11. Thiền Sư Thần Hội

12/10/202111:38(Xem: 30914)
11. Thiền Sư Thần Hội
110_TT Thich Nguyen Tang_Thien Su Than Hoi




Nam mô A Di Đà Phật

Kính bạch Sư Phụ

Bạch Sư Phụ, hôm nay chúng con được học về Thiền Sư Thần Hội là đại đệ tử của Ngài Lục Tổ Huệ Năng.
Ngài được xem như là thần đồng, từ nhỏ đã làu thông Tứ Thư, Ngũ kinh. Khi Ngài đọc kinh Phật, Ngài thấy kinh Phật là một chân trời mới.

Ngài đến chùa Quốc xứ xin xuất gia, và thọ Sa Di ở chùa Ngọc Tuyền năm 14 tuổi với pháp sư Thần Tú.

Sau đó Ngài đến chùa Bảo Long, ở miền nam, xin thọ giới với Lục Tổ.

Ngài chưa chứng đắc nhưng biết trả lời Tổ bằng lập lại lời của Tổ.
Ngài bị Tổ đánh, Ngài sụp lạy sám hối và xin ở lại hầu Tổ.
Tất cả Pháp lưu xuất từ Tâm.

Lúc Tổ sắp viên tịch, tất cả đệ tử đều khóc, Ngài Thần Hội không khóc.

Khi Lục Tổ viên tịch, Ngài Thần Hội được 20 tuổi và mới được thọ Sa Di.
Vua Đường Hiền Tông thỉnh Ngài Thần Hội đến chùa Hạ Trạch miền Bắc xiểng dương đạo pháp.

Thiền Sư Thần Hội (còn có tên là Hạ Trạch thiền sư) giảng pháp thính chúng rất đông.
Ngài dạy học đạo phải đạt tột ngộ nguồn gốc ngay tâm của chính mình, vọng tưởng sanh diệt như thế nào.
Tâm phải luôn:Rỗng Lặng, Vô trụ, Vô tướng, Vô tác.

Bạch Sư Phụ, hôm nay chúng con được Sư Phụ ban cho bài pháp về Thiền sư Thần hội, là một thần đồng từ làu thông Ngũ Kinh, đọc kinh Phật lãnh hội ngay liền, Phật pháp là chân trời sáng, Ngài đã đạt được Chân Tâm, Phật tánh thường hằng trong tất cả chúng sanh vạn loài.




Kính mời xem tiếp


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/10/2011(Xem: 30431)
Bùi Giáng, Người viết sách với tốc độ kinh hồn
12/10/2011(Xem: 25314)
Truyện thơ Tôn giả La Hầu La - Tác giả: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
01/10/2011(Xem: 9907)
Hàng ngũ phật tử thường được chia là phật tử tại gia và phật tử xuất gia. Các phật tử tại gia thường được gọi là cư sĩ. Trong lịch sử đạo Phật có ghi lại chuyện một số các vị cư sĩ nổi tiếng, tuy các vị ấy không xuất gia nhưng về phương diện tu hành, thấu hiểu đạo lý thì không thua kém gì các vị đã xuất gia. Có nhiều vị cư sĩ nổi tiếng nhưng bài này chỉ xin nhắc đến ông Duy Ma Cật, bà hoàng hậu Thắng Man, cư sĩ Huệ Năng lúc chưa xuất gia và sau đó đến gia đình ông Bàng Uẩn.
25/09/2011(Xem: 6093)
Lời hát ru nhẹ nhàng mà trầm buồn da diết ấy đi vào trong cả giấc mơ của Hiền. Bao lần chị giựt mình thảng thốt ngồi bật dậy… ngơ ngác nhìn quanh. Chẳng có gì khác ngoài bóng đêm lạnh giá bao trùm hai dãy xà lim hun hút. Chốc chốc vẳng lại tiếng thạch sùng chặc lưỡi, tiếng chí chóe của mấy chú tí ưa khuấy rối trong xó tối. Và cả tiếng thở dài của ai đó dội qua mấy bức tường xanh rêu im ỉm…
24/09/2011(Xem: 4178)
Ngày xưa có một chàng trai tên là Na Á. Anh mồ côi cha từ sớm, ở với mẹ già. Nhà Na Á nghèo, anh phải làm nghề đánh cá để nuôi thân, nuôi mẹ.
24/09/2011(Xem: 4905)
Một hôm em bé ngồi trong bóng cây trú nắng, gió cũng thổi mát quá, em ngủ quên, đến lúc thức dậy, thì đàn trâu đã đi mất. Em tìm khắp cánh đồng mà chẳng thấy.
21/09/2011(Xem: 4547)
Tờ Chú (có nghĩa là anh đen) nghèo nhất làng. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi không có một con dao mẻ để phát nương, một cái thuổng để đào củ mài.
21/09/2011(Xem: 4108)
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm nghề trồng dưa.
16/09/2011(Xem: 15373)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...
12/09/2011(Xem: 5387)
Hồ Biểu Chánh (1884–1958), tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20. Ông sinh năm 1885 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ.