Chiến Tranh Do Đâu Mà Có ?

16/09/202520:24(Xem: 1964)
Chiến Tranh Do Đâu Mà Có ?

ban len tieng ve chien tranh o Ukraine
CHIẾN TRANH DO ĐÂU MÀ CÓ ?

KHI NÀO MỚI CHẤM DỨT CHIẾN TRANH?

TT Thích Hạnh Định trả lời phỏng vấn




Hỏi:
Xin chào anh! Hiện nay, tôi được biết trên truyền thông chiến tranh xảy ra tại nhiều nước trên thế giới và kéo dài hoài. Vậy chiến tranh đó, nguyên nhân từ đâu? Và chiến tranh khi nào mới kết thúc trên thế giới nầy?


Trả lời:

Chào anh! Tôi không biết lý do tại sao chiến tranh. Anh phải hỏi vấn đề này với các vị chính trị gia hoặc các người lãnh đạo quốc gia. Họ có thể biết rõ hơn.

Trong lịch sử đã ghi chép lại từ thời xa xưa, hàng ngàn năm về trước, khi con người chỉ biết mặc tấm vải nhỏ che thân, mà họ đã chiến tranh giết hại với nhau rồi. Chúng ta thấy nước lớn đánh nước nhỏ, mục đích là muốn chiếm đất, mở mang bờ cõi, mở rộng quyền lực và cướp vàng bạc, khoáng sản, dầu mỏ, ngay cả cướp luôn biển cả v.v... Nhiều nhà sản xuất vũ khí muốn tạo ra chiến tranh khắp nơi, mục đích là để bán vũ khí. Do đó, họ khiêu khích cho các nước chiến tranh với nhau hoặc nội chiến, thì họ sẽ sản xuất vũ khí và bán cho các nước chiến tranh. Đây là cách kinh doanh kiếm tiền qua sự giết người gián tiếp. Nhưng nếu không có chiến tranh, thì họ sản xuất vũ khí bán cho ai?

Chiến tranh là giết hại nhau, và thiệt hại kinh tế, nhưng tại sao con người cứ chiến tranh? Đức Phật dạy: “Con người tạo ra chiến tranh là vì lòng ích kỷ”. Con người do có lòng ích kỷ, chỉ nghĩ lợi cho chính mình, nên họ sanh ra tham lam, tham muốn được lợi mọi thứ về mình, muốn có địa vị cao, muốn có quyền lực để thống nhiếp thiên hạ, muốn danh tiếng, muốn mở rộng giang sơn, muốn có vàng bạc châu báu, muốn có dầu mỏ, vật chất và nhiều vũ khí hiện đại v.v... Lòng tham lam của con người không có đáy, họ tham lam quá nhiều, nên chiến tranh không bao giờ ngừng trên thế giới nầy. Vì vậy, trong lịch sử đã ghi lại cho chúng ta biết trong quá khứ và hiện tại không có chữ “Hòa bình” và tương lai cũng sẽ không bao giờ có chữ “Hòa bình”.

Hỏi:
Trên thế giới có nhiều tôn giáo, vậy, các tôn giáo có giúp gì cho hòa bình nhân sinh không?

Trả lời:
Những nhà nghiên cứu Tây phương cho rằng các tôn giáo lớn trên thế giới là những tôn giáo đã từng tạo ra chiến tranh trong quá khứ. Họ nói rằng, sở dĩ những tôn giáo nầy lớn mạnh khắp thế giới là do họ dùng thế lực chính trị đi đánh các nước trên thế giới và ép người theo đạo. Do đó, tôn giáo của họ trở thành tôn giáo lớn trên thế giới. Hiện tại, những nhà lãnh đạo tôn giáo vẫn tham gia vào chính trị và chiến tranh trên thế giới, và trong tương lai cũng sẽ như vậy.

Hỏi:
Vậy, Đức Phật có giúp gì cho hòa bình nhân sinh không?

Trả lời:
Tôi có đọc trong lịch sử của Phật giáo. Đức Phật xuất thân là một vị Thái Tử. Ngài hiểu được cuộc đời vô thường, vì ai sanh ra rồi cuối cùng cũng sẽ mất. Do đó, Ngài tu tập các phương pháp thiền định và thiền quán để giúp cho nhân sinh tìm sự bình an trong tâm, ngõ hầu thoát được cái khổ luân hồi sanh tử. Nhưng trong lịch sử cũng có kể là Thái tử Lưu Ly đem quân đánh dòng họ Thích của Đức Phật. Ngài đã ba lần ngăn cản và thuyết phục, Thái tử Lưu Ly nghe lời thuyết phục ba lần, nhưng đến lần thứ tư thì thái tử không nghe và tiến quân giết cả dòng họ Thích Ca. Vậy, Đức Phật cũng không ngăn cản được sự hận thù của nhân sinh và đã không cứu nổi dòng họ của Ngài.

Trong lịch sử, ông Đề Bà Đạt Đa cùng với Thái tử A Xà Thế âm mưu giết vua cha và giết luôn cả Đức Phật. Có lần nửa đêm, thái tử cho thám tử đến giết Đức Phật. Đức Phật hỏi thám tử: “Sao người không ra tay giết ta đi”. Thám tử trả lời: “Giết Ngài thì quá dễ, nhưng khi tôi xuống trình diện thái tử A Xà Thế, thì tôi cũng sẽ bị giết chết để bịt đầu mối”. Sau đó, Đức Phật dạy anh ta về dẫn vợ con trốn sang nước khác. Thái tử còn ra lệnh không ai được phép cúng dường thức ăn cho Tăng đoàn để cho chết đói. Nếu ai không chấp hành mệnh lệnh, thì họ sẽ bị chặt hai tay. Tuy nhiên, thái tử mời Đức Phật và Tăng đoàn vào cung vua để cúng dường thức ăn. Đức Phật trên đường đi vào cung điện, thì thái tử cho đàn voi say rượu tràn ra để đạp chết Đức Phật và Tăng đoàn. Cũng may, Đức Phật dùng thần thông hàng phục các con voi say rượu để cứu sống Tăng đoàn. Đã vậy, ông Đề Bà Đạt Đa còn chất đá trên núi Linh Thứu và chờ khi Đức Phật đi về tịnh thất, thì ông cho đá lăn xuống để giết Đức Phật. Ngài Mục Kiền Liên được tán thán là người đại hiếu và có thần thông bậc nhất, nhưng Ngài cũng bị ngoại đạo đánh chết. Qua đó, chúng ta nhận thấy rằng Đức Phật hy sinh hạnh phúc cá nhân để cứu nhân sinh thoát khổ tham, sân, si và cái khổ luân hồi sanh tử, nhưng một số nhân sinh đã vì lợi dưỡng, quyền lực, mà họ muốn giết luôn cả bậc Thánh, huống chi là ai?

Hỏi:
Đức Phật là người khai sáng đạo Phật ở Ấn Độ. Vậy sao Phật giáo Ấn Độ bây giờ không còn?

Trả lời:
Trong lịch sử nước Ấn Độ có ghi từ thế kỷ thứ hai năm 185 trước Tây lịch, Vua Pushyamitra Shunga lên ngôi và lập Triều đại Shunga, Ông ra lệnh tiêu diệt Phật giáo. Kể từ đó đến đầu thế kỷ 13 năm 1206, Phật giáo bị Ấn giáo tiêu diệt trong suốt 15 thế kỷ. Từ thế kỷ thứ 13 năm 1206 đến thế kỷ 16 năm 1526, quân Hồi giáo chiếm nước Ấn Độ và giết chết tất cả tu sĩ Phật giáo, đập phá các chùa và đốt hết tất cả Kinh sách Phật giáo. Và từ đó, Phật giáo bị diệt vong và vắng bóng trên lãnh thổ nước Ấn Độ.

Hỏi:
Đức Phật dạy thế nào để cho nhân sinh ngưng chiến tranh và con người sống trong thế giới hòa bình?

Trả lời:
Khi Đức Phật là một vị Thái Tử, Ngài đã gởi một thông điệp đến nhân sinh trước khi Ngài đi tu. Đó là “Thế Tục Đế” nghĩa là sự thật của cuộc đời. Sự thật là chân lý. Sự thật của cuộc đời là gì? Đó là sự vô thường, vì ai sinh ra rồi, cũng phải già, bệnh và chết. Đây là chu kỳ của kiếp nhân sinh. Nếu nhân sinh nhận thức được điều nầy và chấp nhận, thì họ là người giác ngộ. Người giác ngộ là Phật. Và chân lý thứ hai là chân đế hay còn gọi là chân tâm, là tâm thanh tịnh. Nếu con người đạt được tâm thanh tịnh, thì họ sẽ không còn ích kỷ nữa. Khi họ không ích kỷ nữa, thì họ sẽ bỏ đi lòng tham lam, sân hận, si mê. Tâm của họ sẽ an bình. Cho nên, Đức Phật dạy: “Tâm bình, thế giới bình”.

Đức Phật dạy nhân sinh “Không sát sanh, không gian tham trộm cướp”. Nếu nhân sinh giữ giới không giết hại người và vật, thì không ai cần sản xuất vũ khí, thế giới này sẽ ngưng chiến tranh, con người sẽ sống thanh bình và an lạc.

Đức Phật dạy nhân sinh phải phát đại bi tâm hay nói cách khác là phải mở rộng lòng từ bi ra để thương giúp mọi người. Nếu nhân sinh biết thương yêu và giúp đỡ với nhau trong kiếp sống vô thường, thì cuộc sống của nhân sinh vô cùng ý nghĩa và giá trị vô biên.

“Phật không đâu xa, Phật ở trong ta,
Nếu chúng ta làm theo lời Phật dạy”




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
13/10/2010(Xem: 9133)
Chiến tranh đi liền với sát sanh. Chiến tranh đồng nghĩa với tội ác. Sát sanh là nhân, chiến tranh là quả và ngược lại. Hai yếu tố này hỗ trợ cho nhau để tạo nên chia lìa, đau đớn, khủng hoảng, tan tóc, đau thương cho cuộc đời. Khi nào còn chiến tranh, nghĩa là con người còn phải gánh chịu đau khổ, giết hại, thù hằn, đấu tố. Chiến tranh sẽ không bao giờ chấm dứt nếu con người còn tâm địa giết hại thú vật không thương tiếc, giẫm lên mạng sống của muôn vật, không biết quý trọng mạng sống của đồng loại! Nhân trả lời một nghi vấn của một Phật tử: “Tổng thống Bush có phạm tội sát sanh hay không khi đem quân đi đánh Afghanistan hay không?” Người viết xin trình bày sơ bộ các cách phán đoán tội của một người phạm tội sát sanh cũng như các cấp độ của sát sanh và vài vấn đề liên hệ đến chiến tranh để bổ sung cho câu trả lời trên.
02/10/2010(Xem: 6700)
ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA NÓI VỀ CHÚA GIÊSU Nguyên tác: LE DALAI LAMA PARLE DE JÉSUS Éditions Brepols, Paris. 1996 Người dịch : VĨNH AN nhà XUẤT BẢN: THIỆN TRI THỨC, 2003 Một Viễn Cảnh Phật Giáo Về Những Lời Dạy của Đức Giêsu
02/10/2010(Xem: 7621)
Trong bài tham luận ngắn này, người viết giới thiệu khái quát về truyền thống khất thực như một pháp tu trong Phật giáo, thông qua đó phân tích hiện tượng khất thực phi pháp của những kẻ ăn xin giả dạng người tu, làm hoen ố truyền thống tâm linh của Phật giáo. Bên cạnh đó, người viết xin đề xuất phương án ngăn chận tệ nạn này. Đồng thời, đề nghị giải pháp ngăn chận tình trạng “khách không mời mà đến” làm mất đi ý nghĩa thiêng liêng của các ngày kỷ niệm tổ sư khai sáng các chùa và các lễ cúng dường trai tăng nói chung.
30/09/2010(Xem: 7814)
Hân hạnh gửi đến quý vị một vài ý nghĩa phiến diện về những điều đè nặng tâm trí tôi trong suốt thời gian ở tù. Nhưng điều trước tiên tôi muốn bày tỏ ở đây là sự tri ân của tôi đối với đồng bào hải ngoại, với sự cộng tác của quốc tế, đã can thiệp một cách có hiệu quả khiến cho bản án tử hình dành cho tôi trở thành bản cáo trạng dành cho những người tự cho có quyền xét xử tôi và phán xét những người đã hành động theo lương tâm.
08/09/2010(Xem: 6708)
Cánh cửa của thế kỷ 20 sắp khép lại, tất cả chúng ta đều nhận thấy rằng thế giới đã trở nên nhỏ hơn, loài người trên hành tinh đã trở thành một cộng đồng lớn, các liên minh về chính trị và quân sự đã tạo ra những khối đa quốc gia, làn sóng của thương mại và công nghiệp thế giới đã cho ra nền kinh tế toàn cầu, những phương tiện thông tin của thế giới đã loại bỏ những chướng ngại về ngôn ngữ và chủng tộc...
