06. Đại ý kinh Dược sư

11/01/201115:24(Xem: 8816)
06. Đại ý kinh Dược sư

THC BIN
Hòa thượng Thích Thiện Siêu
Nhà Xuất Bản TP. HCM, 2003

ĐẠI Ý KINH DƯỢC SƯ

Đức Từ phụ Thích-ca Mâu-ni của chúngta xuất hiện giữa thế giới Ta bà ác trược này, hóa thân tu hành chánh đạo chứngquả Bồ-đề, kiến lập đạo tràng thanh tịnh, nói vô lượng pháp môn chánh đáng, bảnhoài của Ngài là để cứu độ chúng sinh thoát vòng sanh, lão, bệnh, tử. Chẳngnhững Thích-ca như vậy, mà đức Phật A-di-đà hiện thân vào thế giới Tây gây dựngpháp tràng, nói pháp độ chúng sinh và đức Phật Dược Sư cũng hiện thân ở thếgiới Tịnh lưu ly phương Đông nói pháp độ chúng sinh, thoát vòng khổ não, anhưởng cảnh tịnh độ trong đời sau.

Nhưng xét đến chúng ta và các chúngsinh nhiều kiếp nhẫn lại đây chịu khổ luân hồi chỉ vì sanh tử: vì sanh tử màlàm chúng sinh, vì sanh tử mà đời trước làm trời nay trở lại làm người, nayhiện làm người mà sau lại làm trời, cho đến làm chúng sinh, địa ngục, ngạ quỷ,súc sanh, cho nên chúng sinh ba cõi rất lo sợ về sanh tử và cho sanh tử là mộtsự việc lớn lao khó giải quyết nhất. Chỉ có đức Phật thoát khỏi ngoài vòng sanhtử mới biết cách giải quyết được mà thôi.

Vì mục đích giúp cho chúng sinh giảiquyết sanh tử, nên trong thời giáo của đức Thích-ca, Ngài đều tùy căn cơ củachúng sinh nói nhiều pháp khác nhau và pháp ấy được chia làm nhiều hạng loại.Ngài vì hàng Nhân thừa mà nói ngũ giới, thập thiện để đối trị tội ngũ nghịch,thập ác. Vì chư Thiên mà nói bốn Thiền, tám định, đối trị bệnh tán loạn. Vìhàng Thanh văn, Duyên giác mà nói Tứ đế, Thập nhị nhân duyên để dứt trừ tham,sân, si, giải thoát sanh tử. Vì các hàng Bồ-tát dạy tu lục độ, vạn hạnh để dứttrừ vô minh hoặc và cứu độ chúng sinh... Đó là giáo pháp Phật dạy nhưng phải tựtu, tự chứng, bởi vì chúng sinh khởi niệm điên đảo gây ra nhiều đều tội lỗi, bềtrong đầy nghiệp chướng tham sân, kiêu mạn, bề ngoài bị nhiều tai nạn: đau ốm,đói rách, hình phạt điên cuồng. Khi sống mà tội lỗi tai ương như vậy, đến khigần chết bao nhiêu tư tưởng xấu đều phát khởi, cảnh giới khổ đau hiện bà, khóăn năn kịp. Cho nên, những người muốn luôn được hưởng cảnh an lành thì một làphải tự lực tạo nhơn lành, hai là nhờ lực hộ trì mới đặng.

Mà tha lực ấy là thật.

Lâu nay phần nhiều chuyên lo về việctiếp dẫn vãng sanh trong lúc lâm chung, nên thường tụng kinh Di-đà, niệm hiệuA-di-đà và công việc gì làm xong cũng cầu nguyện khi lâm chung nhờ Phật tiếpdẫn về cõi Cực lạc phương Tây.

Còn trong lúc sống thì chúng tathường bị ngoại duyên làm não hại, không thể không nhờ Phật hộ niệm mà đặng anlành, nên xin nhắc lại đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai là một đức Phậtphát nguyện cứu độ chúng sanh trong khi các chúng sinh ấy còn sống mà gặp cáctai nạn. Nói đến đức Dược Sư tức là lược nói kinh Dược Sư Lưu Ly Quang Như Laibổn nguyện công đức vậy.

