh mức, v.v... mà người sống đi đêm sau khi được họ mời vào đã được thấy, được ăn bánh, uống trà... Tất cả đều do vọng tâm của họ biến ra.

Với con người lúc còn sống có bản tính độc ác, kỳ thị, ganh ghét, hận thù về đối tượng nào, qua bên kia cõi chết, vong linh họ vẫn mang nặng tâm hận thù, oán ghét về đối tượng đó. Dĩ nhiên họ không siêu thoát lên, cũng không đọa xuống, cứ sống mãi trong bầu ánh sáng u tối hận thù của họ cho mục đích trả thù.

Cho nên hiện tượng “Ma Giấu Bò” nói riêng ở Bình Thuận thường xảy ra rất phổ biến, được ông bà xưa kể lại và cho biết nguyên do là: Người Chàm ở Việt Nam là nguồn gốc Ấn Độ thuộc liên bang Cham ở phía đông nam nước Ấn. Họ di dân lần qua các nước Thái Lan, Campuchia, Lào và Việt Nam trong thời đại du mục. Tại Việt Nam, họ bị mất gốc do người Việt đồng hóa gần hết (đồng hóa được thay cho tiêu diệt). Cho nên số ít đang còn trên đất Việt từ Quảng Nam vào đến Bình Thuận và những người đã qua đời, cả hai sống và chết đều oán hận dân Việt. Do vậy, người sống và qua đời đều tìm cách trả thù người Việt. Trong những cách trả thù đó là giấu bò của người Việt do những vong linh Chàm bên kia cõi chết thực hiện và thư bùa, ếm ngải, cũng như nơi gốc ruộng của họ có bùa ngải để trừng phạt những con bò của người Việt đến ăn lúa của họ, bằng cách làm cho con bò ăn lúa cứ bị đứng đó mãi không đi được, do người Chàm còn sống thực hiện.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/12/201317:06(Xem: 8293)
Những người dân Tây Tạng thân mến của tôi, ở cả trong lẫn ngoài đất nước Tây Tạng, cùng tất cả những ai đang tu tập theo truyền thống Phật Giáo Tây Tạng và những ai đang có những nối kết với Tây Tạng và người Tây Tạng.
23/10/201421:03(Xem: 7122)
Thức A-Lại-Da không phải là một linh hồn, giác hồn, thần hồn. Từ xưa nay trên thế giới, chưa có một tôn giáo nào phủ nhận sự hiện hữu vĩnh cửu của một linh hồn như Phật giáo, tức là Phật giáo không chấp nhận có một linh hồn tồn tại trong bản thân con người. Không phải là linh hồn, là cái gì mà các loài vật và con người biết mưu sinh, đói, lạnh, giận hờn, tham lam, luyến ái, đấu tranh giành quyền sống, v.v... ? Đó là Như Lai Tạng hay Phật tánh. Phật tánh (Như Lai Tạng) có trong chúng sinh, đúng như lời Phật nói: “Tất cả chúng sinh đều có Phật tính”. Sở dĩ chúng sinh bị trôi lăn trong sinh tử luân hồi là do vô minh, phiền não bao phủ Như Lai Tạng (Phật tính) mà sinh ra nhiều thứ ngã là năng lực sinh tử, chứ không phải rằng Phật tính (Như Lai Tạng) có sinh, có tử. Đức Phật đã nhấn mạnh vấn đề này: “Không có tự ngã lấy gì sinh tử”. Tức là do bản ngã mà có sinh tử. Năng lượng sinh ra ngã là do vô minh, phiền não bao phủ Như Lai Tạng. Như Lai Tạng được thay bằng thức A-Lại-Da để có thể g
08/04/201319:57(Xem: 3025)
Quý vị vì các nhân duyên như truy tiến Tổ tiên để báo đáp thâm ân, hoặc siêu độ quyến thuộc để kỷ niệm người quá cố, hoặc gieo phước thọ mạng để cầu an tránh nạn... mà làm các Phật sự rất trang nghiêm và long trọng. Quý vị đã hao phí rất nhiều tài lực vật lực và nhân lực để thành tựu một nghĩa cử cao đẹp này.
