Bản Chất Của Tổ Chức Trong Đạo Phật

31/05/202507:50(Xem: 1518)
Bản Chất Của Tổ Chức Trong Đạo Phật

Phat thuyet phap-4

BẢN CHẤT CỦA
TỔ CHỨC TRONG ĐẠO PHẬT

Nguyên Vinh-Nguyễn Ngoc Mùi


Tổ Chức Chỉ Là Phương Tiện – Đạo Là Tự Giác Tự Nguyện

Trong đạo Phật, sự tự do nội tâm, tỉnh thức trong thực tại và giác ngộ cá nhân luôn được đặt lên hàng đầu. Đức Phật không lập giáo điều, không lập giáo hội,không áp đặt niềm tin, cũng không thiết lập một cơ chế tổ chức mang tính quyền lực hay mệnh lệnh. Ngài chỉ chỉ bày con đường như ngón tay chỉ mặt trăng: Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo – con đường đưa đến thân lạc tâm an, tỉnh thức mọi lúc và giải thoát khổ đau. Vì thế, tất cả những văn bản, văn kiện, định chế như Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Nội quy Gia đình Phật tử Việt Nam, hay Quy chế Huynh trưởng, Giáo Hội, Gia Đình Phật Tử (GĐPT) xét cho cùng, đều không phải là “pháp quy” mang tính cưỡng chế như luật pháp đời thường, như định chế quyền lực thế tục. Chúng chỉ là những cam kết tự nguyện, mang tính tu học và điều hợp, nhằm giữ gìn nền nếp cho một đoàn thể lấy tâm linh làm cốt lõi.

1. Pháp không nắm bắt, tổ chức không ràng buộc

Đạo Phật dạy rằng: “Pháp là vô tự tính, tùy duyên mà hiện khởi.” Trong tinh thần đó, mọi cơ cấu tổ chức trong đạo Phật chỉ là phương tiện thiện xảo – tức là những hình thức tạm thời để giúp người tu học thuận lợi hơn trên hành trình chuyển hóa thân tâm. Một hiến chương, một nội quy – dù được soạn thảo chặt chẽ mang tính ràng buộc đến đâu – vẫn không thay thế được tâm nguyện chân thành của người con Phật. Không có giới luật nào cao quý bằng giới tự giữ tâm thanh tịnh. Không có quy chế nào mạnh mẽ bằng sự tự giác hành trì Chánh pháp.

2. Gia đình Phật tử – tổ chức giáo dục dựa trên tình thương và sự tỉnh thức

Gia đình Phật tử không phải là một tổ chức hành chính, càng không phải là một đoàn thể phân định thứ bậc để tranh chấp quyền lực. GĐPT là môi trường tu học chung, nơi các thế hệ cùng nhau rèn luyện thân tâm, phát triển trí tuệ và nuôi dưỡng lòng từ bi. Những điều khoản trong Nội quy hay Quy chế chỉ đóng vai trò như những chiếc bóng của mái chùa, như ánh trăng rọi qua kẻ lá trong một đêm tĩnh lặng- nội quy, quy chế không nhằm dựng nên thành trì hay tường cao, mà chỉ để nhắc chúng ta nhớ rằng trong mỗi hơi thở, trong mỗi bước chân, đều có thể là sự trở về. Trở về vơi nhau . Trở về vơi chính mình. Và trở về con đường thanh tịnh giác ngộ của Phật tánh, đầy hương hoa. Không ai bị ép buộc phải vào GĐPT. Nhưng một khi đã phát nguyện gia nhập để sinh hoạt để tu học, đã phát nguyện đeo hoa sen trắng trên ngực, thì sự tự giác gìn giữ giềng mối Phật pháp và hòa hợp thân ái, thanh tịnh đoàn thể trong niềm vui chân chính chính là nền tảng giúp tổ chức được trường tồn và phát triển.

