Ân Phật.

08/04/201316:27(Xem: 5740)
Ân Phật.
Phat_Thich_Ca_5

Ân Phật

Thích nữ Tắc Phú

--- o0o ---

Phật tại thế thời ngã trầm luân

Kim đắc nhân thân Phật diệt độ

Áo não thử thân đa nghiệp chướng

Bất kiến Như Lai kim sắc thân.

Tạm dịch :

Khi Phật hiện đời con nổi trôi

Nay được thân người Phật diệt rồi

Buồn thay thân con nhiều nghiệp chướng

Chẳng thấy thân vàng Phật ở đời.

Chẳng biết tự bao giờ, bài thơ ấy đã in sâu vào trong tâm khảm của tôi. Mỗi lần nhắc lại, tôi không sao tránh khỏi niềm cảm xúc trào dâng. Nửa thương cho người xưa, nửa buồn cho thân mình cũng nhiều nghiệp chướng, tại gia cha mẹ chia lìa, anh em phân tán, xuất gia quá đỗi muộn màng ! Vì sao ?

Hồi ấy, quê tôi thuộc vùng biên địa, chùa chiền hiếm hoi, chung quanh đa phần là đạo Cao đài, xa thật xa mới có một ngôi chùa nhỏ, đơn độc mỗi vị Thầy cư trú, trên danh nghĩa ông Từ thắp hương hôm sớm, kinh điển chủ yếu tụng Huỳnh đình. Ngày 30 tháng 04 năm 1975, Cách mạng đổi đời, chùa được tiếp quản làm nơi hội họp. Tuy vậy, nhưng mẹ tôi vốn thích đi chùa, bà thường hay lui tới, giúp đỡ vài phần việc nho nhỏ cho Sư cô quản lý chùa. Còn tôi đi theo mà lòng chẳng hề cảm mến chùa. Có lẽ vì Đức Phật Thích-ca nhỏ quá … nên không gây cho tôi ấn tượng đặc biệt chăng ? Cho đến một hôm, tình cờ tôi phát hiện quyển LỊCH SỬ PHẬT THÍCH-CA trong tủ sách của dì. Ban đầu tôi chỉ đọc với tánh hiếu kỳ của đứa trẻ 13, muốn biết xem Đức Phật là vị như thế nào ? Dần dần cuộc đời Ngài thu hút tôi lúc nào không rõ. Quyển lịch sử ấy tôi đọc những ba lần, mỗi lần đọc tôi đều xúc động đến rơi nước mắt. Tôi thật sự cảm xúc trước đức hạnh và ý chí kiên cường của Đức Phật. Giữa cuộc đời giả trá bạc đen, nhân cách của con người được định bằng giai cấp, phẩm hàm địa vị. Thế mà đương thời là một Thái tử tài ba lỗi lạc, Đức Phật đã dứt khoát ra đi, khước từ sự sủng ái của vua cha, để lại hoàng cung vợ đẹp con xinh, dấn thân vào con đường khổ hạnh, mong tìm ra chân lý cứu khổ cho mình và cho nhân loại.

Còn hình ảnh nào não nùng hơn, khi Thái tử ba lần vén màn từ biệt vợ thân yêu :

Ra đi rồi lại trở vào

Phút giây chia biệt dạt dào tình thương

Song đây tiếng vọng vô thường

Tình riêng gát lại chọn đường xuất gia.

Nhẫn nhục trước ngàn cơn cám dỗ của lục trần, đại bi trước những lời thóa mạ, luôn "lấy kẻ chống nghịch làm người ngao du, coi sự thi ân như đôi dép bỏ, lấy xả lợi làm vinh hoa, lấy oan ức làm đà tiến thủ". Đức Phật đã từng bước vén bức màn vô minh cho nhân loại, ánh sáng trí huệ bừng lên, không chỉ cho toàn cõi Ấn Độ bấy giờ, mà mãi đến tận hôm nay, toàn thế giới cùng chung hưởng.

