43. Thiền Sư Ẩn Phong

12/10/202119:21(Xem: 31296)
43. Thiền Sư Ẩn Phong


192_TT Thich Nguyen Tang_Thien Su An Phong


Nam mô A Di Đà Phật


Kính bạch Sư Phụ

Bạch Sư Phụ hôm nay chúng con được học bài thứ 192 về Thiền Sư Ấn Phong. Ngài thuộc đời thứ 3 sau Lục Tổ Huệ Năng, là đệ tử đắc pháp của Mã Tổ Đạo Nhất.

Cuộc đời của Ngài rất đơn giản, không rõ ngày sanh và ngày viên tịch, chỉ biết được Ngài có thị hiện thần thông diệu dụng vào cuối đời.

Ngài Ấn Phong họ Đặng quê ở Phúc Kiến, Ngài đến học với Mã Tổ nhưng không đắc pháp nên Ngài đến Tổ Hy Thiên Thạch Đầu.

Ngài hỏi Tổ Hy Thiên :”làm sao để hiểu đạo”
Tổ Hy Thiên đáp :”ta cũng chẳng hội đạo”.

Sư Phụ giải thích, sự hiểu đạo là phải nghe lại tiếng lòng của mình, đạo không có gì để hiểu để đạt đến,  đó là cái của riêng mình, mình nhận ra cái của mình thì không có gì là hiểu, là đạt, là chứng cả. Nếu có hiểu là còn đối đãi, còn phân biệt, còn sinh diệt và còn khổ đau.

Sau đó ngài Ấn Phong trở lại lẩn thứ nhì, thứ ba học với Mã Tổ. Lẩn này nghe Mã Tổ nói một câu thì Ngài ngộ liền.

Một hôm ngài Ấn Phong làm chấp tác đẩy xe đất, Mã Tổ ngồi duỗi chân trên đường.

Ngài thưa:- Thỉnh Sư phụ rút chân.

Mã Tổ bảo:- Đã duỗi thì không rút.

Ngài trình bạch: Đã tiến thì không lùi.

Ngài bèn đẩy xe qua, cán chân Mã Tổ bị thương. Mã Tổ vào pháp đường cầm chiếc búa và ra lệnh " Vừa rồi ai đẩy xe cán chân Lão tăng bị thương, hãy ra đây".

Ngài mạnh dạn bước ra đưa cổ trước Mã Tổ. Sư phụ Mã Tổ liền dẹp búa.

Kính mời xem tiếp



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/10/2011(Xem: 30460)
Bùi Giáng, Người viết sách với tốc độ kinh hồn
12/10/2011(Xem: 25321)
Truyện thơ Tôn giả La Hầu La - Tác giả: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
01/10/2011(Xem: 9909)
Hàng ngũ phật tử thường được chia là phật tử tại gia và phật tử xuất gia. Các phật tử tại gia thường được gọi là cư sĩ. Trong lịch sử đạo Phật có ghi lại chuyện một số các vị cư sĩ nổi tiếng, tuy các vị ấy không xuất gia nhưng về phương diện tu hành, thấu hiểu đạo lý thì không thua kém gì các vị đã xuất gia. Có nhiều vị cư sĩ nổi tiếng nhưng bài này chỉ xin nhắc đến ông Duy Ma Cật, bà hoàng hậu Thắng Man, cư sĩ Huệ Năng lúc chưa xuất gia và sau đó đến gia đình ông Bàng Uẩn.
25/09/2011(Xem: 6104)
Lời hát ru nhẹ nhàng mà trầm buồn da diết ấy đi vào trong cả giấc mơ của Hiền. Bao lần chị giựt mình thảng thốt ngồi bật dậy… ngơ ngác nhìn quanh. Chẳng có gì khác ngoài bóng đêm lạnh giá bao trùm hai dãy xà lim hun hút. Chốc chốc vẳng lại tiếng thạch sùng chặc lưỡi, tiếng chí chóe của mấy chú tí ưa khuấy rối trong xó tối. Và cả tiếng thở dài của ai đó dội qua mấy bức tường xanh rêu im ỉm…
24/09/2011(Xem: 4187)
Ngày xưa có một chàng trai tên là Na Á. Anh mồ côi cha từ sớm, ở với mẹ già. Nhà Na Á nghèo, anh phải làm nghề đánh cá để nuôi thân, nuôi mẹ.
24/09/2011(Xem: 4905)
Một hôm em bé ngồi trong bóng cây trú nắng, gió cũng thổi mát quá, em ngủ quên, đến lúc thức dậy, thì đàn trâu đã đi mất. Em tìm khắp cánh đồng mà chẳng thấy.
21/09/2011(Xem: 4560)
Tờ Chú (có nghĩa là anh đen) nghèo nhất làng. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi không có một con dao mẻ để phát nương, một cái thuổng để đào củ mài.
21/09/2011(Xem: 4114)
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm nghề trồng dưa.
16/09/2011(Xem: 15374)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...
12/09/2011(Xem: 5391)
Hồ Biểu Chánh (1884–1958), tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20. Ông sinh năm 1885 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ.