06. Đại ý kinh Dược sư

11/01/201115:24(Xem: 8483)
06. Đại ý kinh Dược sư

THC BIN
Hòa thượng Thích Thiện Siêu
Nhà Xuất Bản TP. HCM, 2003

ĐẠI Ý KINH DƯỢC SƯ

Đức Từ phụ Thích-ca Mâu-ni của chúngta xuất hiện giữa thế giới Ta bà ác trược này, hóa thân tu hành chánh đạo chứngquả Bồ-đề, kiến lập đạo tràng thanh tịnh, nói vô lượng pháp môn chánh đáng, bảnhoài của Ngài là để cứu độ chúng sinh thoát vòng sanh, lão, bệnh, tử. Chẳngnhững Thích-ca như vậy, mà đức Phật A-di-đà hiện thân vào thế giới Tây gây dựngpháp tràng, nói pháp độ chúng sinh và đức Phật Dược Sư cũng hiện thân ở thếgiới Tịnh lưu ly phương Đông nói pháp độ chúng sinh, thoát vòng khổ não, anhưởng cảnh tịnh độ trong đời sau.

Nhưng xét đến chúng ta và các chúngsinh nhiều kiếp nhẫn lại đây chịu khổ luân hồi chỉ vì sanh tử: vì sanh tử màlàm chúng sinh, vì sanh tử mà đời trước làm trời nay trở lại làm người, nayhiện làm người mà sau lại làm trời, cho đến làm chúng sinh, địa ngục, ngạ quỷ,súc sanh, cho nên chúng sinh ba cõi rất lo sợ về sanh tử và cho sanh tử là mộtsự việc lớn lao khó giải quyết nhất. Chỉ có đức Phật thoát khỏi ngoài vòng sanhtử mới biết cách giải quyết được mà thôi.

Vì mục đích giúp cho chúng sinh giảiquyết sanh tử, nên trong thời giáo của đức Thích-ca, Ngài đều tùy căn cơ củachúng sinh nói nhiều pháp khác nhau và pháp ấy được chia làm nhiều hạng loại.Ngài vì hàng Nhân thừa mà nói ngũ giới, thập thiện để đối trị tội ngũ nghịch,thập ác. Vì chư Thiên mà nói bốn Thiền, tám định, đối trị bệnh tán loạn. Vìhàng Thanh văn, Duyên giác mà nói Tứ đế, Thập nhị nhân duyên để dứt trừ tham,sân, si, giải thoát sanh tử. Vì các hàng Bồ-tát dạy tu lục độ, vạn hạnh để dứttrừ vô minh hoặc và cứu độ chúng sinh... Đó là giáo pháp Phật dạy nhưng phải tựtu, tự chứng, bởi vì chúng sinh khởi niệm điên đảo gây ra nhiều đều tội lỗi, bềtrong đầy nghiệp chướng tham sân, kiêu mạn, bề ngoài bị nhiều tai nạn: đau ốm,đói rách, hình phạt điên cuồng. Khi sống mà tội lỗi tai ương như vậy, đến khigần chết bao nhiêu tư tưởng xấu đều phát khởi, cảnh giới khổ đau hiện bà, khóăn năn kịp. Cho nên, những người muốn luôn được hưởng cảnh an lành thì một làphải tự lực tạo nhơn lành, hai là nhờ lực hộ trì mới đặng.

Mà tha lực ấy là thật.

Lâu nay phần nhiều chuyên lo về việctiếp dẫn vãng sanh trong lúc lâm chung, nên thường tụng kinh Di-đà, niệm hiệuA-di-đà và công việc gì làm xong cũng cầu nguyện khi lâm chung nhờ Phật tiếpdẫn về cõi Cực lạc phương Tây.

Còn trong lúc sống thì chúng tathường bị ngoại duyên làm não hại, không thể không nhờ Phật hộ niệm mà đặng anlành, nên xin nhắc lại đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai là một đức Phậtphát nguyện cứu độ chúng sanh trong khi các chúng sinh ấy còn sống mà gặp cáctai nạn. Nói đến đức Dược Sư tức là lược nói kinh Dược Sư Lưu Ly Quang Như Laibổn nguyện công đức vậy.

Kinh Dược Sư này là một phương phápứng dụng hiện thời cho hết thảy chúng sinh ở cõi Ta-bà này, không luận hạngngười nào, ai cũng muốn sống lâu và muốn khỏi tai nạn để vui vầy ăn ở, thì cầnphải nhờ oai tạo tâm lành, vượt vòng ác kiến ma đạo mà tránh khỏi các tai nạn.

Kinh này là phương pháp tạo thànhcảnh Tịnh độ. Các đức Phật đều phát tâm rộng lớn tu hành cầu chứng Phật quả,phát nguyện rộng lớn cứu độ chúng sinh, mà cảm thành thế giới anlạc như đứcDược Sư nói trong kinh này. Nếu chúng ta tu hành mà phát nguyện độ sanh nhưNgài, một người tu như vậy, cho đến nhiều người cũng tu hành phát nguyện nhưNgài thì chắc chắn hiện tiền trong thế giới của chúng ta đang sống bớt tai nạnbinh đao, thậm chí không còn móng khởi tâm độc ác giết hại lẫn nhau, khôngnhững ít người chết yểu mà còn sống lành mạnh, bớt bịnh tật, cho đến sống lâuvô lượng, không còn nghe tiếng rên rỉ, than van của kẻ nghèo khổ, tật nguyềnv.v. tức là thiết lập thế giới Cực lạc ở tại cõi đời này vậy.

Do đó, đức Phật Thích-ca mới nóikinh Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai bổn nguyện công đức này. Thuộc đời Đường, TamTạng Pháp sư Huyền Trang dịch từ Phạn ra Hoa văn, xin tóm tắt như sau:

Kinh Văn chia ra làm ba phần:

Phần duyênkhởi
Phần chánh tông.
Phần lưu thông.

A. Phần duyên khởi

Một khi Phật với các đồ chúng: Támngàn vị Tỷ-kheo, Ba mươi sáu ngàn vị đại Bồ-tát cùng các vị quốc vương, cư sĩ,trời, người, ở trong thành Quảng Nghiêm. Phật theo lời thưa thỉnh củaMạn-thủ-thất-lợi (Văn-thù Bồ-tát) mà nói kinh này.

B. Phần chánh tông

Đoạn thứ nhất Ngài Mạn-thù-thất-lợidùng sức đại trí cầu chứng Phật đạo mà thỉnh Phật nói kinh này. Như trong kinhnói:

- Thưa Thế Tôn! Xin nguyện vì chúngcon mà diễn nói chủng loại danh hiệu và bổn nguyện công đức thù thắng của đứcPhật.

Đoạn thứ hai Ngài Mạn-thù-thất-lợiphát tâm đại bi giúp ích cho vô lượng chúng sinh mà thỉnh nói kinh này, vì thếnên Phật khen: "Hay thay, hay thay! Mạn-thù-thất-lợi. Ông vì lòng đại bidứt trừ nghiệp chướng trói buộc cho chúng sinh và làm lợi ích an vui cho cácloài hữu tình trong các đời tượng pháp sau này mà khuyến thỉnh Như lai diễn nóidanh hiệu và bổn nguyện công đức chư Phật".

Nhơn bổn ý của Mạn-thù-thất-lợi thưathỉnh lên, Phật mới vì ngài Mạn- thù và vì ích lợi chúng sinh đời sau mà nói rõquốc độ, bổn nguyện công đức của đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như lai.

Phương Đông cách đây mưòi hằng sacõi Phật có thế giới gọi là Tịnh lưu ly rất trang nghiêm tốt đẹp; cung điệnbáu, bảy lớp hàng cây, ao sen báu, nước tám công đức v.v. đều do bảy món báutạo thành, thường thường tiếng nước chảy, tiếng chim kêu, tiếng cây rung, gióthổi đều diễn bày các phép tu hành và cõi ấy không có đàn bà con gái, không cótên ác đạo hoặc người thọ khổ. Tóm lại cõi ấy đều đủ các thứ công đức trangnghiêm, không khác cõi Cực lạc A-di-đà, nên Phật nói: "Cũng như thế giớiCực lạc phương Tây đủ công đức trang nghiêm không sai khác".

Lại nữa, trong cõi Tịnh lưu ly cóhai vị Bồ-tát lớn: Nhật Quang và Biến Chiếu thường giúp đức Dược Sư trong lúcNgài tu tập theo hạnh Bồ- tát đã phát 12 lời nguyện mà được cảm thành:

1. Nguyện khi Ta thành đạo Bồ-đề,thân đầy đủ ba mươi hai tướng tốt, hào quang sáng khắp vô lượng thế giới, khiếncác chúng sinh cũng được như Ta.

2. Nguyện khi Ta thành Phật, trongngoài sáng chói hơn ánh sáng mặt trời, tự tại làm Phật, khiến các chúng sinh ởchỗ tối tăm đều nhờ ơn khai thị.

3. Nguyện khi Ta thành Phật, đầy đủvô lượng phương tiện trí tuệ, làm cho chúng sinh đầy đủ các món thọ dụng nơithân tâm.

4. Nguyện khi Ta thành Phật, nếu cácchúng sinh tu theo tà đạo đều xoay về chánh đạo, hàng Nhị thừa thì đều hướng vềNhất thừa.

5. Nguyện khi Ta thành Phật, nếu cóchúng sinh theo giáp pháp của Ta mà tu hành, thì đều được hoàn hảo, dù có phạmgiới mà nghe đến tên Ta thì cũng trở thành thanh tịnh giới khỏi phải sa vào ácđạo.

6. Nguyện khi Ta thành Phật, nếuchúng sinh nào có thân thể hèn yếu hay xấu sa, đui điếc hay câm ngọng, một phennghe tên Ta, niệm tên Ta thì được khỏi bệnh, lại được tốt đẹp khôn ngoan

7. Nguyện khi Ta thành Phật, nếu cóchúng sinh không bà con thân thuộc, nghèo thiếu ốm đau, không ai giúp đỡ, mànghe được tên Ta thì thân tâm yên lành quyến thuộc giúp đỡ cho, đến chứng đạoBồ-đề.

8. Nguyện khi Ta thành Phật, các nữnhân thường bị khinh dể thấp kém, nếu nghe được tên Ta thì bỏ thân nữ nhân,thành tướng trượng phu cho đến chứng quả.

9. Nguyện khi Ta thành Phật, thì cácchúng sinh thoát vòng ma đạo ác kiến, về nơi chánh đạo, tu Bồ-tát hạnh mauchứng đạo Bồ-đề.

10. Nguyện khi Ta thành Phật, nếuchúng sinh bị pháp vua trừng trị, trói buộc đánh đập, giam vào ngục tối, cắt xẻv.v. mà nghe tên Ta thì đều thoát khỏi.

11. Nguyện khi Ta thành Phật, nhữngchúng sinh bị đói khát, cầu ăn mà tạo nghiệp dữ, nếu nghe tên Ta, chuyên niệmthọ trì, thì Ta trước hết cấp cho món ăn được no đủ, sau nói pháp khiến họ tuhành được hoàn toàn an vui.

12. Nguyện khi Ta thành Phật, nhữngchúng sinh nghèo không có áo mặc, muỗi mòng chích đốt, nóng lạnh, ngày đêm khổsở, nếu nghe tên Ta chuyên niệm thọ trì, thì Ta theo tâm mong cầu ấy khiến đượcđầy đủ y phục hoa hương.

Đó là lược kể 12 bổn nguyện của đứcDược Sư, nhưng còn bao nhiêu công đức tu hành của Ngài thì không thể nói hết.Nên Phật nói: "Đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai trong khi tu Bồ-táthạnh phát đại nguyện và công đức trang nghiêm của cõi Phật kia. Như lai dẫu hơnmột kiếp cũng không thể nói cùng được".

Vì nguyện lực như vậy, công đức tuhành như vậy, nên hễ chúng sinh ngu si, không tin việc thiện ác nhân quả tầmthường xen lẩn. Không bố thí cho ai, nếu có bố thí cho ai, nếu có bố thí chútít thì tâm thầm tiếc khổ sở như dao cắt xẻ thân... nhưng đã từng nghe danh hiệuđức Dược Sư thì dầu ở trong đuờng khổ cũng như ở sanh cõi người mà tu hành bốthí, dầu bỏ thân mạng cũng không thương tiếc.

Hoặc có người phá giới luật, oainghi, tâm kiêu mạn, bài bác Chánh pháp sẽ bị đoạ trong ba đường dữ, nếu nghetên đức Phật Dược Sư tức thì bỏ các hạnh xấu ác mà tu theo chánh pháp, cho đếnchúng sinh muốn sanh cõi trời, sanh làm chuyển luân thánh vương để đem thậpthiện dạy đời, muốn tiêu trừ bệnh tật, thọ mạng lâu dài, nếu nghe danh hiệu đứcDuợc Sư, chuyên tâm trì niệm kinh chú hoặc tạo tượng Dược Sư, dâng cúng hoahương tươi tốt tịnh tâm trì tụng kinh chú, đốt 49 ngọn đèn, hoặc để tâm chúnguyện vào trong vật uống ăn của người bệnh, tụng chú Dược Sư Quán đảnh chơnngôn 108 lần để cho họ dùng, nhất là 49 ngày ấy phải nhất tâm thọ trì 8 điềugiới trai, thân thường sạch sẽ, tâm thường vui vẻ, đối với các loài chúng sinh,khởi tâm từ giúp đỡ, khởi tâm bi cứu vớt, khởi tâm bình đẳng bố thí cho cácloài hữu tình, không làm tổn hại bất cứ chúng sinh nào và không khi nào giậnhờn... được như vậy trong tâm tự mình đã xoay đổi được tâm tàn ác độc hại, thìbao nhiêu tai chướng, những cảnh khốn khổ đều theo tâm ấy mà chuyển thành cảnhgiới toàn thiện, toàn mỹ, hằng ngày lại được các vị thiên Thần ủng hộ và nhờoai thần nguyện lực của đức Dược Sư mà cầu lành bệnh, cầu sống lâu đều được thoảnguyện.

Vì rằng đức Phật Dược Sư Lưu LyQuang Như Lai đã trải qua nhiều kiếp phát đại nguyện độ sanh, tu Bồ-tát hạnh,trong thời gian lâu xa ấy, Ngài dứt sạch những nghiệp chướng, báo chướng vàphiền não chướng, là một vị Pháp vương, không bị bất cứ một điều gì làm naonúng, những hạnh nguyện độ sanh luôn luôn cảm ứng với chúng sinh, nên tùy ýsanh vào những cảnh khổ, tối tăm làm một vị Luơng y dùng các phương tiện cứugiúp chúng sinh thoát vòng thân bệnh, nói pháp mẫu để cứu chúng sinh ra khỏivòng tâm bệnh... Do vậy, tùy theo hết thảy chúng sinh phát tâm nguyện cầsu mànguyện lực của Phật vẫn cảm ứng trùm khắp tất cả.

C. Phần lưu thông

Khi Phật nói kinh này rồi cả thínhchúng, Bồ-tát, Tỷ-kheo đều vui mừng và vâng giữ.

Chú Dược Sư quán đảnh chơn ngôn:

Nam mô, Bạt già phạt đế, bệ xát xãlũ rô-bệ lưu ly bát lạc bà - hát ra xà dã, đát tha yết đa dã - a ra hất đết,tam miệu tam bột đà da, đát điệt tha. Án, bệ sát thệ, bệt sát thệ, bệ sát xã -tam một yết đế, ta ha.

Nam-mô Dược Sư hội thượng PhậtBồ-tát.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20/04/2023(Xem: 24722)
Học đạo quý vô tâm Làm, nghĩ, nói không lầm Sáng trong và lặng lẽ Giản dị mới uyên thâm
15/04/2023(Xem: 7036)
Đức Phật thuyết rằng đừng vội tiếp thu những điều gì Ngài dạy, chỉ dựa vào tín ngưỡng, thay vào đó, hãy nghiệm chứng nó bằng logic học và xác thực, giống như việc kiểm nghiệm vàng
15/04/2023(Xem: 8233)
Chuyên mục khám phá những điểm tương đồng giữa kim ngôn khẩu ngọc giáo huấn của Đức Phật và các khía cạnh khác nhau của công nghệ đương đại là Nguyệt san thảo luận về lĩnh vực hệ thống – thường được gọi là Tư duy hệ thống ‘khía cạnh lý thuyết’ (cách nhìn tổng thể, có tính đa chiều và mục tiêu) và Kỹ thuật hệ thống ‘khía cạnh phát triển thực tế’
12/04/2023(Xem: 11297)
Tôi muốn chia sẻ về mối quan hệ tôn giáo và xã hội hiện đại. Vì bản tính tự nhiên, mỗi cá nhân đều có sự cảm nhận về tự ngã. Từ đó, mỗi cá nhân đều trải qua các hiện tượng mà họ nhận thức được bằng cảm giác thống khổ, cảm xúc vui sướng hay yên tĩnh. Đây là sự thật, không cần phải trình bày tỉ mỉ nữa. Động vật cũng thế. Vì bản tính tự nhiên, tất cả chúng ta đều muốn đạt được an lạc hạnh phúc, không muốn thống khổ và bất hạnh. Ta khỏi cần phải chứng minh điều này. Trên cơ sở này, chúng ta đàm luận về quyền của mọi người được hưởng cuộc sống an lạc hạnh phúc, quyền vượt qua mọi thống khổ.
22/03/2023(Xem: 12370)
Năm 2011, chuyên mục này đã đưa ra một số chủ đề lớn, từ những phương pháp hay nhất, dành cho tăng đoàn Phật giáo với khoa học công nghệ best practices with technology for sanghas, đến việc khám phá các mối quan hệ giữa sự thật khoa học thần kinh và Phật pháp relationship between truth, neuroscience, and the Dharma. Sau đó, chúng tôi đề cập đến tính hai mặt dưới góc nhìn khoa học thần kinh duality in light of neuroscience, và bắt đầu chỉ ra những lợi ích của việc xây dựng một lý thuyết khoa học về sự văn minh a scientific theory of enlightenment. Bởi thắc mắc này đang đưa ra những chủ đề mới dịp đầu xuân này, có lẽ tôi nên nhấn mạnh điều gì đó.
18/03/2023(Xem: 18205)
Tây phương Kinh tế học có thể bị chỉ trích bởi dựa trên sự hợp lý hóa hành vi cạnh tranh, tối đa hóa lợi nhuận vì lợi ích của một nhóm nhỏ, phụ thuộc vào sự cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và sự suy thoái môi trường chung của chúng ta. Trong khi đó, Kinh tế học Phật giáo được hình thành dựa trên sự tương tác phụ thuộc lẫn nhau của con người và môi trường, do đó mang lại sự an lạc hạnh phúc dựa trên từ bi tâm đối với tất cả chúng sinh. Mục tiêu của nó là duy sự phát triển bền vững gắn liền bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu hiện nay, đồng thời khẳng định sự thịnh vượng chung và mang đến sự an lạc thịnh đạt cho người lao động, khách hàng, cổ đông và xã hội.
18/03/2023(Xem: 13066)
Công nghệ phát triển thay đổi cuộc sống con người, tuy nhiên sẽ thật ngây thơ khi tin rằng công nghệ chỉ mang lại lợi ích mà không phải trả giá. Một chủ đề lặp đi lặp lại trong lịch sử là sự ra đời của các công cụ và cơ bản công nghệ đổi mới, sẽ thay đổi cách chúng ta nhìn nhận bản thân và thế giới, cũng như trong đó có vai trò của chúng ta. Từ sự phát triển động cơ hơi nước, hàng không, xử lý máy tính và gần đây hơn là trí tuệ nhân tạo (AI), các công cụ và công nghệ đã cải thiện phúc lợi đáng kể và năng suất của con người nhưng không nhất thiết là phúc lợi của con người và các hệ sinh thái của thế giới.
03/02/2023(Xem: 19019)
Đã có rất nhiều tài liệu đề cập về Thiền bao gồm Thiền Định, Thiền Chỉ, Thiền Quán, Thiền Tọa, Thiền Hành, Thiền Phàm Phu, Thiền Ngoại Đạo, Thiền Tiểu Thừa, Thiền Trung Thừa, Thiền Đại Thừa, Thiền Tối Thượng Thừa...Tất cả đều là những sắc thái, tướng trạng, hiện tượng và tác động từ tâm thức chúng ta trong ý hướng tu tập trên đường giải thoát, giác ngộ Phật đạo. Sự giác ngộ giải thoát nơi Phật Đạo, tuy nhiên, lại quá phong phú, đa diện với sắc thái tâm thức rất sâu xa vi tế nên dù Phật tánh
31/01/2023(Xem: 24377)
Kinh Châu Báu, thuộc kinh điển Nam Truyền, Tiểu Bộ Kinh, là một bài kinh Hộ Trì hay Cầu An, do Đức Phật Thích Ca nói ra khi Ngài được thỉnh đến thành Vesali, dân chúng đang chịu ba thứ nạn, nạn dịch bệch, nạn đói và nạn Phi Nhân. Dân chúng ở đây cầu mong nhờ ân đức cao trọng của Đức Phật, nhờ Phật Lực mà các hoạn nạn được tiêu trừ.
07/01/2023(Xem: 14736)
Phương pháp phát triển cá nhân mà nhà sư Sangharakshita nói đến trong bài này là phép thiền định của Phật giáo, một phép luyện tập nhằm biến cải một con người bình dị trở thành một con người đạo đức, sáng suốt và cao quý hơn, và ở một cấp bậc sâu xa hơn nữa còn có thể giúp con người đạo đức, sáng suốt và cao quý ấy thoát ra khỏi thế giới hiện tượng luôn trong tình trạng chuyển động và khổ đau này.