Trang sử đời Ngài đã khép lại nơi rừng Ta La Song Thọ cách đây hơn 2500 năm, nhưng đã để lại tất cả sự chân thành, gần gũi, thân thương. Từ đó, với lòng kính yêu Đức Phật, mến mộ con đường Ngài chỉ dạy, tôi thường xuyên đến chùa, theo mọi người tụng kinh sám hối, công quả, mong được tìm thấy hình ảnh Phật qua bóng dáng chư Tăng Ni, để củng cố cho tôi một niềm tin vững chắc trước khi quyết định đi theo con đường của Phật. Song, duyên may chưa đến cùng tôi lúc đó. Tôi đành nán lại đợi chờ, hàng mấy năm liền.

Thế rồi, nhân duyên hội ngộ, từ phong cách thanh thoát, lời nói ôn hòa, cởi mở, rất rộng lượng khoan dung của vị thầy đầu tiên tôi tiếp xúc (giờ là đại sư huynh)đã thực sự cho tôi niềm tin : Đức Phật Thích-ca là vị Phật có thật trên cõi đời. Thầy sẵn sàng giải thích cho tôi nghe những hoài nghi của tôi về Đức Phật, về hạnh nguyện của Ngài, sẵn sàng hướng dẫn tôi vào Phật pháp, nhưng không bao giờ nói cho tôi biết những nẻo đường quanh co khúc khuỷu, những ngang trái "dò sông dò biển dễ dò". Có lẽ bấy giờ thầy sợ tôi thối thất Bồ-đề tâm chăng ?

Hơn hai năm xuất gia ở chùa, cộng với bảy năm học nội trú ở trường Cơ bản, tất cả các vị Ân sư đã ân cần hướng dẫn cho tôi cách thức làm một hoa tiêu giỏi, để lái con thuyền của mình vượt sóng trùng dương, tránh những bẫy đá ngầm và cả những loài thủy quái. Tôi học thuộc lòng và nhớ tất cả như bản cửu chương thời cấp một. Thế nhưng, khi đối duyên xúc cảnh, chao ơi ! Không biết bao lần, con thuyền tâm của tôi chao đảo trước những lượn ba đào : Tham - sân - si đi kèm tám ngọn gió. Lúc ấy, tôi tự giận, dày vò, dằn vặt chính bản thân mình. Tôi càng rứt bỏ những phiền não tư hữu thì nó lại càng bám chặt. Trong si mê hỗn loạn, tôi đâu thể nào chấp nhận nó và tôi đồng nhất thể "Phiền não tức Bồ-đề" ?

Sau mỗi lần sóng gió lặng yên, nhìn bức chân dung từ bi của Phật, tôi vô cùng hỗ thẹn … Ngày tháng trôi qua, tôi lần mò tự mình tháo gút. Rồi duyên lành đưa đẩy tôi vào lớp Huệ Quang, trong một buổi học, tình cờ nghe câu giảng "Phiền não là tự suy mình" từ Kinh Lục độ, tôi chợt bừng tỉnh mộng, lòng vui sướng khôn cùng. Bao năm qua cũng ngần ấy nội dung mà sao tôi không hiểu ? Giá như bây giờ, có ai hỏi vì sao tôi đi tu, chắc tôi chẳng biết đáp sao cho thỏa đáng. Nhưng điều duy nhất tôi có thể biết chắc chắn là, nếu ở ngoài đời tôi sẽ mãi mãi không cảm nhận được giá trị "Phiền não là tự suy mình".

Kỷ niệm ngày Đức Phật thành đạo, kỷ niệm ngày tôi xuất gia tròn 10 năm, biết bao buồn vui đi qua trong tôi, dù có lúc hụt hẫng chơi vơi, nhưng Phật pháp đối với tôi mãi là niềm tin sáng ngời bất diệt.

Lạy Đức Thế Tôn ! Con xin kính tạ ơn Ngài, đã mở đường chỉ lối cho con vào pháp nhân duyên, niềm tin sâu sắc nơi nhân quả.

Con xin kính tạ ơn những bậc Thầy hướng đạo, đã dang rộng đôi tay từ ái bằng trí tuệ, bằng đức hạnh đưa con vào nẻo đường chánh kiến an vui.

Hướng về ngày Đức Phật thành đạo, mong sao muôn vạn sanh linh cùng gieo duyên Phật pháp. Người chưa gieo trồng hạt giống Phật xin hãy đến. Ai đã gieo rồi xin ngày thêm tăng trưởng. Và xin hãy nhớ :

Khổ đau hay hạnh phúc

Dù tương đối trong đời

Nhưng vẫn đầy sức hút

Khiến người phải chơi vơi

Một phen bừng tỉnh mộng

Mới hay ta lạc loài

Dừng chân xoay trở lại

Phiền não tự mình thôi !