Kinh Dược Sư này là một phương phápứng dụng hiện thời cho hết thảy chúng sinh ở cõi Ta-bà này, không luận hạngngười nào, ai cũng muốn sống lâu và muốn khỏi tai nạn để vui vầy ăn ở, thì cầnphải nhờ oai tạo tâm lành, vượt vòng ác kiến ma đạo mà tránh khỏi các tai nạn.

Kinh này là phương pháp tạo thànhcảnh Tịnh độ. Các đức Phật đều phát tâm rộng lớn tu hành cầu chứng Phật quả,phát nguyện rộng lớn cứu độ chúng sinh, mà cảm thành thế giới anlạc như đứcDược Sư nói trong kinh này. Nếu chúng ta tu hành mà phát nguyện độ sanh nhưNgài, một người tu như vậy, cho đến nhiều người cũng tu hành phát nguyện nhưNgài thì chắc chắn hiện tiền trong thế giới của chúng ta đang sống bớt tai nạnbinh đao, thậm chí không còn móng khởi tâm độc ác giết hại lẫn nhau, khôngnhững ít người chết yểu mà còn sống lành mạnh, bớt bịnh tật, cho đến sống lâuvô lượng, không còn nghe tiếng rên rỉ, than van của kẻ nghèo khổ, tật nguyềnv.v. tức là thiết lập thế giới Cực lạc ở tại cõi đời này vậy.

Do đó, đức Phật Thích-ca mới nóikinh Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai bổn nguyện công đức này. Thuộc đời Đường, TamTạng Pháp sư Huyền Trang dịch từ Phạn ra Hoa văn, xin tóm tắt như sau:

Kinh Văn chia ra làm ba phần:

Phần duyênkhởi
Phần chánh tông.
Phần lưu thông.

A. Phần duyên khởi

Một khi Phật với các đồ chúng: Támngàn vị Tỷ-kheo, Ba mươi sáu ngàn vị đại Bồ-tát cùng các vị quốc vương, cư sĩ,trời, người, ở trong thành Quảng Nghiêm. Phật theo lời thưa thỉnh củaMạn-thủ-thất-lợi (Văn-thù Bồ-tát) mà nói kinh này.

B. Phần chánh tông

Đoạn thứ nhất Ngài Mạn-thù-thất-lợidùng sức đại trí cầu chứng Phật đạo mà thỉnh Phật nói kinh này. Như trong kinhnói:

- Thưa Thế Tôn! Xin nguyện vì chúngcon mà diễn nói chủng loại danh hiệu và bổn nguyện công đức thù thắng của đứcPhật.

Đoạn thứ hai Ngài Mạn-thù-thất-lợiphát tâm đại bi giúp ích cho vô lượng chúng sinh mà thỉnh nói kinh này, vì thếnên Phật khen: "Hay thay, hay thay! Mạn-thù-thất-lợi. Ông vì lòng đại bidứt trừ nghiệp chướng trói buộc cho chúng sinh và làm lợi ích an vui cho cácloài hữu tình trong các đời tượng pháp sau này mà khuyến thỉnh Như lai diễn nóidanh hiệu và bổn nguyện công đức chư Phật".

Nhơn bổn ý của Mạn-thù-thất-lợi thưathỉnh lên, Phật mới vì ngài Mạn- thù và vì ích lợi chúng sinh đời sau mà nói rõquốc độ, bổn nguyện công đức của đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như lai.

Phương Đông cách đây mưòi hằng sacõi Phật có thế giới gọi là Tịnh lưu ly rất trang nghiêm tốt đẹp; cung điệnbáu, bảy lớp hàng cây, ao sen báu, nước tám công đức v.v. đều do bảy món báutạo thành, thường thường tiếng nước chảy, tiếng chim kêu, tiếng cây rung, gióthổi đều diễn bày các phép tu hành và cõi ấy không có đàn bà con gái, không cótên ác đạo hoặc người thọ khổ. Tóm lại cõi ấy đều đủ các thứ công đức trangnghiêm, không khác cõi Cực lạc A-di-đà, nên Phật nói: "Cũng như thế giớiCực lạc phương Tây đủ công đức trang nghiêm không sai khác".

