Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Thiền Sư Giới Không, Đời thứ 15 của Thiền Phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi 🙏🌷🙏🌼🙏🌺🙏🌹🌺

07/09/202109:16(Xem: 1756)
Thiền Sư Giới Không, Đời thứ 15 của Thiền Phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi 🙏🌷🙏🌼🙏🌺🙏🌹🌺




Thiền Sư Giới Không
Đời thứ 15 của Thiền Phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi 

Thuyết giảng: TT Thích Nguyên Tạng
🙏🌷🙏🌼🙏🌺🙏🌹🌺🙏🌷🙏🌼🙏🌺🙏🌹🌺
Trình pháp: Cư Sĩ Quảng Tịnh Tâm, Cư Sĩ Huệ Hương
Diễn đọc: Cư Sĩ Diệu Danh
Lồng nhạc và online: Cư Sĩ Quảng Phước, Cư Sĩ Quảng Tịnh






Nam Mô A Di Đà Phật

 

Kính bạch Sư Phụ, hôm nay, thứ ba 7/9/2021, chúng con được học về Thiền sư Giới Không thuộc đời thứ 15, Thiền Phái Tỳ-Ni-Đa-Lưu-Chi. Sư phụ dựa theo tài liệu gốc Thiền Sư Việt Nam do HT Thích Thanh Từ biên soạn và ấn hành tại VN vào năm 1972. Pháp thoại hôm nay là bài giảng thứ 282 của Sư Phụ bắt đầu từ mùa cách ly do bệnh đại dịch covid 19 (đầu tháng 5-2020).

 

Sư tục danh là Nguyễn Tuân, con một lương gia trong quận Mãn Đẩu. Thuở nhỏ, Sư đã mến Phật pháp, theo Thiền sư Quảng Phước ở chùa Nguyên Hòa trên núi Chân Ma xuất gia và thọ giới Cụ túc. Theo thầy tu học mấy năm, Sư nhận được ý chỉ.

Sau, Sư đến Lịch Sơn dựng một am nhỏ, chuyên tu Thiền định khoảng năm, sáu năm. Rời am, Sư chống gậy xuống núi, tùy phương hóa đạo. Trên đường ngang qua vùng Nam Sách, Sư lại vào trong hang đá Thánh Chúa cấm túc sáu năm, tu hạnh đầu-đà.

 

Sư phụ giải thích:

-Tiểu sử của Thiền Sư Giới Không ngắn gọn, không được biết tên tuổi, gia quyến cha mẹ. Sư Phụ giải thích lương gia là đạo thờ ông bà, họ tự mặc nhiên xem mình là theo đạo Phật,  dù chưa quy y Tam Bảo, chưa có pháp danh, nhưng khi gia đình có người qua đời, họ cung thỉnh quý thầy đến làm lễ tang theo nghi thức Phật Giáo.

 

-Theo Hoà Thượng Thanh Từ, Sư là đệ tử của Thiền Sư Quảng Phước. Theo sách VN Phật giáo sử luận của Sư ông Nhất Hạnh, đời thứ 14, có 4 vị TS Thiền Khánh Hỷ, Tịnh Nhãn, Tịnh Như và thiền sư Quảng Phước (Phúc), ngài chính là sư phụ của Thiền Sư Giới Không. Sư tu theo hạnh đầu đà, khất thực ăn mỗi ngày một bửa, ngủ dưới gốc cây một đêm.

 

Vua Lý Thần Tông (1128-1138) nhiều lần vời về kinh, Sư từ chối mãi, về sau bất đắc dĩ Sư mới nhận lời. Về đến kinh, Vua sắc Sư ở chùa Gia Lâm để giáo hóa.

 

Về già, Sư trở về quê trụ trì chùa làng Tháp Bát quận Mãn Đẩu. Chính Sư trùng tu lại được chín mươi lăm ngôi chùa.

 

Sư phụ giải thích:

Vua Lý Thần Tông là hậu thân của thiền sư Từ Đạo Hạnh. Kiếp trước, Sư Đạo Hạnh là bạn với ngài Minh Không nhân vì Sư giả làm cọp để hù ngài Minh Không nên kiếp này lên làm vua, năm 21 tuổi, vua phải bị quả báo hoá thành cọp và được ngài Minh Không chửa khỏi. Vua Lý Thần Tông làm vua chỉ được 10 năm (1128-1138) thọ 38 tuổi, con là Lý AnhTông lên nối ngôi.

Đặc biệt trong đời tu của Sư Giới Không, chính Sư có trùng tu chín mươi lăm ngôi chùa, để lại cho đất nước Đại Việt khắp nơi nhiều mái chùa đẹp, những ngôi già lam hùng vĩ .

 

 

Một hôm không bệnh Sư nói kệ dạy chúng:

Ngã hữu nhất sự kỳ đặc,
Phi thanh huỳnh xích bạch hắc.
Thiên hạ tại gia xuất gia,
Thân sanh ố tử vi tặc.
Bất tri sanh tử dị lộ,
Sanh tử chỉ thị thất đắc.
Nhược ngôn sanh tử dị đồ,
Trám khước Thích-ca Di-lặc.
Nhược tri sanh tử, sanh tử,
Phương hội lão tăng xứ nặc.
Nhữ đẳng hậu học môn nhân,
Mạc nhận bàn tinh quĩ tắc.

 

HT Thích Thanh Từ dịch:

Ta có một việc kỳ đặc,
Chẳng xanh vàng đen đỏ trắng.
Cả người tại gia, xuất gia,
Thích sanh, chán tử là giặc.
Chẳng rõ sanh tử khác đường,
Sanh tử chỉ là được mất.
Nếu cho sanh tử khác đường,
Lừa cả Thích-ca, Di-lặc.
Ví biết sanh tử, sanh tử,
Mới hiểu lão tăng chỗ náu,
Môn nhân, hậu học, các người,
Chớ nhận khuôn mẫu pháp tắc.

 

Sư phụ giải thích:

Bài kệ của Sư để lại cho đời sau quá tuyệt vời, nói lên tính tự tại thong dong giữa đôi bờ sống và chết, một thông điệp cho hàng đệ tử về sau:

 

Ta có một việc kỳ đặc,

Chẳng xanh vàng đen đỏ trắng 

Sư Phụ giải thích “một việc kỳ đặc, không xanh vàng đen đỏ trắng” là cho thể tánh tịnh minh, chân tâm thường trú, vì là không có tướng trạng, nên không không có màu sắc. Đây là ngôn ngữ cách điệu của thiền sư.

 

Sư Phụ giải thích ý nghĩa của màu lam áo tràng của người Phật tử là màu khói hương, biểu trưng cho sự hoà hợp và vô thường, cuộc đời mỏng manh nên luôn tu tập giữ thân khẩu ý thanh tịnh không gây đau khổ cho người.

 

Cả người tại gia xuất gia,

Thích sanh, chán tử là giặc

Sư Phụ giải thích, là giặc biểu trưng là thủ phạm tận diệt hết thảy các thiện pháp, đưa chúng sanh vào hầm hố khổ đau và biển khổ sanh tử luân hồi. Ngài cảnh báo sanh là khổ. Đức Thế Tôn thấy chúng sanh trôi lăn trong biển khổ của sanh, lão, bệnh tử, nên ngài khởi ý tưởng đi tìm con đường giúp chúng sanh thoát khổ nạn này.

 Sư phụ có nhắc lại bài sám nguyện thời kinh mỗi tối có câu:

Chí phàm phu tự lực khó thành
Cầu Đại Giác từ bi gia hộ

Dầu phải chịu muôn ngàn gian khổ
Con dốc lòng vì đạo hy sinh

Nương từ quang tìm đến bảo thành
Đặng tự giác giác tha viên mãn.

 

Sư phụ giải thích và nhấn mạnh “con dốc lòng vì đạo mà hy sinh” ở đây không phải là hy sinh cho Đạo Pháp mà  chính hy sinh của chính bản thân mình, hy sinh những thú vui vật chất để giữ tâm vững chải thanh tịnh trên đường Đạo, Đạo ở đây không là Đạo Phật mà chính là chân tâm Phật tánh của chính mình. Phải hy sinh hết những ngũ dục lục trần mới có thể thấy được Đạo là vậy.

 

Chẳng rõ sanh tử khác đường

Sanh tử chỉ là được mất

Sư Phụ giải thích, còn sanh tử là còn nghiệp, tu tập là giúp tiêu trừ nghiệp cũ không tạo nghiệp mới, một khi sạch hết nghiệp cũ mà không có thì không còn tái sanh, đạt  vô sanh bất tử là điểm đến cuối cùng của đường tu.

 

Ví biết sanh tử, sanh tử 

Mới hiểu lão tăng chỗ náo.

Chỗ náo của ngài Giới Không là chỗ thong dong tự tại giữa 2 bờ sanh tử.

 

Môn nhân, hậu học, các người

Chớ nhận khuôn mẫu pháp tắc

 

Sư Phụ kể giai thoại tự tại sống chết của thiền sư Chỉ Y khi đến tham vấn Thiền sư Bổn Tịch ở Tào Sơn. TS Tào Sơn hỏi:

“Thế nào là việc của Chỉ Y?”.

Ngài Chỉ Y đáp: “Chiếc áo vừa khoác vào thân, muôn pháp thảy đều như”. Ý nói việc tu tập thấy tánh như ăn cơm mặc áo, quét chùa…thảy thảy đều ở trong thể tánh như.

 TS Bổn Tịch hỏi tiếp:“Thế nào là dụng của Chỉ Y?” Ngài Chỉ Y liền đến gần “Dạ” một tiếng rồi đứng yên mà thị tịch. (tắt thở, thân lạnh…)  nhưng TS Tào Sơn vẫn chưa chấp nhận nên bảo: “Ngươi chỉ giỏi đi (tử) thế ấy, sao chẳng giỏi đến (sanh) thế ấy?”. Ngài Chỉ Y liền mở mắt ra và hỏi lại TS Bổn Tịch: “Một chân tánh linh khi chẳng nương bào thai thì thế nào?”. TS Tào Sơn bảo: “Chưa phải diệu.” Ngài Chỉ Y hỏi: “Thế nào là diệu?” TS Tào Sơn bảo: “Chẳng mượn! Mượn!”. Ngài Chỉ Y nghe xong liền an nhiên chấp tay mà thị tịch.

 Nói kệ xong, Sư cười một tiếng lớn, rồi chắp tay viên tịch. Môn nhân và đệ tử là Châu mục Lê Kiếm sai các tráng đinh lo việc hỏa táng, thu xá-lợi xây tháp tôn thờ, đồng thời đắp tượng Sư để cúng dường tưởng niệm

 

Cuối bài giảng, Sư Phụ diễn ngâm bài thơ tán thán công hạnh của Thiền Sư Giới Không do Thầy Chúc Hiền sáng tán cúng dường Ngài:

 

 Lúc nhỏ vui ưa Phật đạo thiền

Nguyên Hoà tự viện kết nhân duyên

Xuất gia thọ giới hầu thầy học

Tấn đạo nghiêm thân cận pháp nguyền

Giản dị thanh tu nơi chốn vắng

Bình dân tịnh niệm ở am yên

Đầu đà mật hạnh vua quan kính

Tự tại ung dung nối mạch huyền.

 

 

Kính bạch Sư Phụ, hôm nay chúng con được Sư Phụ ban giảng về Thiền Sư Giới Không, suốt đời Sư chuyên thiền định và tu hạnh đầu đà. Lúc ra đi Sư biểu hiện của sự kỳ đặc như bài kệ của Sư để lại cho đời, một thông điệp cho chúng đệ tử xuất gia và cả tại gia, rằng chân tâm thể tánh không có hình tướng, chẳng xanh vàng đen đỏ trắng, nói kệ xong Sư cuời một tiếng lớn rồi chắp tay viên tịch.

 

 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

 

Cung kính và tri ơn Sư Phụ,

Đệ tử Quảng Tịnh Tâm

(Montréal, Canada).       


 

282_TT Thich Nguyen Tang_Thien Su Gioi Khong

Thiền Sư Giới Không
Đời thứ 15 của Thiền Phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi
[Vào thời Vua Lý Thần Tông, (1116 – 1138) ]


Kính dâng Thầy bài trình pháp về Thiền Sư Giới Không. Kính đa tạ Thầy đã phối hợp nhiều Phật sự khi chủ lễ cúng cầu siêu mà chỉ rõ điều người học Đạo cần nắm rõ để liễu thoát sinh tử về nơi Cực Lạc mà diễn giải tỏ tường từng câu bài kệ siêu phàm về Sinh Tử của Thiền Sư Giới Không để tìm ra Giặc là ai, đó là thủ phạm đưa chúng sanh vào vào biển khổ , đó là kẻ đã phá hoại các thiện pháp sinh ra và tự đào hầm đào hố đi vào tử huyệt. Kính đảnh lễ và tri ân Thầy với bài pháp thoại tuyệt vời. Kính bạch Thầy, càng ngày dường như sự hiểu biết của con đã khá thay đổi từ khi nghe hơn 282 bài pháp thoại của Thầy rồi ...có một sự dung thông giữa Nguyên thủy và Tổ Sư Thiền một cách kỳ diệu. Kính chúc Thầy pháp thể khinh an, HH

Ngày nay người học  Đạo đã chiêm nghiệm được gì, đã tư duy gì trước bài  kệ trước khi thị tịch của Thiền Sư Giới Không thật siêu phàm, quá tuyệt vời .....

          (Ngã hữu nhất sự kỳ đặc,   

          Phi thanh huỳnh xích bạch hắc. 

          Thiên hạ tại gia xuất gia,    

          Thân sanh ố tử vi tặc.        

          Bất tri sanh tử dị lộ, 

          Sanh tử chỉ thị thất đắc.      

          Nhược ngôn sanh tử dị đồ, 

          Trám khước Thích-ca Di-lặc.

          Nhược tri sanh tử, sanh tử, 

          Phương hội lão tăng xứ nặc.

          Nhữ đẳng hậu học môn nhân,

          Mạc nhận bàn tinh quĩ tắc.)        

Dịch Việt / HT Thích Thanh Từ 

          Ta có một việc kỳ đặc,

          Chẳng xanh vàng đen đỏ trắng.

          Cả người tại gia, xuất gia,

          Thích sanh, chán tử là giặc.

          Chẳng rõ sanh tử khác đường,

          Sanh tử chỉ là được mất.

          Nếu cho sanh tử khác đường,

          Lừa cả Thích-ca, Di-lặc.

          Ví biết sanh tử, sanh tử,

          Mới hiểu lão tăng chỗ náu,

          Môn nhân, hậu học, các người,

          Chớ nhận khuôn mẫu pháp tắc.

Vì xưa nay hầu hết phàm nhân trên thế gian mỗi khi nhắc đến cái chết , không ai thích bàn luận tới  mỗi khi bước  qua cái tuổi thất thập cổ lai hy và khi được đề cập  đến ....nhưng đối với thiền sư Giới Không  thì  khác hẳn ....

Trước  khi mất, Ngài  gọi đệ tử đến dạy hai lẽ "sống" và "chết" không khác nhau nên đừng có sợ hãi: "Nếu cho sanh và tử khác đường thì lừa cả Thích Ca, Di Lặc", nói xong cười to một tiếng vang động thiền đường, rồi chắp tay qua đời..

Phải chăng điều Ngài muốn nhắn gửi là phải thấy được Ông Phật của chính mình ( Chân Tâm ) trước khi liễu ngộ được sinh tử 

Và Đạo hiệu Giới Không của Ngài đã biểu hiện tất cả!!! 

GIỚI được nhắc tới như một phần trong ba nhóm của Bát chính đạo, một trong Tam học cũng là một của các hạnh Ba-la-mật-đa.

KHÔNG ( một trong những tư tưởng căn bản, cốt lõi của giáo lý đạo Phật, từ Nguyên thủy, Bộ phái đến Đại thừa.) 

Chính nhờ hành trì quyết liệt sau khi nhận ra được yếu chỉ rằng giáo lý Không của đạo Phật thật thâm thúy , nhờ đó Ngài chỉ rõ cái Thể Tánh Tịnh Minh vi diệu biết dường nào, chẳng những nó đáp ứng cho nhu cầu giải thích sự hình thành và biến thiên của vạn pháp, mà còn giúp cho những người chưa giác ngộ, những người đang vướng kẹt vào tự ngã tháo gỡ được mọi gút mắc, tìm cho mình lối đi thanh thản, hạnh phúc chân thật giữa cuộc đời, và đừng sợ hãi khi nghe chuyện sống chết !!!



Kính ngưỡng danh Tăng công hạnh tuyệt vời như Đạo Hiệu ! 