3. Đạo Phật không chủ trương quyền lực – chỉ đề cao chánh hạnh

Trong lịch sử Phật giáo, chưa từng có một triều đại tăng lữ nào tham gia vào nguồn máy cai trị xã hội như một đế chế. Các vị tổ sư, dù có ảnh hưởng đến đâu, cũng chỉ “thị hiện” để dẫn đạo chứ không bao giờ áp đặt. Vì thế, trong một tổ chức Phật giáo – nhất là tổ chức GĐPT – sự lãnh đạo không đến từ quyền uy mà đến từ tâm đức, hạnh tu, và khả năng truyền cảm hứng sống theo Chánh pháp.

4. Giải quyết mọi khó khăn bằng Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo

Nếu có tranh chấp, mâu thuẫn, bất đồng – dù trong tổ chức GĐPT hay trong giáo hội – thì đó là biểu hiện của khổ (dukkha). Và như Đức Phật đã dạy, khổ có nguyên nhân, có con đường dẫn đến đoạn diệt khổ. Nếu từng cá nhân quay về chiêm nghiệm Khổ, Tập, Diệt, Đạo và tu tập đúng Bát Chánh Đạo (Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ…), thì mọi mâu thuẫn sẽ tan biến như mây sương trước mặt trời chánh niệm.

Tổ chức để tạo nên chức vụ và cấp, bậc không phải là mục đích để đi đến. Văn kiện lập quy -Hiến Chương, Nội Quy, Quy Chế - không thể thay thế sự tinh tấn hành trì tu tập. Nếu mỗi thành viên GĐPT, mỗi huynh trưởng, mỗi tăng sĩ, đều lấy Tứ Diệu Đế làm kim chỉ nam, lấy Bát Chánh Đạo làm bản đồ hành trì, thì dù không cần một điều lệ nào, không cần một tổ chức nào chúng ta vẫn có thể sống hòa hợp, thương yêu, và phát triển tổ chức một cách vững bền.Tâm người là nền tảng của tổ chức. Giới luật chân thật là giới luật không cần ép buộc.





Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
15/06/2022(Xem: 17867)
Tôi thật chưa tìm ra cuốn nào như cuốn này, tác giả viết từ những năm 50s, hữu duyên được dịch ra tiếng Việt vào những năm 80s… Tìm lại được bản thảo sau khoảng 33 năm (2021). Tốn thêm một năm hiệu đính trên đường ta bà, gọt dũa lại.
07/12/2021(Xem: 13638)
Triết học Phật giáo và Cơ học Lượng tử luôn có sự hỗ tương cho nhau. * Sự kỳ lạ của Cơ học Lượng tử đến mức thách thức các nhà khoa học và triết học tìm hiểu một số nhận thức sâu sắc hơn về bản chất của thực tế. * Một nỗ lực để tìm cách diễn giải Copenhagen, và một số người tin rằng cách lý giải này dựa vào Thế giới quan Phật giáo. * Mặc dù tôi là một Phật tử nhưng tôi phản bác quan điểm vật lý học chứng minh Thế giới quan Phật giáo.
17/11/2021(Xem: 43584)
Nghiệp, phổ thông được hiểu là quy luật nhân quả. Nhân quả cũng chỉ là mối quan hệ về tồn tại và tác dụng của các hiện tượng tâm và vật trong phạm vi thường nghiệm. Lý tính của tất cả mọi tồn tại được Phật chỉ điểm là lý tính duyên khởi.266F[1] Lý tính duyên khởi được nhận thức trên hai trình độ khác nhau. Trong trình độ thông tục của nhận thức thường nghiệm, quan hệ duyên khởi là quan hệ nhân quả. Chân lý của thực tại trong trình độ này được gọi là tục đế, nó có tính quy ước, lệ thuộc mô hình cấu trúc của các căn hay quan năng nhận thức. Nhận thức về sự vật và môi trường chung quanh chắc chắn loài người không giống loài vật. Trong loài người, bối cảnh thiên nhiên và xã hội tạo thành những truyền thống tư duy khác nhau, rồi những dị biệt này dẫn đến chiến tranh tôn giáo.
14/11/2021(Xem: 39831)
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn ngự tại xứ Sāvatthi, gần đến ngày an cư nhập hạ suốt ba tháng trong mùa mưa, chư Tỳ khưu từ mọi nơi đến hầu đảnh lễ Đức Thế Tôn, xin Ngài truyền dạy đề mục thiền định, đối tượng thiền tuệ thích hợp với bản tánh của mỗi Tỳ khưu. Khi ấy, có nhóm năm trăm (500) Tỳ khưu, sau khi thọ giáo đề mục thiền định xong, dẫn nhau đến khu rừng núi thuộc dãy núi Himavantu, nơi ấy có cây cối xanh tươi, có nguồn nước trong lành, không gần cũng không xa xóm làng, chư Tỳ khưu ấy nghỉ đêm tại đó. Sáng hôm sau, chư Tỳ khưu ấy dẫn nhau vào xóm làng để khất thực, dân chúng vùng này khoảng một ngàn (1.000) gia đình, khi nhìn thấy đông đảo chư Tỳ khưu, họ vô cùng hoan hỉ, bởi vì những gia đình sống nơi vùng hẻo lánh này khó thấy, khó gặp được chư Tỳ khưu. Họ hoan hỉ làm phước, dâng cúng vật thực đến chư Tỳ khưu xong, bèn bạch rằng: – Kính bạch chư Đại Đức Tăng, tất cả chúng con kính thỉnh quý Ngài an cư nhập hạ suốt ba tháng mùa mưa tại nơi vùng này, để cho tất cả chúng con có
13/11/2021(Xem: 21114)
“Bát Thánh Đạo” là phương pháp tu hành chơn chánh cao thượng đúng theo qui tắc Phật giáo mà đức Thế Tôn đã có lời ngợi khen là quí trọng hơn tất cả con đường tu hành, là con đường không thẳng cũng không dùn, không tham vui cũng không khắc khổ, vừa thành tựu các điều lợi ích đầy đủ đến hành giả, hiệp theo trình độ của mọi người. Cho nên cũng gọi là “TRUNG ĐẠO” (Majjhimapaṭipadā) là con đường giữa. Ví như đàn mà người lên dây vừa thẳng, khải nghe tiếng thanh tao, làm cho thính giả nghe đều thỏa thích. Vì thế, khi hành giả đã thực hành đầy đủ theo “pháp trung đạo” thì sẽ đạt đến bậc tối thượng hoặc chứng đạo quả trong Phật pháp không sai. Nếu duyên phần chưa đến kỳ, cũng được điều lợi ích là sự yên vui xác thật trong thân tâm, từ kiếp hiện tại và kết được duyên lành trong các kiếp vị lai. Tôi soạn, dịch pháp “Bát Thánh Đạo” này để giúp ích cho hàng Phật tử nương nhờ trau dồi trí nhớ và sự biết mình. Những hành giả đã có lòng chán nản trong sự luân hồi, muốn dứt trừ phiền não, để
08/11/2021(Xem: 23338)
