Phải chăng hoằng pháp còn có ý nghĩa sâu xa khác ? Tìm kiếm, khám phá tài năng mới để truyền thừa và hợp tác ?

22/04/202507:53(Xem: 3426)
Phải chăng hoằng pháp còn có ý nghĩa sâu xa khác ? Tìm kiếm, khám phá tài năng mới để truyền thừa và hợp tác ?


Phat thuyet phap

Phải chăng hoằng pháp còn có ý nghĩa sâu xa khác ?

Tìm kiếm, khám phá tài năng mới để truyền thừa và hợp tác ?

Trong quá trình tiếp cận những vị đạo sư kính quý, người viết đã bao lần theo dõi từ ngày trên những chuyến hoằng pháp của quý Ngài hoặc trên đất Âu Châu, hay thi thoảng đến đất nước Hoa Kỳ để rồi đã tự hỏi : “Phải chăng việc hoằng pháp đòi hỏi sự chia sẻ và hợp tác giữa người nghe và người giảng?”
Vì sao vậy ?

Theo sự tham cứu người viết được biết : Chia sẻ là một đặc tính có sẵn trong mỗi con người chúng ta. Nó giúp chúng ta kết nối, tạo ra xã hội loài người, học hỏi lẫn nhau, phát triển, tăng cường tri thức thay đổi nhận thức xã hội tốt hơn, và thành công hơn trong cuộc đời ( Share là cách chúng ta dạy những gì chúng ta biết, thu nhận phản hồi củng cố kiến thức ta có và đồng thời giúp đỡ người khác (Information Acquisition).
 
Điều đặc biệt là chia sẻ kiến thức không phải một chiều mà là hiệu ứng tương tác vì khi chia sẻ kiến thức cho nhau cũng đồng nghĩa là chúng ta TỰ HỆ THỐNG LẠI THỨ TA ĐANG CÓ và quá trình chia sẻ giúp ta tạo cái mới rất nhiều.

Người chia sẻ không phải sợ rằng ai đó có thể lấy mọi thứ ta biết vì bản chất mọi người là khác nhau nên sự thu nạp và ứng dụng kiến thức rất đặc trưng và riêng biệt cho mỗi người

Và quan trọng hơn hết là người biết lắng nghe và đặt nhiều câu hỏi sẽ đem đến cho người thuyết giảng những thứ có thể họ chưa biết( vì kiến thức thì mênh mông vô hạn) và cả những ý tưởng mới và từ đó việc ra học qua học lại từ những trải nghiệm của đôi bên, sẽ là một thông tin đáng để tâm và mang lại chiều hướng nhìn nhận cho cách tư duy của mình về sau.
 
Hơn thế nữa chương trình hoằng pháp trong thời hiện đại công nghệ ngày nay còn cần phải khám phá ra những tài năng mới có kỹ năng hợp tác với tâm cao thượng để tiếp tục toả rạng ánh sáng đạo Từ Bi Trí Tuệ của đấng Toàn Giác Thích Ca Mâu Ni.

Vì rằng thế gian ngày nay rất cần để có được cái vô ngã, cái từ bi hỷ xả của Đức Phật thì thế gian này mới mong được an lành

Mặc dù trong thực tế trong Đạo và ngoài Đời người tài thuộc nhiều lĩnh vực rất nhiều, nhưng họ không chịu học hỏi nhau từ chính anh em cấp dưới có trình độ kiến thức và uy tín để cùng hợp tác về mọi khía cạnh khác trong lãnh vực họ có, để có thể chia sẻ, truyền trao những tư duy, công sức của mình dưới cái mác "thiên tài"

Còn một vấn đề khác nữa mà người phương Đông và Tây gặp nhau là : Dù ở thời gian nào, họ đều khắt khe với cái mới nhưng lại khá dễ dãi trong việc nhân nhượng với quá khứ, chấp nhận đồ cũ và tôn vinh người chết.

Tạm lấy một thí dụ minh chứng (ngoài lề trong lịch sử nước VN, ) hẳn chúng ta thường thấy những cá nhân xuất sắc có tư duy sáng tạo thường phải chuốc lấy thảm hoạ như Nguyễn Trải ( trí tuệ và tinh thần sáng tạo vô song của ông: Nguyễn Trãi là tác giả Dư địa chí, cuốn sách khoa học đầu tiên, là người làm ra "quốc thiều" và Cáo bình Ngô..., nhưng trên hết, ông là cha đẻ của văn học dân tộc bằng tiếng Việt.)

Thử mời xem câu đối của thi hào Nguyễn Trải khi thăm danh làm thắng cảnh CHÙA HOA YÊN ( ở núi Yên Tử ) rồi hạ bút trong vài phút :

“Vũ Trụ nhãn cùng thương Hải ngoại
Tiếu đàm nhân tại Bích Vân Trung”

Dịch là : Đưa mắt nhìn vũ trụ giống như nhìn suốt ngoài biển khơi, còn khi nói cười thì người giống như đang ở trên mây.
Có ai hiểu ngầm ý rằng Đất nước VN xứng danh là Giang Sơn Cẩm Tú, nhưng rồi thì chuyện đời trải qua cũng chỉ là giấc mơ thôi.
Riêng trở lại những tài năng mới, phải nói rằng trong nhịp sống thời đại công nghệ, áp lực của người trẻ giống như một vận động viên chưa với tay đến điểm vạch chiến thắng được. Họ cứ chạy miệt mài mà không biết bao giờ sẽ tìm thấy vạch cuối cùng.

Trộm nghĩ nhiệm vụ Hoằng pháp là luôn theo đúng tôn chỉ mục đích của chính pháp, đồng thời vận dụng một cách “khế lý, khế cơ” về hiện thực cuộc sống trên hai phương diện lý thuyết và thực hành, giúp cho người Phật tử có đời sống tâm linh ngày một thăng hoa, lấy lý tưởng giác ngộ soi sáng cho tư duy và hành động.

Thì với vai trò người con Phật đang tu tập để tự tạo cho mình một lối sống tốt đẹp và lành mạnh. Mỗi một cá nhân chúng ta cần chú trọng trang bị và cải thiện kỹ năng hợp tác trong cuộc sống hàng ngày.

Không phải kỹ năng này chỉ quan trọng trong các môi trường làm việc hiện đại ( nơi mà các dự án thường đòi hỏi sự phối hợp giữa nhiều người) nhưng trong môi trường học tập Đạo Pháp, kỹ năng hợp tác giữa người nghe và người thuyết giảng lại cũng rất quan trọng vì khả năng làm việc sẽ hiệu quả hơn để đạt được mục tiêu chung.
Một số đặc điểm của kỹ năng hợp tác tốt bao gồm:
  • Giao tiếp rõ ràng và hiệu quả - Chia sẻ thông tin, lắng nghe và trao đổi ý tưởng một cách rõ ràng.
  • Tôn trọng các quan điểm khác nhau - Tôn trọng và xem xét quan điểm của mọi thành viên trong nhóm.
  • Chia sẻ mục tiêu chung - Tập trung vào mục tiêu chung của nhóm hơn là mục tiêu cá nhân.
  • Tinh thần đồng đội - Hỗ trợ và giúp đỡ các thành viên khác trong nhóm.
  • Giải quyết xung đột - Xử lý bất đồng và xung đột một cách lành mạnh và tích cực.
  • Chia sẻ trách nhiệm - Chấp nhận trách nhiệm chung về kết quả của nhóm.
  • Tinh thần thích nghi linh hoạt - Sẵn sàng điều chỉnh phương pháp tiếp cận khi cần thiết
Lời kết :

Như vậy với sứ mệnh hoằng truyền giáo pháp, lợi lạc quần sinh; mục đích đem chân lý của đạo Phật đến với mọi người, góp phần phát huy mọi giá trị văn hóa đạo đức tốt đẹp của đạo Phật vào đời sống xã hội, xây dựng cuộc sống an lành và hạnh phúc,

Phải chăng ban hoằng pháp Hải ngoại ngày nay cũng đang tìm kiếm và khám phá những tài năng mới luôn có chí nguyện Hộ trì chánh pháp, lợi lạc hữu tình, phát huy tư tưởng trong sáng, tích cực và đa dạng của giáo lý Phật giáo.

Dù rằng ai cũng hiểu được có khi một thiên tài không đảm bảo cho một tương lai thành công. Mà thật ra : “Thành công thực sự đến từ những nỗ lực, sự chăm chỉ làm việc.”
Khi chúng ta lần đầu gặp gỡ hoặc nghe về một người thành công, thật dễ dàng để tin rằng họ phải được sinh ra trong những điều kiện tuyệt vời nhất, nhưng có ai biết rằng không như truyền thông thường tán dương, sự thật đã minh chứng rằng, không có những người thành công nào tìm thấy thành công và được công nhận ngay lập tức. 

Mà thành quả đó là kết quả của bao năm nghiên cứu học hỏi bằng sự kiên trì và làm việc chăm chỉ.( điển hình gương của HT Thích Như Điển Phương Trượng chùa Viên Giác, và nhiều thành viên khác trong đoàn …)

Kính xin mượn lời văn hào Victor Hugo để kết thúc bài viết về kỹ năng hợp tác và chia sẻ kiến thức khi được hữu duyên học tập về đạo Phật và có cơ hội tiếp cận với những cao tăng hiền nhân giảng dạy : “ Mỗi một đặc trưng của con người là một đặc trưng của văn minh, một mẫu mực của tiến bộ, tình cảm bình đẳng và tâm hồn bác ái ( trích tác phẩm 93 của Victor Hugo)

Và cũng kính xin mượn lời Đức Khổng Tử để khuyến khích những tài năng mới có chí nguyện tìm Phật :
“Chẳng lo buồn khi người khác không hiểu mình, Nên lo làm sao có năng lực để người khác biết mình —- Chẳng  lo buồn vì không địa vị, chỉ nên lo không đủ tài để xứng với địa vị ấy”—Khổng Tử 
Kính chúc những nhà hoằng pháp hiện đại luôn tiếp tục tỏa sáng lòng nhiệt huyết vĩ đại trong việc truyền thừa kinh điển Phật pháp tới quảng đại quần chúng giúp mọi người thấm nhuần giáo pháp Phật Đà và kính chúc quý Ngài Phước Trí nhị nghiêm, thân tâm thường lạc.

