31. Thiền Sư La Hán Quế Sâm

12/10/202118:07(Xem: 43469)
31. Thiền Sư La Hán Quế Sâm

131_TT Thich Nguyen Tang_Thien Su Que Sam




Nam mô A Di Đà Phật

Kính bạch Sư Phụ

Bạch Sư Phụ, hôm nay chúng con được học về Thiền Sư La Hán Quế Sâm (bài pháp thứ 180). Ngài là vị Thiền Sư đặt nền móng vững chắc cho Thiền phái Pháp Nhãn .

Ngài quê ở Chiết Giang , nơi sinh ra những Thiền Sư nổi tiếng.

Từ lúc còn bé, Ngài có túc duyên thiện căn từ kiếp trước, chỉ ăn một bửa cơm chay mỗi ngày, không ăn thịt , và  Ngài nói ra những điều khác thường.
Lớn lên, Ngài xin xuất gia và giỏi trì giới , ngăn ngừa nghiệp ác phát sanh.
Sau đó, Ngài lên đường tham vấn học thiền , và đến đảnh lễ TS Tông Nhất Huyền Sa.

Tổ Tông Nhất Huyền Sa hỏi Ngài hiểu sao về "Ba cõi do tâm tạo", 
Ngài chỉ cái ghế dựa, hỏi: Sư Phụ gọi nó cái ấy là gì?
Tổ Tông Nhất Huyền Sa đáp: Đó là ghế dựa.
Ngài thưa: Hòa thượng không hiểu “tam giới duy tâm” là gì rồi.
Tổ Tông Nhất Huyền Sa bảo: Ta gọi cái ấy là cây trúc, con gọi là gì?
Ngài thưa: Con cũng gọi là cây trúc
Tổ Tông Nhất Huyền Sa bảo: Tận đại địa này tìm không ra nổi một người hiểu Phật pháp.
Ngai do đây mà tổ ngộ, liền sụp lạy lễ tạ Sư Phụ.
Ngài ngộ được cái "thể" (bản chất thật) của cây trúc là để làm ghế dựa, ghế trụi, ghế dài.... nhưng có tên gọi dựa theo cách sử dụng (dụng) mà có tên gọi khác nhau, chúng sanh cũng vậy, do nghiệp tướng, nghiệp dụng có khác nhau về tướng trạng, cảnh giới, nhưng đứng trên mặt thể đều đồng đẳng với nhau về Phật tánh, Chơn Như, tức là tự tánh trong sáng hằng có bên trong của tất cả chúng sanh vạn loài, trùm khắp hư không. Có chứng mới biết được điều này.

Cuối đời ,Ngài có chút bệnh, rồi ngồi kiết già mà an nhiên thị tịch vào năm 928 thọ thế 62 tuổi.Vua ban tặng danh hiệu cho ngài là Chơn Ứng Đại sư. Thiền Sư Hư Vân có làm bài thơ để tán thán công hạnh của Ngài, do HT Minh Cảnh dịch và Sư Phụ diễn ngâm cuối buổi giảng rất hay:

Hội gì trong các cõi quần sanh
Ghế gỗ trúc này thật giả danh
Ông đã không còn vương ý tưởng
Tôi thì cũng chẳng chấp ngôn hành
Hư không đại địa ai người biết
Biển cả vi trần ít mắt xanh
Chân Ứng thiền sư thường tỏa sáng
Môn đồ bốn chúng thảy vây quanh.