---o0o---

Trình bày : Nguyên Hân

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
26/01/2026(Xem: 558)
Hơn hai mươi sáu thế kỷ trước, dưới cội Bồ-đề, Đức Thế Tôn thấu triệt ba minh, viên thành tuệ giác, chứng đắc quả vị Tối thượng trong thế gian, khai mở con đường chân lý chấm dứt khổ đau cho nhân loại. Trải qua thời gian hơn hai ngàn sáu trăm năm, giáo pháp của Thế Tôn lưu nhuận khắp các quốc độ, tùy sở trụ xứ mà mang lại an lạc cho muôn loài. Ánh sáng chân lý năm xưa từ nơi Bồ-đề đạo tràng đã soi rọi đến quốc độ của người Việt từ thuở bình minh dựng nước. Trải qua nhiều thế kỷ, ánh sao mai năm nào nơi xứ Ấn đã hóa hiện thành những cành mai sân trước của người Việt. Để từ đó, pháp học, pháp hành của ba đời mười phương chư Phật lợi lạc cho số đông thấm vào tâm hồn của người Việt, hàng ngàn thế hệ con cháu Rồng Tiên đã thu nhiếp và hành trì giáo pháp Phật đà tương ứng với căn tính dân tộc trên nền tảng những tín tâm bất hoại.
23/01/2026(Xem: 437)
Một sáng con quay về Thăm lại cây đại thọ Nơi đây Phật thiền toạ Chứng đạo quả Bồ Đề Ngày ấy của năm nào Nhằm mùng tám tháng chạp Vầng hào quang soi sáng Dẫy sạch bụi trần lao.
23/01/2026(Xem: 653)
Có những nỗi sợ là dấu hiệu của một lương tri còn sống Giúp phân biệt từ bi và dính mắc rất rõ ràng Ranh giới của một vùng trách nhiệm an toàn Không còn vô minh, không muốn quay lại cũ !
23/01/2026(Xem: 717)
Cuộc đời và con đường giác ngộ của Ngài là minh chứng rõ nét cho việc sử dụng tư duy phản biện để tìm ra sự thật, kết hợp với một đời sống đạo đức mẫu mực. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là một hiền triết vĩ đại, người đã dùng tư duy phản biện sắc bén để phá bỏ những định kiến sai lầm, và dùng đạo đức, từ bi vô lượng để xây dựng một con đường giải thoát chân chính cho nhân loại. Ngài là minh chứng sống cho thấy tư duy phản biện và đạo đức cao thượng hoàn toàn có thể song hành với nhau.
23/01/2026(Xem: 625)
Ngày cuối năm, gió lạnh lùa qua mép cửa, những chùm hoa dại rũ mình uống ánh trăng đêm. Mùa của những bình yên, được gọi tên như món quà xoa dịu lòng người, vun vén những giấc mơ còn bỏ ngỏ! Con khẽ với tay nắm lấy nhành lá khô đang mọc những chồi non, trở mình tỉnh giấc sau một năm dài ẩn mình trong sương, gió. Người cũng đưa tay đón chút nắng cuối ngày, vẽ lên đó những mong ước lặng thầm, giữa một chiều trầm mặc!
06/01/2025(Xem: 3549)
Kính lạy bậc kỳ vĩ xuất hiện, từ ngàn năm trong thế giới (1) Gây âm vang chấn động, mở ra một kỷ nguyên Mang ánh sáng đi vào đời, với phương pháp tịnh Thiền Giúp người người tìm về Chánh Pháp mầu nhiệm
22/06/2024(Xem: 4284)
Bộ hành là bước đi của chân. Nơi đây, trong bài này, chỉ có ý nói rằng xin mời gọi bước đi của tâm: khuyến tấn cả nước cùng nhau bộ hành theo dòng Kinh Phật, cùng tập thói quen đọc kinh, suy nghĩ về kinh, để tâm hướng theo lời kinh dạy, và hàng ngày hãy làm như thế trong những điều kiện có thể của từng Phật tử, từng ngôi chùa. Nói theo chữ cổ, hàng ngày hãy tự xem hành động đọc, nghĩ, và làm theo lời Phật dạy cũng là một hạnh đầu đà. Nếu chúng ta đi bộ bằng chân, độ dài chỉ có thể đo bằng kilômét trong lãnh thổ Việt Nam. Trong khi, nếu chúng ta bước đi bằng tâm, hàng ngày mở trang kinh ra, để đọc, để nghĩ và để làm – thì độ dài của kinh và luận sẽ là nhiều ngàn năm, trải rộng cả Ấn Độ, Tích Lan, Trung Hoa, Việt Nam, Hoa Kỳ, Úc châu… Và sẽ không làm cản trở giao thông của bất cứ ai, bất cứ nơi nào.