Lại nữa, trong cõi Tịnh lưu ly cóhai vị Bồ-tát lớn: Nhật Quang và Biến Chiếu thường giúp đức Dược Sư trong lúcNgài tu tập theo hạnh Bồ- tát đã phát 12 lời nguyện mà được cảm thành:

1. Nguyện khi Ta thành đạo Bồ-đề,thân đầy đủ ba mươi hai tướng tốt, hào quang sáng khắp vô lượng thế giới, khiếncác chúng sinh cũng được như Ta.

2. Nguyện khi Ta thành Phật, trongngoài sáng chói hơn ánh sáng mặt trời, tự tại làm Phật, khiến các chúng sinh ởchỗ tối tăm đều nhờ ơn khai thị.

3. Nguyện khi Ta thành Phật, đầy đủvô lượng phương tiện trí tuệ, làm cho chúng sinh đầy đủ các món thọ dụng nơithân tâm.

4. Nguyện khi Ta thành Phật, nếu cácchúng sinh tu theo tà đạo đều xoay về chánh đạo, hàng Nhị thừa thì đều hướng vềNhất thừa.

5. Nguyện khi Ta thành Phật, nếu cóchúng sinh theo giáp pháp của Ta mà tu hành, thì đều được hoàn hảo, dù có phạmgiới mà nghe đến tên Ta thì cũng trở thành thanh tịnh giới khỏi phải sa vào ácđạo.

6. Nguyện khi Ta thành Phật, nếuchúng sinh nào có thân thể hèn yếu hay xấu sa, đui điếc hay câm ngọng, một phennghe tên Ta, niệm tên Ta thì được khỏi bệnh, lại được tốt đẹp khôn ngoan

7. Nguyện khi Ta thành Phật, nếu cóchúng sinh không bà con thân thuộc, nghèo thiếu ốm đau, không ai giúp đỡ, mànghe được tên Ta thì thân tâm yên lành quyến thuộc giúp đỡ cho, đến chứng đạoBồ-đề.

8. Nguyện khi Ta thành Phật, các nữnhân thường bị khinh dể thấp kém, nếu nghe được tên Ta thì bỏ thân nữ nhân,thành tướng trượng phu cho đến chứng quả.

9. Nguyện khi Ta thành Phật, thì cácchúng sinh thoát vòng ma đạo ác kiến, về nơi chánh đạo, tu Bồ-tát hạnh mauchứng đạo Bồ-đề.

10. Nguyện khi Ta thành Phật, nếuchúng sinh bị pháp vua trừng trị, trói buộc đánh đập, giam vào ngục tối, cắt xẻv.v. mà nghe tên Ta thì đều thoát khỏi.

11. Nguyện khi Ta thành Phật, nhữngchúng sinh bị đói khát, cầu ăn mà tạo nghiệp dữ, nếu nghe tên Ta, chuyên niệmthọ trì, thì Ta trước hết cấp cho món ăn được no đủ, sau nói pháp khiến họ tuhành được hoàn toàn an vui.

12. Nguyện khi Ta thành Phật, nhữngchúng sinh nghèo không có áo mặc, muỗi mòng chích đốt, nóng lạnh, ngày đêm khổsở, nếu nghe tên Ta chuyên niệm thọ trì, thì Ta theo tâm mong cầu ấy khiến đượcđầy đủ y phục hoa hương.

Đó là lược kể 12 bổn nguyện của đứcDược Sư, nhưng còn bao nhiêu công đức tu hành của Ngài thì không thể nói hết.Nên Phật nói: "Đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai trong khi tu Bồ-táthạnh phát đại nguyện và công đức trang nghiêm của cõi Phật kia. Như lai dẫu hơnmột kiếp cũng không thể nói cùng được".

Vì nguyện lực như vậy, công đức tuhành như vậy, nên hễ chúng sinh ngu si, không tin việc thiện ác nhân quả tầmthường xen lẩn. Không bố thí cho ai, nếu có bố thí cho ai, nếu có bố thí chútít thì tâm thầm tiếc khổ sở như dao cắt xẻ thân... nhưng đã từng nghe danh hiệuđức Dược Sư thì dầu ở trong đuờng khổ cũng như ở sanh cõi người mà tu hành bốthí, dầu bỏ thân mạng cũng không thương tiếc.

