Dẫn nhập

11/11/201017:54(Xem: 17171)
Dẫn nhập


DẪNNHẬP

SỰHÌNH THÀNH CỦA A-TỲ-ÐẠT-MA

Batạng: Tu-đa-la-tạng, Tỳ-nại-da tạng, A-tỳ-đạt-ma tạng.Chữ A-tỳ-đạt-ma luận thường để chỉ các luận thư củacác bộ phái, chứ không dùng cho các luận thư Ðại thừa.Abhidharma Trung Hoa dịch âm là A-tỳ-đàm, A-tỳ-đạt-ma, vàdịch nghĩa là Vô tỷ pháp, Thắng pháp, Ðối pháp.

A.ÐỊNH NGHĨA

Nguyêntrong kinh A-hàm đức Phật dùng chữ A-tỳ-đạt-ma với dụngý tán mỹ các pháp nghĩa thâm huyền, rộng lớn không gì sánhkịp, dần dần nó biến chuyển qua nhiều nghĩa bởi các luậnsư của các bộ phái. Như luận sư Bà-sa thì gọi A-tỳ-đạt-malà phục pháp, vì nó hàng phục được tất cả tà thuyếtcủa ngoại đạo. Hóa địa bộ thì gọi là chiếu pháp, vìnó có khả năng chiếu soi tất cả tánh tướng các pháp. Thídụ sư thì gọi là thứ pháp, vì Niết-bàn là tối thượng,nó dưới pháp Niết-bàn một bực. Chánh lý sư thì gọi làThông pháp, vì nó có khả năng thấu đạt tất cả khế kinh.Hiếp Tôn Giả thì gọi là Cứu kính tuệ, Quyết đoán tuệv.v...đến ngài Thế Thân thì gọi là Ðối pháp với hai nghĩalà đối hướng và đối quán. Ðối là đối diện hướngtới. Ðối diện hướng tới Niết-bàn gọi là Ðối hướngNiết-bàn và đối diện quán sát pháp Tứ đế gọi là Ðốiquán. Pháp của Phật dạy không ngoài hai thứ là pháp Vô lậuthắng nghĩa (Niết-bàn) và pháp Hữu lậu pháp tướng. Trítuệ quán sát pháp tướng và chứng nhập Niết-bàn thì gọilà Ðối pháp trí hay A-tỳ-đạt-ma.

Ðạt-madịch là Pháp có nghĩa là tự giữ lấy tính cách nó (nhậmtrì tự tánh) và làm mẫu mực phát sinh cho sự nhận biết(quỹ sanh vật giải).

Ðạt-matức Dharma từ tự căn Dhri (giữ lại, mang) tức là cái đượcnắm giữ, hay lý tưởng nếu giới hạn ý nghĩa nó trong tácvụ tâm lý. Trình độ tâm lý sai biệt tùy sự tiếp nhậncủa mỗi cá thể:

1.Ở đức Phật nó là sự toàn giác hay viên mãn giác (Bồ-đề).
2.Lý tưởng diễn tả trong ngôn từ là giáo lý giáo pháp.
3.Lý tưởng đề ra cho đệ tử theo là luật nghi, đức lý,cấm giới.
4.Lý tưởng để chứng ngộ sẽ là nguyên lý, chân lý, bảntính, luật tắc, điều kiện.
5.Lý tưởng thể hiện trong một ý nghĩa tổng quát đó là sựthật thực tại, sự kiện, sự thể, yếu tố, (bị tạo haykhông bị tạo), tâm và vật, ý thể và hiện tượng. Trongtrường hợp phái duy thật của các luận sư A-tỳ-đạt-ma,chữ Ðạt-Ma được dùng nhiều nhất theo nghĩa thứ năm.