06/09/2010(Xem: 5780)
Hiện tượng này do sư cô Thích Chiếu Huệ khởi xướng và ngày càng lan rộng, nhận định về hiện tượng này và tìm hiểu nguyên nhân mà nó phát sinh cần có cái nhìn toàn diện về xã hội và Phật giáo Đài Loan. 1) Xã hội phát triển theo xu hướng nam nữ bình quyền. Đài Loan đã trở thành một trong bốn con rồng Châu Á và đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của những tư tưởng phát triển từ phương tây, do đó trong xã hội ngày nay quyền bình đẳng luôn được phụ nữ Đài Loan vận động và tranh đấu. Phong trào nữ quyền ở Đài Loan đã đạt được những thành tựu nhất định. Nữ giới dần có địa vị cao trong mọi lĩnh vực của xã hội. Quan điểm "nam nữ bình quyền" đã được tuyệt đại đa số quần chúng ủng hộ và nó cũng tác động vào sau cánh cổng chùa đến tầng lớp ni giới của Đài Loan.
04/09/2010(Xem: 25929)
Tôi được một vị Tăng sinh ở Saigon mời góp ý kiến về Bát Kính Pháp khoảng hai tuần trước, nhưng vì khá bận rộn với những công việc tại đây (vừa lo thi cử cho việc trường lớp xong thì lại có duyên sự Phật sự 10 ngày tại Minnesota) nên đã khất hẹn với vị ấy là: khi nào tranh thủ được thời gian thì tôi sẽ xem xét vấn đề kỹ hơn để bàn cùng quý vị. Lúc ấy tôi nghĩ rằng: những vị Tăng sinh này sẽ tìm được câu trả lời cho những nghi vấn liên quan đến Bát Kính Pháp nhanh chóng thôi, vì ở Việt Nam hiện có rất nhiều chư Tôn Đức chuyên nghiên cứu, hiểu sâu sắc và hành trì Luật tạng miên mật, các vị dễ dàng đến đảnh lễ thưa hỏi.
04/09/2010(Xem: 5770)
Vì họ nghĩ rằng, Bát kỉnh pháp là điều khoản bất công với Ni giới, nếu chấp nhận sự có mặt của Bát kỉnh pháp trong hệ thống kinh luật, tức là chấp nhận đức Phật không có từ bi, thiếu tuệ giác và chúng ta tự đào thải mình. Rồi qua một số lý luận không có cơ sở khoa học vững chắc, họ suy đoán rằng các điều khoản trong Bát kỉnh pháp được hình thành là do sự mâu thuẫn giữa Tăng Ni trong một giai đoạn lịch sử nào đó, nên các bậc tiền nhân đã áp đặt ra để đè đầu cỡi cổ mấy cô Ni, chứ điều đó không phải do Phật nói. Cho nên, để thích hợp với xã hội toàn cầu hóa ngày nay, chúng ta phải mạnh dạng xóa bỏ điều này.
30/08/2010(Xem: 5214)
Đất nước hiện nay cần phải phát triển kinh tế để dân giàu nước mạnh. Muốn vậy, người dân Việt phải tăng gia sản xuất tất cả các ngành nghề, cần phải cạnh tranh trong tất cả các lãnh vực kinh tế. Chăn nuôi gia súc, nuôi cá, nuôi tôm là các ngành không thể thiếu để cung ứng thị trường nội địa và xuất khẩu để thu ngoại tệ.
30/08/2010(Xem: 11823)
Không giống những tôn giáo khác và những lý thuyết hiện đại về kinh tế học, đạo Phật cho rằng kinh tế học gắn liền với đạo đức học và lý thuyết về hành vi (kamma). Mặc dù nhiều nhà kinh tế xem kinh tế học là một khoa học “tích cực” của một loại hiện tượng xã hội, nhưng dưới cái nhìn của đạo Phật, kinh tế học có quan hệ đặc biệt với đạo đức học. Lý thuyết kinh tế học của đạo Phật nhấn mạnh quan điểm về sự chủ tâm (cetan(, tác ý) trong việc giải thích tư cách đạo đức con người. Trong bài này, tác giả cố gắng giải thích vài khái niệm quan trọng trong kinh tế học như đã được mô tả trong kinh điển đạo Phật để cho thấy rằng đạo đức học đóng một vai trò quan trọng trong kinh tế học và do đó có một tầm quan trọng lớn đối với kinh tế học và ngược lại.