Hoặc có người phá giới luật, oainghi, tâm kiêu mạn, bài bác Chánh pháp sẽ bị đoạ trong ba đường dữ, nếu nghetên đức Phật Dược Sư tức thì bỏ các hạnh xấu ác mà tu theo chánh pháp, cho đếnchúng sinh muốn sanh cõi trời, sanh làm chuyển luân thánh vương để đem thậpthiện dạy đời, muốn tiêu trừ bệnh tật, thọ mạng lâu dài, nếu nghe danh hiệu đứcDuợc Sư, chuyên tâm trì niệm kinh chú hoặc tạo tượng Dược Sư, dâng cúng hoahương tươi tốt tịnh tâm trì tụng kinh chú, đốt 49 ngọn đèn, hoặc để tâm chúnguyện vào trong vật uống ăn của người bệnh, tụng chú Dược Sư Quán đảnh chơnngôn 108 lần để cho họ dùng, nhất là 49 ngày ấy phải nhất tâm thọ trì 8 điềugiới trai, thân thường sạch sẽ, tâm thường vui vẻ, đối với các loài chúng sinh,khởi tâm từ giúp đỡ, khởi tâm bi cứu vớt, khởi tâm bình đẳng bố thí cho cácloài hữu tình, không làm tổn hại bất cứ chúng sinh nào và không khi nào giậnhờn... được như vậy trong tâm tự mình đã xoay đổi được tâm tàn ác độc hại, thìbao nhiêu tai chướng, những cảnh khốn khổ đều theo tâm ấy mà chuyển thành cảnhgiới toàn thiện, toàn mỹ, hằng ngày lại được các vị thiên Thần ủng hộ và nhờoai thần nguyện lực của đức Dược Sư mà cầu lành bệnh, cầu sống lâu đều được thoảnguyện.

Vì rằng đức Phật Dược Sư Lưu LyQuang Như Lai đã trải qua nhiều kiếp phát đại nguyện độ sanh, tu Bồ-tát hạnh,trong thời gian lâu xa ấy, Ngài dứt sạch những nghiệp chướng, báo chướng vàphiền não chướng, là một vị Pháp vương, không bị bất cứ một điều gì làm naonúng, những hạnh nguyện độ sanh luôn luôn cảm ứng với chúng sinh, nên tùy ýsanh vào những cảnh khổ, tối tăm làm một vị Luơng y dùng các phương tiện cứugiúp chúng sinh thoát vòng thân bệnh, nói pháp mẫu để cứu chúng sinh ra khỏivòng tâm bệnh... Do vậy, tùy theo hết thảy chúng sinh phát tâm nguyện cầsu mànguyện lực của Phật vẫn cảm ứng trùm khắp tất cả.

C. Phần lưu thông

Khi Phật nói kinh này rồi cả thínhchúng, Bồ-tát, Tỷ-kheo đều vui mừng và vâng giữ.

Chú Dược Sư quán đảnh chơn ngôn:

Nam mô, Bạt già phạt đế, bệ xát xãlũ rô-bệ lưu ly bát lạc bà - hát ra xà dã, đát tha yết đa dã - a ra hất đết,tam miệu tam bột đà da, đát điệt tha. Án, bệ sát thệ, bệt sát thệ, bệ sát xã -tam một yết đế, ta ha.