A-tỳtức Abhi (tiếp đầu ngữ) có nghĩa là hơn thế, nói về.Như vậy Abhidharma, có nghĩa là pháp tối thắng, hay là "Thắng",hay trần thuật về pháp. Ngài Buddhagosa (Phật Âm, Phật Minh)trong Na-tư-mạn-già-la Y-lạp-hy-ni (sách giải thích Dhiga Nikaya)dẫn bài tụng:" Có pháp tăng thịnh đặc thù, tôn trọng,nói rõ, tối thượng, thế gọi là A-tỳ-đạt-ma". Như vậynó rốt ráo có hai điểm. Về nội dung thì ý nghĩa thù thắng,về phương pháp luận cứu thì tường tận khúc chiết. NgàiPhật Âm còn nói:". Trong kinh, pháp ngũ uẩn chỉ được thuyếtminh một cách đại khái chứ không đi sâu vào chi tiết, còntrong A-tỳ-đạt-ma thì phân biệt kinh, phân biệt luận, phânbiệt vấn đáp, nên pháp ngũ uẩn được thuyết minh mộtcách cặn kẻ đầy đủ".

LuậnÐại Trí Ðộ nói: "A-tỳ-đạt-ma là gì? Ðáp: Là đối vấnmà đáp, hoàn toàn là hình thức luận cứu, nêu ra nhiều mặtđể phân biệt, như nói về 18 giới, thì phân biệt cái nàocó sắc, cái nào không sắc? Cái nào có thể thấy, cái nàokhông thể thấy? Cái nào hưũ lậu, cái nào vô lậu? Cái nàothiện, cái nào bất thiện? Cái nào hữu báo, cái nào vô báo?v.v....như thế gọi là A-tỳ-đạt-ma".

Lạinhư bảy kiết sử là dục nhiễm, sân nhuế, hữu ái, kiêumạn, vô minh, kiến, nghi (Kinh Mật Hoàn Dụ số 115, Trung A-hàm)trong đó cái nào là dục giới hệ (trói buộc ở cõi Dục)?.Cái nào là sắc giới hệ? Cái nào vô sắc giới hệ? Cáinào kiến đế đoạn?. Cái nào tư duy đoạn? Cái nào biếnsử? Cái nào bất biến sử? v.v...

NgàiChân Ðế và ngài Huyền Trang đều dịch Abhidharina là Ðốipháp, có nhiệm vụ tập hợp các pháp nghĩa lại rồi đemra phân loại, định nghĩa, giải thích và phân biệt. Ðốipháp có hai là Ðối quán lý Tứ đế và Ðối hướng quảNiết-bàn. Như vậy không thể hiểu Abhi,A là vô, Bhi là tỷmột cách máy móc được.

B.NGUỒN GỐC CỦA A-TỲ-DẠT-MA

Nóđã bao gồm trong sự thuyết pháp của đức Phật. Ðức Phậtthuyết pháp một cách ung dung tự tại. Lời Phật nói đơngiản minh bạch không có gì bí mật. Phật đã phân biệt vàphân loại một cách rõ ràng. Như vậy nguồn gốc của A-tỳ-đạt-maxuất phát từ Phật.

QUÁTRÌNH PHÁT TRIỂN LUẬN THƯ A-TỲ-ÐẠT-MA

Thờikỳ 1: Luận thư còn giữ hình thức khế kinh. Trong thời kỳ100 năm sau Phật Niết-bàn, chưa chia kinh luận như kinh A-hàmcòn truyền đến ngày nay là do học phong của Giáo hội Tăngđoàn mà được chỉnh lý và A-tỳ-đạt-ma hóa, cho nên trongđó có những kinh mang nhiều sắc thái như luận, như kinh TăngNhất, Tạp A-hàm, kinh Thế Ký trong Trường A-hàm và Phân BiệtBộ trong Trung Bộ, kinh Chúng Tập trong Trường Bộ.

Thờikỳ 2: Luận thư giải thích nghĩa kinh. Lấy kinh làm bối cảnhrồi định nghĩa, phân loại, phân biệt, giải thích nhữngđiều đã nói trong kinh chứ chưa phát huy vấn đề gì đặcsắc độc lập, như Vô Ngại Ðạo Luận của Phật Âm, Ma-ha-ni-luật-sa,Cưu-lạp-ni-luật-sa trong Tiểu Bộ hay như Hán dịch Pháp UẩnTúc Luận, Tập Dị Môn Túc Luận.