Kính đảnh lễ tri ân, 

Sydney 5/4/2025 ngày mùng tám tháng ba âm lịch Ất Tỵ

Phật tử Huệ Hương
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
14/12/2022(Xem: 5850)
Đạo đức và Luân lý chẳng những là nền tảng của mọi tôn giáo, mà còn là nền tảng của mọi xã hội loài người. Một xã hội sẽ không hoạt động hoặc phát triển nếu không có Đạo đức và Luân lý; nó sẽ không chịu nổi sự hỗn loạn và bạo lực. Đạo đức và Luân lý cũng đóng vai trò là hệ thống giá trị mà từ đó luật pháp và công lý được hình thành, cùng với các định nghĩa của chúng ta về đúng và sai. Một hệ thống Đạo đức và Luân lý không chỉ tạo ra hòa bình và trật tự trên thế giới này, nó còn cung cấp một mục đích trong cuộc sống. Sống có Đạo đức và Luân lý cho chúng ta cảm giác thành một ơn gọi cao hơn có thể mang bản chất tâm linh, cho phép chúng ta trải nghiệm sự siêu việt vượt qua những cám dỗ vật chất trần tục.
02/11/2022(Xem: 35625)
Đức Phật thuyết giảng giáo nghĩa Đại thừa vì tám lý do, được nêu lên ở trong bài kệ của Đại thừa trang nghiêm kinh luận: "Bất ký diệc đồng hành Bất hành diệc thành tựu Thể, phi thể, năng trị Văn dị bát nhân thành". Bài kệ này nêu lên tám lý do, tám bằng chứng kinh điển Đại thừa là do đức Phật nói chứ không phải là ai khác. Hàng Thanh văn không đủ khả năng để nói đến kinh điển Đại thừa. Hàng Duyên giác không có khả năng để nói đến kinh điển Đại thừa. Bồ tát cũng chưa đủ sự toàn giác để nói kinh điển Đại thừa. Còn đối với ngoại đạo thì đương nhiên không thể nói được một từ nào ở trong kinh điển Đại thừa. Có nhiều vị cố chấp, thiên kiến nói rằng kinh điển Đại thừa do ngoại đạo tuyên thuyết; nói như vậy là hồ đồ, không có luận cứ. Tu tập đến cỡ như hàng Thanh văn, hàng Duyên giác mà còn không nói được kinh điển Đại thừa thì làm gì cái đám ngoại đạo chấp ngã, chấp trước, chấp danh, chấp lợi mà nói được kinh điển Đại thừa. Cho nên nói kinh điển Đại thừa do ngoại đạo nói, đó
02/11/2022(Xem: 34749)
Bấy giờ, tôi khoảng chín tuổi, một hôm đi xem đưa đám tang ông Võ Hờ trong xóm, thấy mọi người đi sau đám tang đều khóc nức nở và tức tối. Thấy họ khóc, tôi cũng khóc, nhưng bấy giờ tôi không biết tại sao tôi lại khóc như vậy.
31/10/2022(Xem: 24458)
SOTAPATTI, quả vị Dự lưu, là cấp bậc đầu tiên trong bốn cấp bậc giác ngộ được đề cập trong Phật giáo Sơ kỳ. Tên gọi của quả vị nầy là từ ý nghĩa của một hành giả nhập vào dòng chảy không thối chuyển (sotāpanna, thánh Dự lưu) đưa đến giải thoát hoàn toàn. Dòng chảy nầy chính là đường thánh tám chi (Bát chi Thánh đạo, SN 55:5, kinh Sāriputta), là dòng sông hướng đến Niết-bàn cũng giống như sông Hằng chảy ra biển cả (SN 45:91, kinh Phương đông). Thời gian cần thiết để dòng sông nầy tiến đến mục tiêu tối hậu là tối đa bảy kiếp sống, không kiếp nào tái sinh trong cõi giới thấp hơn cõi người (SN 55:8, kinh Giảng đường bằng gạch).
29/10/2022(Xem: 21523)
