02. Ojai, 8 tháng năm 1982

14/07/201100:46(Xem: 4942)
02. Ojai, 8 tháng năm 1982

J. KRISHNAMURTI
BÀN VỀ SỢ HÃI [ON FEAR]
Lời dịch: ÔNG KHÔNG – 2009 –
HarperSanFrancisco, A Division of HarperCollinsPublishers

PHẦN I

Ojai, 8 tháng năm 1982

Người ta hỏi tại sao những con người đã sống trên quả đất này trong hàng triệu năm, rất thông minh phần công nghệ, lại không vận dụng sự thông minh của họ để được tự do khỏi vấn đề rất phức tạp của sợ hãi này, mà có lẽ là một trong những lý do cho chiến tranh, cho giết chết một người khác. Và những tôn giáo khắp thế giới đã không giải quyết vấn đề; những đạo sư, những đấng cứu rỗi, những lý tưởng cũng không giải quyết được. Vì vậy rất rõ ràng rằng không tác nhân bên ngoài – dù được thăng hoa đến chừng nào, dù được mọi người biết đến bởi sự tuyên truyền đến chừng nào – không tác nhân bên ngoài nào có thể giải được quyết vấn đề sợ hãi của con người này.

Bạn đang thăm dò, bạn đang tìm hiểu, bạn đang đào sâu toàn vấn đề của sợ hãi. Và chúng ta có lẽ đã quá chấp nhận khuôn mẫu của sợ hãi đến độ thậm chí chúng ta không muốn chuyển động khỏi nó. Vì vậy sợ hãi là gì? Những nhân tố góp phần tạo ra sợ hãi là gì? Giống như nhiều con suối nhỏ, những con lạch nhỏ mà tạo thành khối nước khổng lồ của một con sông; những con suối nhỏ mà tạo ra sợ hãi là gì? Cái nguồn có sức sống mãnh liệt của sợ hãi. Một trong những nguyên nhân của sợ hãi là so sánh? Tự-so sánh mình với người nào đó? Chắc chắn đúng là vậy. Vậy là, liệu bạn có thể sống cuộc sống của bạn mà không so sánh với bất kỳ người nào? Bạn hiểu rõ câu hỏi của tôi chứ? Khi bạn so sánh chính bạn với một người khác, thuộc học thuyết, thuộc tâm lý, hay thậm chí thuộc thân thể, có sự khao khát để trở thành người đó; và có sợ hãi rằng có lẽ bạn không thực hiện được. Nó là sự ham muốn để đạt được và bạn có lẽ không thể đạt được. Nơi nào có so sánh phải có sợ hãi.