04/12/201204:07(Xem: 3769)
Danh hiệu Phật Bồ Tát đại từ đại bi vô lượng vô biên biểu trưng trí tuệ của tự tánh vô lượng vô biên, đức năng vô lượng vô biên...
01/10/201500:05(Xem: 1760)
Video clip: Lễ tang mẫu thân TT. Thích Nhật Từ
01/04/201614:09(Xem: 5940)
Lễ tang ông Nguyễn Thuyên - pháp danh Nguyên Thọ. Sinh năm: 1932 - tại Thừa Thiên Huế. Từ trần lúc 17h00, ngày 30.09.2013(26.08.Quý Tỵ) Hưởng thọ: 82 tuổi. Chủ sám: Hòa thượng Thích Phước Trí - trụ trì chùa Pháp Vân, Lê Thúc Hoạch, Phường Phú Thọ Hòa, Quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. ----------------------------------------------------------------------- CUỘC SỐNG "Lịch giảng dạy, tu tập của Thầy tại thiền đường Tàng Kinh Các - Chùa Phước Duyên, Huế vào mỗi tuần: 2h chiều thứ bảy cho lớp Nữ Phật tử Thanh Tuệ và sáng 7h chủ nhật lớp Chánh Niệm, vào buổi chiều 2h Lớp Chánh Tâm. Xin quý nam nữ cư sĩ duy trì giờ học theo lịch pháp thoại của Thầy thường xuyên và nếu quý vị Phật tử nào ở xa có thể ghi danh,thời gian...để trực tiếp đến các lớp học vào cuối tuần với đại chúng. Qua nhiều triều đại. Thiền Sư Vạn Hạnh và Lý Thái Tổ trở nên mốc son tỏa sáng, hai vị đã tự biết nuôi nhau, lắng nghe nhau, bảo hộ cho nhau thì tiếng nói kia, hồi kinh kia mới hòa nhập vào nhau, biến thành
01/02/201705:52(Xem: 6767)
Thuyết linh do Hòa Thượng Thích Phước Trí, Phó Ban Nghi Lễ Trung Ương – Trụ trì chùa Vạn Phước, Q.11 và chùa Pháp Vân, Q. Tân Phú thuyết linh tại chùa Thiền Lâm Q6, trong buổi lễ trai đàn chẩn tế nhân tuần chung thất... Ngày 19/08 AL
16/04/201520:31(Xem: 3074)
Một trong những bộ sách đặc biệt của Tây Tạng là bộ Tử Thư (Tibetian Book of the Death) viết về đời sống sau khi chết. Cuốn sách đã được nhiều người nghiên cứu và phiên dịch nhưng vì nó quá hàm súc, khó hiểu nên một số học giả đã rút tỉa vài đoạn trong đó, khai triển rộng ra để an ủi những người đang đau khổ vì cảnh tử biệt. Phần dưới đây trích trong cuốn "To Those Who Mourn" của Giám mục Charles Leadbeater, một nhà thần học nổi tiếng của thế kỷ 20.
20/10/201310:13(Xem: 7930)
Tập sách nhỏ này được ấn hành lần đầu tại Sài gòn vào tháng 10/2000 do một đệ tử góp nhặt các bài ngắn đã in trên báo trước đó, rồi sách lại được tái bản tại Úc vào tháng 2/2001 để cung ứng cho sự học hỏi của Phật tử tại đây. Và nay nó được Ðạo hữu Phillip Phạm và một số bạn bè của anh tại Tiểu bang California lấy xuống từ trang nhà của Quảng Ðức (www.quangduc.com) để in lại cho quý Phật tử đọc.