Kính mời xem tiếp



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
17/11/2011(Xem: 6407)
Tôi có ý nghĩ viết thành tập sách này vào đầu năm nay 97, nhân kỷ niệm mười năm tôi được xuất gia học đạo. Mười năm thường là cái mốc thời gian đáng nhớ cho những sự cố gì xảy ra trong một đời người. Sự cố ấy mang ý nghĩa của đổi thay dù sự đổi thay đó mang tính cách thế tục hay xuất thế. Trong đạo thầy đã dạy tôi rằng: "Sau một thời gian tu tập con cần nên cứu xét lấy mình, ngắn thì mỗi năm, dài thì năm năm, mười năm. Sau khoảng một thời gian dài ấy mà con thấy có niềm tin hơn, ý chí hơn trong sự tu tập thì đó là con đã tiến bộ. Giảm niềm tin, thiếu tinh tấn chính là con đã lui sụt. Tu tập mà không tiến bộ tức là thua sút, yếu hèn, phụ bạc công ơn thầy tổ nuôi nấng và sự thọ nhận cúng dường của đàn na thí chủ".
04/11/2011(Xem: 5864)
Tiếng súng nổ từ xa, dù lớn dù nhỏ, vẫn là chuyện thông thường không thắc mắc đối với dân Quảng Ngãi trong thời chiến tranh. Nhưng đêm nay, đêm mồng một Tết, tiếng súng nổ bên tai làm cả nhà tôi bàng hoàng. Không ai bảo ai đều giật mình thức giấc rồi chạy ào xuống nhà núp dưới chân cầu thang. Tiếng súng nổ gần quá, tôi nghe cả tiếng hô hoán: “Tiến lên!” giọng Bắc rặc của một người chỉ huy nào đó. Trời! Không lẽ mặt trận đang diễn ra trong thành phố? Tim tôi đập loạn xạ, dù mồ hôi vã ra, răng tôi vẫn đánh bò cạp. Tôi rúc vào lòng năm chị em gái và ba má của tôi. Tiếng khóc thút thít vì sợ hãi muốn oà ra nhưng tôi cố dằn lòng sợ địch quân nghe thấy. Ầm! Một trái pháo kích rớt trúng nhà phía sau của tôi. Ngói bể rơi loảng xoảng, khói đạn bay mịt mù. Tôi chỉ kịp thét lên, ôm cứng lấy má tôi, hồn như bay khỏi xác. Đó là năm Mậu Thân 1968, lúc tôi 14 tuổi.
27/10/2011(Xem: 31655)
Bùi Giáng, Người viết sách với tốc độ kinh hồn
12/10/2011(Xem: 26161)
Truyện thơ Tôn giả La Hầu La - Tác giả: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
01/10/2011(Xem: 10719)
Hàng ngũ phật tử thường được chia là phật tử tại gia và phật tử xuất gia. Các phật tử tại gia thường được gọi là cư sĩ. Trong lịch sử đạo Phật có ghi lại chuyện một số các vị cư sĩ nổi tiếng, tuy các vị ấy không xuất gia nhưng về phương diện tu hành, thấu hiểu đạo lý thì không thua kém gì các vị đã xuất gia. Có nhiều vị cư sĩ nổi tiếng nhưng bài này chỉ xin nhắc đến ông Duy Ma Cật, bà hoàng hậu Thắng Man, cư sĩ Huệ Năng lúc chưa xuất gia và sau đó đến gia đình ông Bàng Uẩn.
25/09/2011(Xem: 6314)
Lời hát ru nhẹ nhàng mà trầm buồn da diết ấy đi vào trong cả giấc mơ của Hiền. Bao lần chị giựt mình thảng thốt ngồi bật dậy… ngơ ngác nhìn quanh. Chẳng có gì khác ngoài bóng đêm lạnh giá bao trùm hai dãy xà lim hun hút. Chốc chốc vẳng lại tiếng thạch sùng chặc lưỡi, tiếng chí chóe của mấy chú tí ưa khuấy rối trong xó tối. Và cả tiếng thở dài của ai đó dội qua mấy bức tường xanh rêu im ỉm…
24/09/2011(Xem: 4370)
Ngày xưa có một chàng trai tên là Na Á. Anh mồ côi cha từ sớm, ở với mẹ già. Nhà Na Á nghèo, anh phải làm nghề đánh cá để nuôi thân, nuôi mẹ.
24/09/2011(Xem: 5172)
Một hôm em bé ngồi trong bóng cây trú nắng, gió cũng thổi mát quá, em ngủ quên, đến lúc thức dậy, thì đàn trâu đã đi mất. Em tìm khắp cánh đồng mà chẳng thấy.
21/09/2011(Xem: 4853)
Tờ Chú (có nghĩa là anh đen) nghèo nhất làng. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi không có một con dao mẻ để phát nương, một cái thuổng để đào củ mài.
21/09/2011(Xem: 4425)
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm nghề trồng dưa.