Và thế là người ta phải hỏi liệu có thể sống mà không có một so sánh, không bao giờ so sánh, liệu bạn đẹp đẽ hay xấu xí, ngay thẳng hay không ngay thẳng, phỏng chừng chính bạn đến lý tưởng nào đó, đến khuôn mẫu nào đó của những giá trị. Có sự so sánh liên tục này đang xảy ra. Chúng ta đang hỏi, đó là một trong những nguyên nhân của sợ hãi? Chắc chắn. Và nơi nào có so sánh phải có tuân phục, phải có bắt chước. Vì vậy chúng ta đang nói rằng so sánh, tuân phục, và bắt chước, là những nguyên nhân góp phần cho sợ hãi. Liệu người ta có thể sống mà không so sánh, bắt chước hay tuân phục thuộc tâm lý? Dĩ nhiên người ta có thể. Nếu đó là những nhân tố góp phần vào sợ hãi, và bạn quan tâm đến sự kết thúc sợ hãi, vậy thì phía bên trong không so sánh, mà có nghĩa không trở thành. Chính ý nghĩa của so sánh là trở thành điều gì bạn suy nghĩ là tốt lành hơn, cao thượng hơn, cao cả hơn, và vân vân. Vì vậy so sánh là trở thành. Đó là một trong những nhân tố của sợ hãi? Bạn phải tự-khám phá nó cho chính bạn. Vậy thì nếu đó là những nhân tố, nếu cái trí đang thấy những nhân tố đó như đang gây ra sợ hãi, chính sự trực nhận những nhân tố đó kết thúc những nguyên nhân góp phần cho sợ hãi. Nếu có một nguyên nhân vật chất mà làm cho bạn bị đau bao tử, có một kết thúc của đau đớn đó qua khám phá nguyên nhân của nó. Tương tự, nơi nào có bất kỳ nguyên nhân có một kết thúc.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22/12/2016(Xem: 47632)
Tất cả chúng ta đều biết rằng lời Phật dạy trong 45 năm, sau khi Ngài đắc đạo dưới cội cây Bồ Đề tại Gaya ở Ấn Độ, đã để lại cho chúng ta một gia tài tâm linh đồ sộ qua khẩu truyền cũng như bằng văn tự. Kể từ đó đến nay, con Người vĩ đại ấy và giáo lý thậm thâm vi diệu của Ngài đã vượt ra khỏi không gian của xứ Ấn và thời gian trải dài suốt 26 thế kỷ từ Á sang Âu, từ Âu sang Mỹ, từ Mỹ sang Úc, Phi Châu v.v… Như vậy đủ để cho chúng ta thấy rằng giáo lý ấy đã khế hợp với căn cơ của mọi người, dầu tu theo truyền thống Nam truyền hay Bắc truyền và ngay cả Kim Cang Thừa đi nữa cũng là những cổ xe đang chuyên chở mọi người đi đến con đường giải thoát của sanh tử luân hồi.
13/11/2016(Xem: 13531)
Khi bàn về Phật giáo, học giả Lương Khải Siêu đã nói: “Phật giáo là trí tín, không phải mê tín, là kiêm thiện chứ không phải độc thiện, là nhập thế chứ không phải yếm thế”. Lương Khải Siêu tiên sinh bác cổ thông kim, học thông cả cổ Trung và Tây phương, giữ một địa vị khả kính trong giới học giả. Lời nói của ông phải có căn cứ trên phương diện học lý. Thế thì căn cứ ấy là gì? Lẽ dĩ nhiên là ở trong Tam tạng giáo điển của đạo Phật. Vì mục đích của Phật Pháp là mong con người chuyển mê thành ngộ, chuyển ngu thành trí, và chuyển phàm thành Thánh chứ không gì khác.
27/08/2016(Xem: 10522)
Thức A-lại-da không phải là linh hồn. Đạo Phật bác bỏ không có linh hồn tồn tại trong một bản thể muôn loài hữu tình chúng sanh. Thức A-lại-da, là cái biết linh diệu của muôn loài, trong đó có loài người là tối thượng hơn tất cả. Cho nên Thức A-lại-da là con người thật của con người, chứ thể xác không phải là con người thật vì sau khi xác thân con người nói riêng, muôn loài chúng sanh nói chung bị chết đi, xác thịt sẽ bị bỏ lại, rồi từ từ tan rã thành đất, cát, tro, bụi bay tứ tung trong không gian, không thể mang theo qua bên kia cõi chết. Duy chỉ còn lại một mình thức A- lại-da ra đi và tồn tại trong một bản thể nào đó bên kia cõi chết.
27/08/2016(Xem: 7318)
Định nghĩa. Thực tại, nghĩa là nơi chốn, chỗ, vị trí, cũng có tên không gian. Không gian, nói một cách tổng thể, là bề mặt của vũ trụ từ bao la, rộng lớn, cho đến hạn hẹp đối với mỗi con người chúng ta đang có mặt ở một nơi nào đó, như tại : bãi biển, bờ đê, quán cà phê, phòng ngủ, phòng ăn, sân chùa, chánh điện, trong chợ, trên đoạn đường xa lộ, bãi đậu xe (parking), v.v…Trên mặt của toàn thể vũ trụ đều có vô số vạn hữu (cỏ, cây, muôn thú), và con người, gọi chung chư pháp. Kinh văn Phật nói: “Thật tướng của vạn hữu (chư pháp) là vô ngã “. Q
30/04/2016(Xem: 24156)
Pháp Thân tiếng Sanscrit là Dharmakaya, tiếng Nhật là Hosshimbutsu, tiếng Pháp là Corps d’essence. Đó là nói về Chơn Thân, Đạo Thể, thể của Pháp Tánh. Pháp Thân của Phật có 4 Đức: Thường, Lạc, Ngã, Tịnh (4 Đức Ba La Mật). Nó không mắc vào tứ khổ (Sanh, Lão, Bệnh, Tử). Nó không lớn, không nhỏ, không trắng, không đen, không có Đạo, không vô Đạo, nó tự nhiên trường tồn, không thay đổi. Dầu Phật có ra đời hay không thì nó cũng như vậy mãi.
24/04/2016(Xem: 48671)
Qua mạng Amazon.com, tôi đặt mua cuốn sách tiếng Anh “In The Buddha’s Words” của Bhikkhu Bodhi ngay sau khi xuất bản năm 2005. Đọc sơ qua phần đầu rồi để đó. Mỗi lần đi đâu, tôi mang theo để đọc từ từ vài trang, trong lúc chờ đợi, trước khi đi ngủ. Cứ thế dần dần qua năm tháng. Rồi cũng không thẩm thấu được bao nhiêu.
26/01/2016(Xem: 19026)
Niết Bàn, tiếng Sanscrit là Nirvãna, phiên âm thành Niết-bàn-na. Cũng gọi là Nê-hoàn, Nê-bạn. Đó là cảnh trí của nhà tu hành dứt sạch các phiền não và tự biết rằng mình chẳng còn luyến ái. Niết (Nir): là ra khỏi, thoát ra, giải thoát. Bàn hay Bàn-na (vana): Rừng. Tức là ra khỏi cảnh rừng mê tối, rừng phiền não.
15/01/2016(Xem: 15676)
Dưới đây là phần chuyển ngữ của một bài viết trong quyển "Người phụ nữ" ("Les Femmes", nhiều tác giả, nhà xuất bản de l'Atelier, 2002), thuộc một bộ sách với chuyên đề "Các tôn giáo nghĩ gì?" (Ce qu'en pensent les religions). Tác giả bài viết này là Dominique Trotignon, nguyên tổng giám đốc Viện Nghiên Cứu Phật Học (IEB/Institut d' Etude Bouddhique) của Pháp, tu tập theo Phật giáo Theravada.
04/09/2015(Xem: 15689)
Pháp Tánh hay Pháp Tính có rất nhiều tên ví dụ như Thật Tướng Chân Như, Pháp Giới Tính, … Xin ghi ra đây trích đoạn bằng tiếng Anh để dễ so sánh, tìm ra ý nghĩa của nó. Pháp Tánh:
24/07/2015(Xem: 23218)
Tập sách này không phải là một tiểu luận về tâm lý học nên không thể bao quát hết mọi vấn đề nhân sinh, mục đích của nó nói lên sự tương quan của Ý, Tình, Thân và tiến trình phiền não...