Thờikỳ 3: Luận thư tiến tới độc lập. Thời kỳ này Luậnthư không còn bàn giải nghĩa kinh mà lấy tất cả đề mụccủa các kinh tập hợp lại rồi phân loại một cách tườngtận và theo mọi tiêu chuẩn để phân biệt tính chất cácđề mục ấy, nội dung dần dần bao hàm các vấn đề sựthật độc lập hẳn với kinh luật. Ðó là thời kỳ xuấthiện bảy bộ luận của Phật giáo Nam phương và Ðại Tỳ-bà-saluận của Hữu bộ, Thành Thật luận của Kinh bộ.

Thờikỳ 4: Là thời kỳ Luận thư cương yếu. Các luận thư A-tỳ-đạt-maphát huy giáo nghĩa của các bộ phái khi đã phát triển thìmắc phải cái nạn quá nhiều, khó học hỏi nổi, nên đòihỏi phải có các luận thư toát yếu. Bộ luận thư toát yếura đời đầu tiên là bộ A-tỳ-đàm Tâm Luận của Pháp Thắng(Ðạt-ma-thi-la), đến Tạp A-tỳ-đàm Tâm Luận của Pháp Cứu,học trò Pháp Thắng, rồi đến Câu-xá luận của ngài ThếThân, Thanh Tịnh Ðạo luận của ngài Phật Âm, luận A-tỳ-đạt-maNghĩa Tập của ngài A-nậu-lâu-đà. Hai bộ sau này thuộc Thượngtọa bộ Tích Lan.

Tómlại, phương pháp xử lý vấn đề của các A-tỳ-đạt-malà trước hết nó hoàn toàn phụ thuộc vào kinh, chỉ có kinhlà có quyền chứng tuyệt đối. Rồi dần dần từ việc giảithích từng mỗi câu kinh tiến lên thuyết minh toàn thể tưtưởng được gói ghém trong các câu kinh, trong sự tiến bộđó nó đã nảy sinh ra thái độ phê phán tư tưởng trong kinh,cho đến khi không còn bị kinh chi phối, thậm chí không tôntrọng kinh bằng luận. Luận Ðại Tỳ-bà-sa cuốn 5 nói: "Nếucứ khư khư chấp chặt từng câu kinh mà không đạt quan chânlý của nó thì người ấy là "Trước văn Sa-môn". Ðó làthái độ của Hữu bộ lấy A-tỳ-đạt-ma làm trung tâm. Vàtheo ngài Chân Ðế thì Kê dẫn bộ còn cho rằng: "Kinh luậtchẳng qua chỉ là phương tiện, còn đệ nhất nghĩa đế chínhthật nằm trong A-tỳ-đạt-ma". Như vậy A-tỳ-đạt-ma đãcó chỗ đặc sắc không giống khế kinh. Chẳng hạn, ở khếkinh chú trọng giá trị tu chứng thực tiễn theo ch? trương"chuyển mê khai ngộ" cho nên những điều gì không thiết thựcgiúp cho việc chuyển mê khai ngộ thì đức Phật bỏ qua khôngnói đến. Trong những Pháp môn Ngài dạy để chuyển mê khaingộ, Ngài chỉ dạy những điều vừa đủ hiểu để tu hành,nhưng đến A-tỳ-đạt-ma thì chuyển sang chú trọng nghiêncứu vấn đề sự thật. Thay vì xử lý các vấn đề tu dưỡngtrước, thì A-tỳ-đạt-ma lại lo thuyết minh một cách tinhtế về sự thật liên quan đến nhân sanh vũ trụ trước rồisau mới đề cập vấn đề tu dưỡng. Chủ ý các luận sưA-tỳ-đạt-ma tuy không coi thường vấn đề tu dưỡng nhưngmuốn xác lập lý tưởng tu dưỡng thì trước phải xác địnhsự thật.