Nhận tin nhắn trễ trên Viber sau khi đã ra khỏi nhà, và mãi đến trưa con mới trở về nên con chỉ nghe lại bài phỏng vấn này do TT Thích Nguyên Tạng có nhã ý cho chúng đệ tử học hỏi thêm giáo lý Phật Pháp trước khi Ngài trở về trú xứ Hoa Kỳ sau 3 tuần tham dự Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư và Lễ Mừng 32 năm Khai Sơn Tu Viện Quảng Đức, vào trước giờ có pháp thoại của Tổng Vụ Hoằng Pháp và Giáo Dục của Giáo Hội Úc Châu cùng ngày. Tuy nhiên với sự ngưỡng mộ của con đối với bậc cao tăng trí tuệ viên minh, diệu huyền thông đạt như Ngài, mà những lời Ngài trình bày qua những kinh nghiệm tu chứng hành trì, hạnh giải tương ưng thu thập được trong suốt hơn 46 năm qua đã khiến con phấn chấn tu tập hơn, hầu đạt được mục đích tối cao mà Đức Phật đã truyền trao nên con đã nghe lại đôi lần vào hôm nay để có thể uống được cam lồ qua những lời đáp trao đổi Phật Pháp. Thành kính tri ân TT Thích Nguyên Tạng và HT Thích Đồng Trí và kính xin phép cho con chia sẻ lại những gì con đã học được.
13/07/2022(Xem: 21771)
Phải nói là khi nhận được tin TT Giảng Sư Thích Nguyên Tạng sẽ có bài pháp thoại giảng tại Thiền Lâm Pháp Bảo hôm nay (12/7/2022) lại vừa nghe tin tức mưa lớn và lụt tràn về Sydney mấy ngày qua, thế mà khi nhìn vào màn ảnh livestream lại thấy khuôn viên thiền môn trang nghiêm thanh tịnh quá, dường như thời tiết khí hậu chẳng hề lay động đến nơi chốn này, nơi đang tập trung những người con cầu tiến muốn hướng về một mục đích mà Đức Phật hằng mong chúng ta đạt đến : Vô Sanh để thoát khỏi vòng sinh tử .
15/06/2022(Xem: 17866)
Tôi thật chưa tìm ra cuốn nào như cuốn này, tác giả viết từ những năm 50s, hữu duyên được dịch ra tiếng Việt vào những năm 80s… Tìm lại được bản thảo sau khoảng 33 năm (2021). Tốn thêm một năm hiệu đính trên đường ta bà, gọt dũa lại.
01/02/2022(Xem: 54242)
48 Đại Nguyện của Đức Phật A Di Đà (loạt bài giảng của TT Thích Nguyên Tạng trong mùa dịch cúm Covid-19)
17/11/2021(Xem: 43583)
Nghiệp, phổ thông được hiểu là quy luật nhân quả. Nhân quả cũng chỉ là mối quan hệ về tồn tại và tác dụng của các hiện tượng tâm và vật trong phạm vi thường nghiệm. Lý tính của tất cả mọi tồn tại được Phật chỉ điểm là lý tính duyên khởi.266F[1] Lý tính duyên khởi được nhận thức trên hai trình độ khác nhau. Trong trình độ thông tục của nhận thức thường nghiệm, quan hệ duyên khởi là quan hệ nhân quả. Chân lý của thực tại trong trình độ này được gọi là tục đế, nó có tính quy ước, lệ thuộc mô hình cấu trúc của các căn hay quan năng nhận thức. Nhận thức về sự vật và môi trường chung quanh chắc chắn loài người không giống loài vật. Trong loài người, bối cảnh thiên nhiên và xã hội tạo thành những truyền thống tư duy khác nhau, rồi những dị biệt này dẫn đến chiến tranh tôn giáo.
14/11/2021(Xem: 39827)
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn ngự tại xứ Sāvatthi, gần đến ngày an cư nhập hạ suốt ba tháng trong mùa mưa, chư Tỳ khưu từ mọi nơi đến hầu đảnh lễ Đức Thế Tôn, xin Ngài truyền dạy đề mục thiền định, đối tượng thiền tuệ thích hợp với bản tánh của mỗi Tỳ khưu. Khi ấy, có nhóm năm trăm (500) Tỳ khưu, sau khi thọ giáo đề mục thiền định xong, dẫn nhau đến khu rừng núi thuộc dãy núi Himavantu, nơi ấy có cây cối xanh tươi, có nguồn nước trong lành, không gần cũng không xa xóm làng, chư Tỳ khưu ấy nghỉ đêm tại đó. Sáng hôm sau, chư Tỳ khưu ấy dẫn nhau vào xóm làng để khất thực, dân chúng vùng này khoảng một ngàn (1.000) gia đình, khi nhìn thấy đông đảo chư Tỳ khưu, họ vô cùng hoan hỉ, bởi vì những gia đình sống nơi vùng hẻo lánh này khó thấy, khó gặp được chư Tỳ khưu. Họ hoan hỉ làm phước, dâng cúng vật thực đến chư Tỳ khưu xong, bèn bạch rằng: – Kính bạch chư Đại Đức Tăng, tất cả chúng con kính thỉnh quý Ngài an cư nhập hạ suốt ba tháng mùa mưa tại nơi vùng này, để cho tất cả chúng con có