Nam-mô Dược Sư hội thượng PhậtBồ-tát.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
14/11/2021(Xem: 41941)
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn ngự tại xứ Sāvatthi, gần đến ngày an cư nhập hạ suốt ba tháng trong mùa mưa, chư Tỳ khưu từ mọi nơi đến hầu đảnh lễ Đức Thế Tôn, xin Ngài truyền dạy đề mục thiền định, đối tượng thiền tuệ thích hợp với bản tánh của mỗi Tỳ khưu. Khi ấy, có nhóm năm trăm (500) Tỳ khưu, sau khi thọ giáo đề mục thiền định xong, dẫn nhau đến khu rừng núi thuộc dãy núi Himavantu, nơi ấy có cây cối xanh tươi, có nguồn nước trong lành, không gần cũng không xa xóm làng, chư Tỳ khưu ấy nghỉ đêm tại đó. Sáng hôm sau, chư Tỳ khưu ấy dẫn nhau vào xóm làng để khất thực, dân chúng vùng này khoảng một ngàn (1.000) gia đình, khi nhìn thấy đông đảo chư Tỳ khưu, họ vô cùng hoan hỉ, bởi vì những gia đình sống nơi vùng hẻo lánh này khó thấy, khó gặp được chư Tỳ khưu. Họ hoan hỉ làm phước, dâng cúng vật thực đến chư Tỳ khưu xong, bèn bạch rằng: – Kính bạch chư Đại Đức Tăng, tất cả chúng con kính thỉnh quý Ngài an cư nhập hạ suốt ba tháng mùa mưa tại nơi vùng này, để cho tất cả chúng con có
13/11/2021(Xem: 24334)
“Bát Thánh Đạo” là phương pháp tu hành chơn chánh cao thượng đúng theo qui tắc Phật giáo mà đức Thế Tôn đã có lời ngợi khen là quí trọng hơn tất cả con đường tu hành, là con đường không thẳng cũng không dùn, không tham vui cũng không khắc khổ, vừa thành tựu các điều lợi ích đầy đủ đến hành giả, hiệp theo trình độ của mọi người. Cho nên cũng gọi là “TRUNG ĐẠO” (Majjhimapaṭipadā) là con đường giữa. Ví như đàn mà người lên dây vừa thẳng, khải nghe tiếng thanh tao, làm cho thính giả nghe đều thỏa thích. Vì thế, khi hành giả đã thực hành đầy đủ theo “pháp trung đạo” thì sẽ đạt đến bậc tối thượng hoặc chứng đạo quả trong Phật pháp không sai. Nếu duyên phần chưa đến kỳ, cũng được điều lợi ích là sự yên vui xác thật trong thân tâm, từ kiếp hiện tại và kết được duyên lành trong các kiếp vị lai. Tôi soạn, dịch pháp “Bát Thánh Đạo” này để giúp ích cho hàng Phật tử nương nhờ trau dồi trí nhớ và sự biết mình. Những hành giả đã có lòng chán nản trong sự luân hồi, muốn dứt trừ phiền não, để
08/11/2021(Xem: 27160)
Đây chỉ là chiếc thuyền nan, chưa tới bờ bên kia, vẫn còn đầy ảo tưởng chèo ra biển cả. Thân con kiến, chưa gột sạch đất cát, bò dưới chân Hy Mã Lạp Sơn, nghe tiếng vỗ của một bàn tay trên đỉnh cao. Chúng sinh mù, nếm nước biển, ngỡ bát canh riêu cá, Thế gian cháy, mải vui chơi, quên cảnh trí đại viên. Nắm vạt áo vàng tưởng như nắm lấy diệu quang, bay lên muôn cõi, theo tiếng nhạc Càn Thát Bà réo gọi về Tịnh Độ, ngửi mùi trầm Hương Tích, an thần phóng thoát. Con bướm mơ trăng Cực Lạc, con cá ngụp lặn dưới nước đuôi vàng như áo cà sa quẫy trong bể khổ, chờ thiên thủ thiên nhãn nghe tiếng sóng trầm luân vớt lên cõi Thanh văn Duyên giác. Những trang sách còn sở tri chướng của kẻ sĩ loanh quanh thềm chùa Tiêu Sơn tìm bóng Vạn Hạnh, mơ tiên Long Giáng lào xào bàn tay chú tiểu Lan trên đồi sắn.
07/11/2021(Xem: 28279)
Kinh Vô Lượng Nghĩa nói “vô lượng pháp từ một pháp mà sinh ra”. Ma Ha Chỉ Quán của Thiên Thai Trí Giả (538-597), quyển 5, nói: “Phật bảo các Tỳ-kheo, một pháp thâu nhiếp tất cả pháp, chính là Tâm”. Phổ môn là vô lượng giáo pháp. Vô lượng giáo pháp này cũng từ một giáo pháp mà sinh ra. Một giáo pháp phổ cập tất cả gọi là phổ môn. Chư Phật thuyết giáo thuận theo Tâm của chúng sinh. Giáo là những ngôn từ được thuyết ra cho những chúng sinh chưa thấu suốt. Pháp là những phương thức với nhiều tướng trạng giống nhau hoặc khác nhau. Tâm ý chúng sinh có bao nhiêu ngõ ngách thì giáo pháp có chừng ấy quanh co. Chư Phật dùng muôn vàn phương tiện khế cơ mang lại lợi ích cho chúng sinh. Ngài Xá Lợi Phất từng nói: “Phật dùng nhiều thứ nhân duyên và thí dụ, phương tiện ngôn thuyết như biển rộng khiến tâm người trong pháp hội được yên ổn, con nghe pháp ấy khiến lưới nghi dứt” là nghĩa trên vậy.
05/09/2021(Xem: 30928)
Bắt đầu gặp nhau trong nhà Đạo, người quy-y và người hướng-dẫn biết hỏi và biết tặng món quà pháp-vị gì cho hợp? Thực vậy, kinh sách man-mác, giáo-lý cao-siêu, danh-từ khúc-mắc, nghi-thức tụng-niệm quá nhiều – nghiêng nặng về cầu-siêu, cầu-an – không biết xem gì, tụng gì và nhất là nhiều người không có hoàn-cảnh, thỉnh đủ. Giải-đáp thực-trạng phân-vân trên, giúp người Phật-tử hiểu qua những điểm chính trong giáo-lý, biết qua sự nghiệp người xưa, công việc hiện nay và biết đặt mình vào sự rèn-luyện thân-tâm trong khuôn-khổ giác-ngộ và xử-thế, tôi biên-soạn cuốn sách nhỏ này. Cuốn sách nhỏ này không có kỳ-vọng cao xa, nó chỉ ứng theo nhu-cầu cần-thiết, mong giúp một số vốn tối-thiểu cho người mới vào Đạo muốn tiến trên đường tu-học thực-sự. Viết tại Sài-thành mùa Đông năm Mậu-tuất (1958) Thích-Tâm-Châu
23/07/2021(Xem: 33856)
Giữa tương quan sinh diệt và biển đổi của muôn trùng đối lưu sự sống, những giá trị tinh anh của chân lý bất diệt từ sự tỉnh thức tuyệt đối vẫn cứ thế, trơ gan cùng tuế nguyệt và vững chãi trước bao nổi trôi của thế sự. Bản thể tồn tại của chân lý tuyệt đối vẫn thế, sừng sững bất động dẫu cho người đời có tiếp nhận một cách nồng nhiệt, trung thành hay bị rũ bỏ, vùi dập một cách ngu muội và thô thiển bởi các luận điểm sai lệch chối bỏ sự tồn tại của tâm thức con người. Sự vĩnh cửu ấy phát xuất từ trí tuệ vô lậu và tồn tại chính bởi mục đích tối hậu là mang lại hạnh phúc chân thật cho nhân loại, giúp con người vượt thoát xiềng xích trói buộc của khổ đau. Tuỳ từng giai đoạn của nhân loại, có những giai đoạn, những tinh hoa ấy được tiếp cận một cách mộc mạc, dung dị và thuần khiết nhất; có thời kỳ những nét đẹp ấy được nâng lên ở những khía cạnh khác nhau; nhưng tựu trung cũng chỉ nhằm giải quyết những khó khăn hiện hữu trong đời sống con người và xã hội.
24/06/2021(Xem: 7628)
Lòng Từ bi là một giá trị phổ quát. Tranh đấu cho công bằng xã hội – nghĩa là bảo đảm quyền lợi và cơ hội bình đẳng cho tất cả mọi người – thường xuất phát từ sự phẫn nộ, thúc đẩy con người chống lại những bất công có hệ thống. Tôi tin rằng đấu tranh cho công bằng xã hội sẽ có hiệu quả tốt nhất nếu được kích hoạt bởi lòng từ bi. Nếu động lực đấu tranh cho công bằng xã hội của chúng ta là do lòng từ bi đích thực, chúng ta sẽ được tiếp thêm năng lượng để hoạt động tích cực hơn nhằm bảo đảm cho tất cả mọi người có được một phẩm chất đời sống xứng đáng. Tôi tin rằng nữ giới có thể đóng một vai trò đặc biệt trong việc đấu tranh cho công bằng xã hội bằng cách tu tập lòng từ bi và trí tuệ.
07/05/2021(Xem: 35900)
Phật Điển Thông Dụng - Lối Vào Tuệ Giác Phật, BAN BIÊN TẬP BẢN TIẾNG ANH Tổng biên tập: Hòa thượng BRAHMAPUNDIT Biên tập viên: PETER HARVEY BAN PHIÊN DỊCH BẢN TIẾNG VIỆT Chủ biên và hiệu đính: THÍCH NHẬT TỪ Dịch giả tiếng Việt: Thích Viên Minh (chương 11, 12) Thích Đồng Đắc (chương 1, 2) Thích Thanh Lương (chương 8) Thích Ngộ Trí Đức (chương 7) Thích Nữ Diệu Nga (chương 3, 4) Thích Nữ Diệu Như (chương 9) Đặng Thị Hường (giới thiệu tổng quan, chương 6, 10) Lại Viết Thắng (phụ lục) Võ Thị Thúy Vy (chương 5) MỤC LỤC Bảng viết tắt Bối cảnh quyển sách và những người đóng góp Lời giới thiệu của HT Tổng biên tập Lời nói đầu của Chủ biên bản dịch tiếng Việt GIỚI THIỆU TỔNG QUAN Giới thiệu dẫn nhập Giới thiệu về cuộc đời đức Phật lịch sử Giới thiệu về Tăng đoàn: Cộng đồng tâm linh Giới thiệu về các đoạn kinh của Phật giáo Thượng tọa bộ Giới thiệu về các đoạn kinh của Phật giáo Đại thừa Giới thiệu về các đoạn kinhcủa Phật giáo Kim cương thừa PHẦN I: CUỘC ĐỜI ĐỨC
29/11/2020(Xem: 22108)
“Ma” tiếng Phạn gọi là Mara, Tàu dịch là “Sát,” bởi nó hay cướp của công đức, giết hại mạng sống trí huệ của người tu. “Ma” cũng chỉ cho những duyên phá hoại làm hành giả thối thất đạo tâm, cuồng loạn mất chánh niệm, hoặc sanh tà kiến làm điều ác, rồi kết cuộc bị sa đọa. Những việc phát sanh công đức trí huệ, đưa loài hữu tình đến Niết-bàn, gọi là Phật sự. Các điều phá hoại căn lành, khiến cho chúng sanh chịu khổ đọa trong luân hồi sanh tử, gọi là Ma sự. Người tu càng lâu, đạo càng cao, mới thấy rõ việc ma càng hung hiểm cường thạnh. Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong "Niệm Phật Thập Yếu", Ma tuy nhiều, nhưng cốt yếu chỉ có ba loại: Phiền não ma, Ngoại ma và Thiên ma
04/11/2020(Xem: 15307)
Những chúng sanh thuộc hàng Thanh Văn: Các chúng sanh thuộc hàng Thanh Văn được chứng ngộ khi nghe được những học thuyết về các Uẩn, Giới, Xứ, nhưng lại không đặc biệt lưu tâm đến lý nhân quả. Họ giải thoát được sự trói buộc của các phiền não nhưng vẫn chưa đoạn diệt được tập khí của mình. Họ đạt được sự thể chứng Niết-Bàn, và an trú trong trạng thái ấy, họ tuyên bố rằng họ đã chấm dứt sự hiện hữu, đạt được đời sống Phạm hạnh, tất cả những gì cần phải làm đã được làm, họ sẽ không còn tái sinh nữa. Những vị nầy đã đạt được Tuệ kiến về sự Phi hiện hữu của “Ngã thể” trong một con người, nhưng vẫn chưa thấy được sự Phi hiện hữu trong các sự vật. Những nhà lãnh đạo triết học nào tin vào một "Đấng Sáng Tạo" hay tin vào “Linh hồn” cũng có thể được xếp vào đẳng cấp nầy.