Sauhết, nhìn vào phạm vi phân chia các vấn đề cứu xét sựbất đồng giữa mới và cũ. Lúc đầu A-tỳ-đạt-ma chỉluận cứu những đề mục đặc thù như thiền định, trítuệ... Nhưng trong quá trình tiến bộ liên tục nó đã lấyviệc thuyết minh các đề mục đó một cách hệ thống làmnhiệm vụ và để tránh khó khăn nó lại chia các vấn đềđó ra từng bộ môn (chư môn phân biệt). Do đó mới có nhiềuluận thư, và sau cùng để tiện việc học hỏi lại có cácluận thư cương yếu ra đời.

C.CÁC LUẬN THƯ CỦA THƯỢNG TỌA BỘ

1.Pháp Tụ Luận (Dhamma Sanghani)
2.Phân Biệt Luận (Vibhanga)
3.Giới Thuyết Luận (Dhatu Katha)
4.Nhân Thi Thiết Luận (Pudgala Pannati)
5.Song Ðối Luận (Yamaka)
6.Pháp Trí Luận (Patthana)
7.Thuyết Sự Luận (Kathavasthu)

Ngoàibảy luận thư cơ bản này còn có các luận thư được sángtác tiếp theo:

- ThanhTịnh Ðạo Luận (visudhimagga) của ngài Phật Âm thế kỷ 5TL, có giá trị như một bộ bách khoa toàn thư Phật giáo,tính chất tương đương Câu-xá Luận đối với Hữu bộ.Ðây là sách tiêu chuẩn của tân Thượng tọa bộ.
-Trường Tập Kinh Chú Sớ (Sumangala Vilasini) sách giải thíchTrường Tập Kinh (Trường Bộ Kinh).
-Attha Salina, sách chú thích bộ Luận Pháp Tụ.
-Ngũ Thư Thuật Nghĩa (Panca-Pakarana Atthokattha): Năm sách Chúsớ Ðối pháp tạng.

Saungài Phật Âm có nhiều tác phẩm ra đời, trong đó có giátrị nhất là bộ A-tỳ-đạt-ma Nghĩa Tập Luận (AbhidharmatthaSangaha; H.T Minh Châu dịch Thắng Pháp Tập Yếu) này do ngàiA-nậu-lâu-đà (Anuruddha) viết thế kỷ 8 T.L. Ðây là bộ sáchngắn gọn toát yếu giáo nghĩa Phật giáo, làm sách chỉ namcủa Phật giáo Nam phương, với những giải thích xác đángrõ ràng giáo nghĩa của Thượng tọa bộ nên nhiều nơi đãdùng nó thay cho Thanh Tịnh Ðạo Luận.

D.CÁC LUẬN THƯ CỦA HỮU BỘ

1.Pháp Uẩn Túc Luận (Dharma Skandha): 12 cuốn, do Ðại-Mục-kiền-liên(Mahamogalyayana), có thuyết nói do Xá-lợi-phất viết lúc Phậttại thế.
2.Tập Dị Môn Túc Luận (Sangti paryaya pada) do Xá-lợi-phất viếtlúc Phật tại thế. (20 cuốn)
3.Thi Thiết Túc Luận (Prajnapti): Do Ca-chiên-diên (Kaiyaya) viếtlúc Phật tại thế, chưa dịch ra Hán văn.
4.Thức Thân Túc Luận (Vijnanakaya): 16 cuốn do Ðề-bà-thiết-ma(Devasarman) viết sau Phật Niết-bàn 100 năm . 5. Phẩm LoạiTúc Luận (Ptrakarama): 18 cuốn do Thế Hữu viết sau Phật Niết-bàn300 năm, cũng dịch là Chúng Sự Phần A-tỳ-đàm Luận (1).
6.Giới Thân Túc Luận (Dhatukaya): 3 cuốn do Thế Hữu viết sauPhật Niết-bàn 300 năm [*]
7.Phát Trí Luận (Janna Prasthana, A-tỳ-đàm Bát-kiền-độ Luận):20 cuốn do Ca-chiên-diên tử (Katyayaniputra - Ca-na-diễn-ni tử)viết sau Phật Niết-bàn 300 năm.

[*]Có trước Đại Tỳ Bà Sa . Có giá trị nhất trong các luậnkhác thời đó . Sau đệ tử thấy nhiều mới gom lại thànhGiới Thân Túc Luận.

Bảybộ luận này, bộ Phát Trí gọi là Thân Luận, còn sáu bộkia gọi là Túc Luận, vì nó là chỗ dựa cho luận Phát Tríđược thành, và vì nghĩa lý chứa đựng trong nó ít ỏi khôngbằng nghĩa lý trong Phát Trí Luận rộng hơn. Trong đó ba bộviết ra lúc đức Phật còn tại thế, bốn bộ viết ra saukhi Phật Niết-bàn. Ngoài bảy bộ luận cơ bản này, Hữubộ còn có các luận thư để quảng diễn nghĩa lý các bộtrên như:

- LuậnÐại Tỳ-bà-sa (Mahavibhasa) 200 cuốn, là kết quả của Ðạihội Kiết tập lần thứ tư vào giữa thế kỷ 2 T.L tại Ca-thấp-di-la(Kasmir, Kế Tân) do các ngài Thế Hữu, Diệu Âm, Giác Thiên,Pháp Cứu, Hiếp Tôn Giả chủ trì với sự ủng hộ tận lựccủa vua Ca-nị-sắc-ca (Kaniska). Bộ này quảng diễn giáo nghĩacủa luận Phát Trí.

- A-tỳ-đàmTâm Luận (Abhidharmahridaya) do Pháp Thắng (Ðạt-ma-thi-la) tạovào thế kỷ 6 sau Phật Niết-bàn (đầu thế kỷ 3 T.L), toátyếu Ðại Tỳ-bà-sa Luận.

- TạpA-tỳ-đàm Tâm Luận (Samyutara Abhidhar-mahridaya) do đệ tử củangài Pháp Thắng là Pháp Cứu (Tăng-già-bạt-ma) tạo vào thếkỷ 7 sau Phật diệt độ (đầu thế kỷ 4 T.L) nhằm làm rõnghĩa trong A-tỳ-đàm Tâm Luận, vì cho A-tỳ-đàm Tâm Luậnquá giản lược.

- Câuxá Luận (Abhidharma Kosa) do Thế Thân (Vasubhandhu) tạo vào 900năm sau Phật diệt độ (đầu thế kỷ 5 T.L), 30 cuốn.

- ThuậnChánh Lý Luận: 80 cuốn, do Chúng Hiền đồng thời Thế Thântạo, nhằm bác lại Câu-xá.

- HiểnTông Luận: 40 cuốn do Chúng Hiền tạo, nhằm nêu bật tôngnghĩa của Hữu bô.

- KinhLượng Bộ - Có Thành Thật Luận 20 cuốn.

Đ.CÁC LUẬN THƯ DO AI NÓI?

Theongài Phật Âm trong Nam phương Phật giáo thì cho rằng, sau khithành đạo, đức Phật ngồi tư duy dưới cội Bồ-đề, vàvề sau trong các buổi thuyết pháp cho thân mẫu trên cung trờèao-lợi, chính đức Phật đã nói sáu bộ luận đầu trongbảy luận thư thuộc Thượng tọa bộ. Sáu luận thư này đãđược hình thành tại Ðại hội Kiết tập lần thứ ba, cònbộ Luận Sự thứ bảy do Mục-kiền-liên tử Ðế-tu làm rakhoảng 200 năm sau Phật Niết-bàn, nhưng cũng do lời Phậtchú ký mà làm, nên về quan hệ vẫn được xem như do chínhPhật nói. Trái lại, về phía Bắc phương Phật giáo thì chorằng các luận thư A-tì-đàm không phải do Phật nói mà làdo các đệ tử Phật nói trong các thời gian khác nhau, hoặctrong lúc Phật tại thế, hoặc sau khi Phật Niết-bàn. Quanđiểm của Bắc phương sát với sự thật hơn.