19/06/2024(Xem: 9066)
Khi nói tới chuyện trao truyền y bát, chỉ là sử dụng một kiểu ngôn ngữ ước lệ. Nơi đây, chúng ta muốn nói tới một thẩm quyền sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn. Nghĩa là, một thẩm quyền tối hậu để nương tựa. Khi dò lại kinh, chúng ta sẽ thấy câu chuyện phức tạp hơn. Vì có nơi Đức Phật nói rằng sau khi ngài nhập Niết Bàn, tứ chúng hãy chỉ dựa vào Chánh pháp. Kinh lại nói rằng tứ chúng chỉ nên dựa vào Kinh và Luật. Mặt khác, Đức Phật nói rằng có những kinh cần giải nghĩa (tức là, hãy nhìn mặt trăng, chứ đừng chấp vào ngón tay, và từ đây mở đường cho các bộ Luận và Kinh Đại Thừa). Có lúc Đức Phật chia đôi chỗ ngồi và trao y cho ngài Ca Diếp. Có kinh ghi lời Đức Phật trao pháp kế thừa cho ngài A Nan. Và có kinh ghi lời Đức Phật ủy thác quyền lãnh đạo cho Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên. Thế rồi, một hình ảnh thơ mộng từng được kể qua truyện tích Niêm Hoa Vi Tiếu, rằng Đức Phật lặng lẽ, cầm hoa lên, và ngài Ca Diếp mỉm cười. Tích này kể lời Đức Phật nói rằng ngài có một pháp môn vi diệu, không dự
06/06/2024(Xem: 2778)
Trong nhà Phật, lời nguyện là một phần có thể gặp ở bất kỳ kinh sách nào. Hầu hết các lời nguyện đều lớn vô cùng, và trải dài vô cùng tận. Trong các chùa Thiền Tông, chúng ta thường nghe tới Tứ hoằng thệ nguyện, nơi câu đầu "Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ" (Nguyện giải thoát vô số chúng sinh) đã mang tâm lượng vô biên, vô cùng tận. Trong các chùa Tịnh Độ, các bộ Kinh A Di Đà, Kinh Dược Sư đều ghi những lời nguyện lớn của các vị Phật tương ưng. Tới đây, chúng ta có thể gặp một câu hỏi, rằng có lời nguyện nào sẽ thích hợp cho kiếp này thôi. Bởi vì, có những vị tuổi thọ chỉ còn chừng vài năm nữa là sẽ qua kiếp khác. Và Đức Phật đã dạy những gì cho lời nguyện trong một kiếp ngắn hạn này?
04/06/2024(Xem: 18860)
Cùng toàn thể giới tử thọ trì Bát quan trai giới một ngày một đêm tại trú xứ Tăng già-lam Phước duyên, thành phố Huế, hiện diện quý mến. Một ngày một đêm quý vị ở trong Tịnh giới với niềm tin thanh tịnh, kiên cố, bất hoại đối với Tam bảo. Nhờ niềm tin này mà quý vị không để cho Giới pháp của mình bị sứt mẻ ở trong đi, ở trong đứng, ở trong nằm, ở trong ngồi, ở trong sự nói năng, giao tiếp. Quý vị có được niềm tin này là nhờ quý vị nuôi lớn sáu tính chất của Tam bảo, khiến cho ba nghiệp của quý vị được an tịnh, an tịnh về thân hành, an tịnh về ngữ hành, an tịnh về ý hành. Sáu tính chất của Tam bảo, quý vị phải thường quán chiếu sâu sắc, để thể nhập và tạo ra chất liệu cho chính mình, ngay đời này và đời sau. Sáu tính chất của Tam bảo gồm: