17. Gia đình hạnh phúc

11/01/201115:37(Xem: 10327)
17. Gia đình hạnh phúc

THỨC BIẾN
Hòa thượng Thích Thiện Siêu
Nhà Xuất Bản TP. HCM, 2003

GIA ĐÌNH HẠNH PHÚC

"Cha nghiêm, mẹ từ, conhiếu" là ba đức tánh để xây dựng một gia đình hạnh phúc theo phong tục tậpquán của người Việt nam. Quê hương chúng ta có truyền thống giữ gìn nếp sốnggia đình đầm ấm từ đời nọ đến đời kia chính là nhờ ba yếu tố đó. Khi nếp sốnggia đình được bảo trì và vun đắp thì đạo đức xã hội cũng được bảo đảm và tôntrọng, từ đó mới có sự đoàn kết và đó cũng là một trong những yếu tố tinh thầnyêu nước bền chắc từ xưa tới nay.

Trong xã hội Việt nam, vai trò đầuđàng trong gia đình chính là người cha. Vậy vai trò đó cụ thể phải thể hiện nhưthế nào? Trước hết là bậc làm cha phải nghiêm.

1. Cha nghiêm: là người cha có một đời sống gương mẫu, có tâm hồn caothượng, không đam mê cờ bạc, rượu chè, sắc dục, lo làm ăn sinh sống với mọingười nhưng không giao du với bạn ác. Khi các bậc làm cha tránh bốn điều áctrên và luôn luôn toàn tâm toàn ý lo lắng để xây dựng gia đình và dạy dỗ concái đến nơi đến chốn thì người cha ấy là một tấm gương sáng cho con noi theo.Đó là một người cha có công ơn sâu dày đối với con cháu.

2. Mẹ từ: là người mẹ có tấm lòng thương con. Đây là đức tính thiêngliêng và là một tình thương cao quý không có bến bờ. Bà mẹ thương con từ khicon còn ở trong bụng, bao giờ bà cũng nghĩ rằng con ta chính là xương của mình,thịt của mình, máu của mình - họ luôn luôn ý thức rằng: giữa con và mình làmột. Chính vì thế mà khi con đau là mẹ đau, khi con lành thì mẹ lành, khi convui thì mẹ vui, khi con khổ thì mẹ khổ. Vì vậy mà chúng ta có thể nói: mở đầucuộc đời người con chính là mẹ, là cha, là một tình thương lai láng không thểdiễn tả hết. Nên tục ngữ của chúng ta có câu:

"Mẹgià như chuối ba hương
Như xôi nếp một như đường mía lau.
Mía lau vừa ngọt vừa mềm
Công cha nghĩa mẹ không tiền nào mua".

Mía lau là một đặc sản của người dânViệt nam, ngọt và thơm lắm. Tình thương của bà mẹ đối với con cái cũng ngọtngoài như mía lau vậy. Mía lau ngọt từ trong ra ngoài thì tình thương của mẹđối với con từ khi con còn trong bụng mẹ cho đến khi ra đời, rồi lớn khôn, bạcđầu vẫn không thay đổi. Hình ảnh cảm động nhất là khi mẹ già 80, 90 tuổi vẫncòn thương con 60, 70 tuổi, coi như con mới lọt lòng ra. Tình thương trước saunhư một, không thay đổi

"Cha nghiêm, mẹ từ" đó làhai đức tính để làm gương cho một gia đình, làm rường cột tạo nên hạnh phúc chocon cái. "Cha nghiêm, mẹ từ" là một tấm gương sáng để cho con cháunoi theo, để trở thành một người cha và người mẹ đúng nghĩa sống làm người, làyếu tố cho con cháu hiếu thảo, tôn thờ sau này.

3. Con hiếu: là người con hết mực yêu thương cha mẹ, thấm thía tìnhthương của cha mẹ khi còn sanh tiền, chứ không phải đợi khi tuổi già mới biếtcông ơn cha mẹ. Cũng không phải đợi khi cha mẹ nuôi con lớn khôn mới hiểu tìnhthương yêu của cha mẹ. Biết như thế cũng là điều rất quý nhưng cũng có phần hơichậm trong suy nghĩ và hơi trễ trong bổn phận làm người. Cho nên, người conhiếu phải là người con có ý thức, phải biết nhìn thấy tâm tư của cha mẹ, tìnhthương của cha mẹ cực nhọc, ngày đêm lo cho con cháu được no cơm ấm áo, lo chocon cái trở thành người khôn lớn. Là con cái thì phải biết quý trọng tìnhthương ấy của cha mẹ, để sống một cuộc đời như thế nào cho có ý nghĩa và trởthành một con người có hiếu.

Một người con hiếu phải luôn luônbiết ơn cha mẹ, biết rõ sự lo lắng cực nhọc của cha mẹ.

Tóm lại, gia đình nào có đủ ba đứctánh: cha nghiêm, mẹ từ, con hiếu, đó là một gia đình có nhiều hạnh phúcan lạc đúng như tiền nhân của chúng ta đã dạy:

"Côngcha như núi ngất trời
Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển đông
Núi cao biển rộng mênh mông
Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi."

Hoặc:

"Muốiba năm muối đương còn mặn
Gừng chín tháng gừng hãy còn cay
Công cha nghĩa mẹ cao dày
Con ơi hãy nhớ lời này chớ quên."




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
21/06/2013(Xem: 8480)
Ở Việt Nam, người viết về triết gia Friedrich Nietzsche nhiều nhất là Phạm Công Thiện. Những hố thẳm triết lý mà Phạm Công Thiện nhắc tới là những hố thẳm tuyệt vọng của triết lý Tây Phương khi chưa tìm ra ngỏ thoát. Nhưng người nghiên cứu nghiêm chỉnh là Linh Mục Lê Tôn Nghiêm. Thái độ nghiêm chỉnh này đưa đến chuyện mất niềm tin vào một Thượng Đế giả định của lý trí. Lê Tôn Nghiêm có một phản ứng can đảm là trả áo vì không còn niềm tin của một người chăn chiên.
17/06/2013(Xem: 10354)
Đức Phật nêu lên tánh không như là một thể dạng tối thượng của tâm thức không có gì vượt hơn được và xem đấy như là một phương tiện mang lại sự giải thoát... Hoang Phong dịch
10/06/2013(Xem: 7884)
Lôgic học Phật giáo được hình thành trước logic học Aristote gần hai trăm năm. Hệ thống lôgic của Phật giáo "thực tế" hơn và mang một chủ đích hay ứng dụng rõ rệt hơn... Hoang Phong
29/05/2013(Xem: 5291)
Thế nào là Tánh Không? Khi nói tới Tánh Không, chúng ta phải nhớ Tánh Không Duyên Khởi, khi nói tới Chân Không chúng ta phải nhớ Chân Không Diệu Hữu. Hai từ này nên nhận cho thật kỹ. Tánh Không là thể tánh của tất cả các pháp. Thể tánh của tất cả các pháp là không, do duyên hợp nên sanh ra muôn pháp. Vì vậy nói Tánh Không duyên khởi.
25/05/2013(Xem: 9014)
Theo Phật giáo, sự thay đổi nào cũng đều có thể truy về quy luật nhân quả. Do đó, truy tìm nguyên nhân đưa đến sự thịnh suy và tìm kiếm giải pháp để duy trì sự cường thịnh và tránh sự suy vong của Phật giáo là một việc đáng làm, nhất là trong giai đoạn Phật giáo đang đối mặt với nhiều thách thức mới.
16/05/2013(Xem: 21723)
Triết học Trung quán kêu gọi sự chú ý của chúng ta, như một hệ thống đã tạo nên cuộc cách mạng trong đạo Phật và qua đó, toàn lĩnh vực triết học Ấn Độ.
09/05/2013(Xem: 11589)
Những Điều Phật Đã Dạy - Nguyên tác: Hòa thượng Walpola Rahula - Người dịch: Lê Kim Kha
05/05/2013(Xem: 13378)
Bộ là sự tập hợp các kinh luận dài ngắn, có nội dung quy về một chủ đề.Đó là các bộ: Bộ Bản duyên(tạng kinh), Bộ Thích kinh luận, Bộ A-tỳ-đàm(Tạng luận). BộBản duyênlà tập hợp các kinh dài, ngắn, vừa, có chung chủ đề là viết về lịch sử Đức Phật, tiền thân Phật, Bồ-tát, Pháp cú v.v… Bộ Thích kinh luận là tập hợp các luận dài ngắn,… có chung chủ đề là giải thích, luận giảng về kinh (tác giả là chư vị Bồ-tát, Luận sư của Phật giáo Ấn Độ, tác phẩm đã được Hán dịch. Nếu các tác phẩm giải thích, luận giảng về kinh luận do các Đại sư, học giả của Phật giáo Trung Hoa viết thì được tập hợp ở phần sớ giải). Bộ A-tỳ-đàmthì tập hợp các luận dài ngắn vừa thuộc mảng A-tỳ-đàm của phái Thuyết nhất thiết hữu bộ, phần lớn do Pháp sư Huyền Trang dịch ra Hán ngữ (dịch lại hoặc dịch mới). Như các luận A-tỳ-đạt-ma lục túc, luận A-tỳ-đạt-ma phát trí, luận A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa, luận A-tỳ-đạt-ma câu-xá…
02/05/2013(Xem: 5608)
Nghiên Cứu Triết Học Trung Quán