-ooOoo-

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
25/10/2014(Xem: 30322)
Trong bất cứ một cộng đồng nào đều có nhiều tầng lớp khác nhau, nhiều chủng loại con người khác nhau sống cùng trong đó, thì chắc chắn luôn có sự hiện diện của nhiều mặt tư tưởng khác nhau, phát sinh nhiều vấn đề liên quan. Vì vậy để gìn giữ một cuộc sống yên bình cho một cộng đồng, con người phải có nhiều phương pháp để hòa giải mọi sự khác biệt. Xuyên suốt trong lịch sử của loài người, đã có rất nhiều lời đề xuất để giải quyết, thậm chí phải sử dụng đến phương sách bạo động, chẳng hạn như chiến tranh, xung đôt nhằm giải quyết sự khác biệt.
20/10/2014(Xem: 56146)
Đa số Phật tử Việt Nam thường chỉ học hỏi Phật pháp qua truyền thống Trung Hoa; ít ai để ý đến sự sai biệt căn để giữa khởi nguyên của Phật giáo từ Ấn Độ và những khai triển của Trung Hoa. Người Ấn vốn có thái độ coi thường lịch sử; “bởi vì chư thiên yêu thương cái gì tăm tối”*, họ đẩy tất cả những gì xảy ra lui vào bóng tối mịt mù của thần thoại. Riêng Phật tử Ấn cổ thời, với lý tưởng cứu cánh là Niết Bàn, mọi biến cố lịch sử cũng không bận tâm cho lắm. Ngược lại, người Trung Hoa có thái độ lịch sử một cách xác thiết.
23/09/2014(Xem: 7066)
Đa số người nghe, trong kinh Phật nói "xem thân như huyễn hóa", cho là tâm trạng bi quan, yếm thế. Trái lại, nhà Phật thấy thân như huyễn hóa là sức mạnh để làm lợi ích chúng sanh. Như nói "Bồ-tát lấy thân như huyễn, độ chúng hữu tình như huyễn", bởi Bồ-tát thấy thân hình không thật, nên sẵn sàng lăn xả vào làm việc lợi ích chúng sanh, dù gặp khó khăn nguy hiểm cũng không ngán sợ, vì thân như huyễn, có mất cũng không gì quan trọng. Thấy chúng hữu tình như huyễn, nên độ chúng sanh mà không chấp nhân, ngã. Thấy thân như huyễn, khiến người ta mạnh mẽ lên, không còn hãi sợ, trước vạn vật biến thiên mà tâm hồn mình vẫn an nhiên tự tại... Ta hãy nghe bài kệ của Thiền sư Vạn Hạnh:
18/08/2014(Xem: 74621)
108 lời dạy của Đức Đạt-lai Lạt-ma được gom góp trong quyển sách tuy bé nhỏ này nhưng cũng đã phản ảnh được một phần nào tư tưởng của một con người rất lớn, một con người khác thường giữa thế giới nhiễu nhương ngày nay. Thật vậy tư tưởng của Ngài có thể biểu trưng cho toàn thể lòng từ bi và trí tuệ Phật Giáo trên một hành tinh mà con người dường như đã mất hết định hướng. Các sự xung đột không hề chấm dứt, con người bóc lột con người, giết hại muôn thú và tàn phá thiên nhiên. Phật giáo thường được coi như là một tín ngưỡng nhưng những lời khuyên của Đức Đạt-lai Lạt-ma trong quyển sách này vượt lên trên khuôn khổ hạn hẹp của một tôn giáo: - "Mỗi khi phải đề cập đến các vấn đề tâm linh thì không nhất thiết là tôi buộc phải nói đến các vấn đề liên quan đến tôn giáo (câu 87).
17/08/2014(Xem: 25178)