Đây chỉ là chiếc thuyền nan, chưa tới bờ bên kia, vẫn còn đầy ảo tưởng chèo ra biển cả. Thân con kiến, chưa gột sạch đất cát, bò dưới chân Hy Mã Lạp Sơn, nghe tiếng vỗ của một bàn tay trên đỉnh cao. Chúng sinh mù, nếm nước biển, ngỡ bát canh riêu cá, Thế gian cháy, mải vui chơi, quên cảnh trí đại viên. Nắm vạt áo vàng tưởng như nắm lấy diệu quang, bay lên muôn cõi, theo tiếng nhạc Càn Thát Bà réo gọi về Tịnh Độ, ngửi mùi trầm Hương Tích, an thần phóng thoát. Con bướm mơ trăng Cực Lạc, con cá ngụp lặn dưới nước đuôi vàng như áo cà sa quẫy trong bể khổ, chờ thiên thủ thiên nhãn nghe tiếng sóng trầm luân vớt lên cõi Thanh văn Duyên giác. Những trang sách còn sở tri chướng của kẻ sĩ loanh quanh thềm chùa Tiêu Sơn tìm bóng Vạn Hạnh, mơ tiên Long Giáng lào xào bàn tay chú tiểu Lan trên đồi sắn.
07/11/2021(Xem: 26207)
Kinh Vô Lượng Nghĩa nói “vô lượng pháp từ một pháp mà sinh ra”. Ma Ha Chỉ Quán của Thiên Thai Trí Giả (538-597), quyển 5, nói: “Phật bảo các Tỳ-kheo, một pháp thâu nhiếp tất cả pháp, chính là Tâm”. Phổ môn là vô lượng giáo pháp. Vô lượng giáo pháp này cũng từ một giáo pháp mà sinh ra. Một giáo pháp phổ cập tất cả gọi là phổ môn. Chư Phật thuyết giáo thuận theo Tâm của chúng sinh. Giáo là những ngôn từ được thuyết ra cho những chúng sinh chưa thấu suốt. Pháp là những phương thức với nhiều tướng trạng giống nhau hoặc khác nhau. Tâm ý chúng sinh có bao nhiêu ngõ ngách thì giáo pháp có chừng ấy quanh co. Chư Phật dùng muôn vàn phương tiện khế cơ mang lại lợi ích cho chúng sinh. Ngài Xá Lợi Phất từng nói: “Phật dùng nhiều thứ nhân duyên và thí dụ, phương tiện ngôn thuyết như biển rộng khiến tâm người trong pháp hội được yên ổn, con nghe pháp ấy khiến lưới nghi dứt” là nghĩa trên vậy.
05/09/2021(Xem: 28973)
Bắt đầu gặp nhau trong nhà Đạo, người quy-y và người hướng-dẫn biết hỏi và biết tặng món quà pháp-vị gì cho hợp? Thực vậy, kinh sách man-mác, giáo-lý cao-siêu, danh-từ khúc-mắc, nghi-thức tụng-niệm quá nhiều – nghiêng nặng về cầu-siêu, cầu-an – không biết xem gì, tụng gì và nhất là nhiều người không có hoàn-cảnh, thỉnh đủ. Giải-đáp thực-trạng phân-vân trên, giúp người Phật-tử hiểu qua những điểm chính trong giáo-lý, biết qua sự nghiệp người xưa, công việc hiện nay và biết đặt mình vào sự rèn-luyện thân-tâm trong khuôn-khổ giác-ngộ và xử-thế, tôi biên-soạn cuốn sách nhỏ này. Cuốn sách nhỏ này không có kỳ-vọng cao xa, nó chỉ ứng theo nhu-cầu cần-thiết, mong giúp một số vốn tối-thiểu cho người mới vào Đạo muốn tiến trên đường tu-học thực-sự. Viết tại Sài-thành mùa Đông năm Mậu-tuất (1958) Thích-Tâm-Châu
22/08/2021(Xem: 6164)
Đây là bài thứ 4 và cũng là bài sau cùng trích dẫn một số câu liên quan đến giáo lý của Đức Phật. Bài 4 này gồm tất cả 80 câu được chọn lọc từ một bài gồm 265 câu trên một trang mạng tiếng Pháp : https://www.evolution-101.com/citations-de-bouddha/. Các câu này chủ yếu được rút tỉa từ kinh Dhammapada (Kinh Pháp Cú) và các kinh trong phẩm thứ tư của Tam Tạng Kinh là Anguttara Nikaya (Tăng chi hay Tăng nhất bộ kinh)
24/06/2021(Xem: 7177)
Lòng Từ bi là một giá trị phổ quát. Tranh đấu cho công bằng xã hội – nghĩa là bảo đảm quyền lợi và cơ hội bình đẳng cho tất cả mọi người – thường xuất phát từ sự phẫn nộ, thúc đẩy con người chống lại những bất công có hệ thống. Tôi tin rằng đấu tranh cho công bằng xã hội sẽ có hiệu quả tốt nhất nếu được kích hoạt bởi lòng từ bi. Nếu động lực đấu tranh cho công bằng xã hội của chúng ta là do lòng từ bi đích thực, chúng ta sẽ được tiếp thêm năng lượng để hoạt động tích cực hơn nhằm bảo đảm cho tất cả mọi người có được một phẩm chất đời sống xứng đáng. Tôi tin rằng nữ giới có thể đóng một vai trò đặc biệt trong việc đấu tranh cho công bằng xã hội bằng cách tu tập lòng từ bi và trí tuệ.