Tuy là những tích xưa, chuyện cổ, nhưng đối với người có óc quan sát sẽ rất là bổ ích, vì trong ấy chứa đựng những tư tưởng cao xa thâm thúy về triết lý đạo đức. Với người chịu dày công tìm hiểu, đạo lý không có gì là bí ẩn; với người biết suy xét, hiểu được đạo lý không phải là khó khăn. Sau khi xem những chuyện tích được sưu tập trong phần này, hy vọng độc giả sẽ có thể dễ dàng thấy được những ý nghĩa đạo lý đã có tự ngàn xưa, được ghi lại qua những câu chuyện rất thú vị, làm cho chúng ta vui thích.
15/08/2014(Xem: 15342)
Tánh biết tham lam vật chất ,ích kỷ,vị tha,nhân quả,,ăn năn ,sám hối, thương yêu, ghét bỏ, sợ hãi, buồn tênh, v.v… của muôn loài hữu tình chúng sinh nói chung, con người nói riêng được hiển lộ ra ngoài thân ở lời nói và hành động trong đời sống hằng ngày.Tánh biết này,được các nhà ngôn ngữ cổ đại Trung Quốc gọi là Tâm.Từ đó cho đến nay người Trung Quốc và Việt Nam đều nói là tâm, một khi đề cập đến sự biết của các loài hữu tình chúng sinh,và con người.
02/08/2014(Xem: 9434)
Vào thời xa xưa các luận sư Phật học quan niệm rằng không gian (hư không) là một pháp vô vi. Quan điểm này còn lưu lại trong tác phẩm ĐẠI THỪA BÁCH PHÁP MINH MÔN LUẬN (Mahāyāna-śatadharmavidyā-dvāra-śāstra) do thầy Thế Thân (Vasubandhu) ở vào thế kỷ thứ IV (~316-396) biên soạn. Nhưng theo Thiền sư Thích Nhất Hạnh thì Không gian không phải là một pháp vô vi bởi vì nó còn bị chi phối bởi thời gian, vật thể và tâm
10/06/2014(Xem: 7392)
(Tờ nguyệt san GEO là một tờ báo lâu đời của Pháp có chủ trương và nội dung rất gần với tờ nguyệt san nổi tiếng National Geographic của Hoa Kỳ; số báo 342, phát hành tháng 8 năm 2007, là một số đặc biệt dành cho Phật giáo với chủ đề “Đà phát triển mới của Phật giáo, trong số báo này có một bài phỏng vấn Đức Đạt Lai Lạt Ma. Ký giả ghi chép: Andreas Hilmer. Hoang Phong lược dịch và ghi chú)
18/03/2014(Xem: 23957)
Phật dạy bậc đại nhân có tám điều giác ngộ. Điều thứ nhất, giác ngộ cuộc đời là vô thường, vũ trụ mênh mông tạm bợ. Gốc của bốn đại vốn không thật, trống rỗng nhưng nếu chúng ta không biết, chấp nó là thật thì sẽ dẫn đến đau khổ. Tập hợp năm ấm là vô ngã, sinh diệt thay đổi không ngừng, không thật và không có chủ thể. Tâm này là cội nguồn phát sinh điều ác, thân này là nơi tích tụ tội lỗi. Người hay quán chiếu được như thế dần dần sẽ thoát khỏi sanh tử.
18/03/2014(Xem: 11966)
Luận Đại thừa Khởi tín của ngài Mã Minh nói: “Thể của tâm lìa tất cả niệm, nghĩa là vốn vô niệm. Nó như hư không, không chỗ nào mà chẳng toàn khắp. Pháp giới Một tướng này tức là Pháp thân bình đẳng của chư Như Lai. Pháp thân này tất cả chúng sanh vốn có, nên gọi là Bản giác”. Luận nói tiếp: “Thế nên chúng sanh nào quán sát vô niệm thì chúng sanh đó đã hướng về Trí Phật”.