Giới Không Thiền Sư ....bài kệ sinh tử siêu phàm (1) 

Năm năm am tranh thiền định, Đầu Đà hạnh sáu năm (2) 

 Công phu hành trì .... sự quyết liệt, chuẩn bị rất kỹ 

"Để biến  nhập trần lao, tác Phật sự ! "

Trụ trì Gia Lâm , Tháp Bát cùng trùng tu 95 thiền tự (3)

Nghĩa cao siêu thâm thuý "lý Không"  xiển dương 

Tuy khuyết lục... nay Minh Sư Quảng Phước đã tỏ tường (4) 

Kính đa tạ Giảng Sư ...  Thiền sư Chỉ Y khơi nhắc lại 

Thong dong giữa đôi bờ Sanh tử .......tự tại! 

Cách xa gần ba trăm năm, 

........triệt  ngộ pháp cũng đồng nhau  (5) 

Tìm được chân tâm không hình tướng sắc màu(6) 

Nhân dịp này ....

màu áo lam cư sĩ " Vô thường, đồng sự , hoà hợp "

Kính tri ân Giảng Sư, 

.....lời khai thị cúng cầu siêu ...nghĩa cao tột 

Sau dâng cơm,  nhị trà châm ....đáng nhớ ghi (7) 

Âm siêu, dương thới.. tự mình  giác ngộ khó bì 

Tìm được Ông Phật Tâm sẽ liễu tri sanh tử !



Nam Mô Thiền Sư Giới Không tác đại chứng minh .

Huệ Hương 

Melbourne 7/9/2021 



Chú thích 

(1) Một hôm không bệnh Sư nói kệ dạy chúng:

          Ta có một việc kỳ đặc,

          Chẳng xanh vàng đen đỏ trắng.

          Cả người tại gia, xuất gia,

          Thích sanh, chán tử là giặc.

          Chẳng rõ sanh tử khác đường,

          Sanh tử chỉ là được mất.

          Nếu cho sanh tử khác đường,

          Lừa cả Thích-ca, Di-lặc.

          Ví biết sanh tử, sanh tử,

          Mới hiểu lão tăng chỗ náu,

          Môn nhân, hậu học, các người,

          Chớ nhận khuôn mẫu pháp tắc.

          (Ngã hữu nhất sự kỳ đặc,   

          Phi thanh huỳnh xích bạch hắc. 

          Thiên hạ tại gia xuất gia,    

          Thân sanh ố tử vi tặc.        

          Bất tri sanh tử dị lộ, 

          Sanh tử chỉ thị thất đắc.      

          Nhược ngôn sanh tử dị đồ, 

          Trám khước Thích-ca Di-lặc.

          Nhược tri sanh tử, sanh tử, 

          Phương hội lão tăng xứ nặc.

          Nhữ đẳng hậu học môn nhân,

          Mạc nhận bàn tinh quĩ tắc.)   
       

Nói kệ xong, Sư cười một tiếng lớn, rồi chấp tay viên tịch. 

Môn nhân và đệ tử là Châu mục Lê Kiếm sai các tráng đinh lo việc hỏa táng, thu xá-lợi xây tháp thờ, đồng thời đắp tượng Sư để cúng dường.tưởng niệm 

(2)

Theo Thầy tu học mấy năm, Sư nhận được ý chỉ.

Sau, Sư đến Lịch Sơn dựng một am nhỏ, chuyên tu thiền định khoảng năm, sáu năm. Rời am, Sư chống gậy xuống núi, tùy phương hóa đạo. Trên đường ngang qua vùng Nam Sách, Sư lại vào trong hang đá Thánh Chúa cấm túc sáu năm, tu hạnh đầu-đà.

 13 điều cần phải thực thi khi giữ hạnh Đầu Đà 

1. Y phục làm bằng những mảnh vải rách.

2. Chỉ dùng ba y.

3. Khất thực mà ăn.

4. Chỉ ăn một bữa vào giờ trưa.

5. Không ăn quá no.

6. Không giữ tiền bạc.

7. Sống độc cư.

8. Sống trong nghĩa địa.

9. Sống dưới gốc cây.

10. Sống ngoài trời.

11. Không ở cố định, thường du hành.

12. Ngồi ngủ, không nằm ngủ.

13. Chỉ dùng bình bát. 

(3) Vua Lý Thần Tông (1128-1138) nhiều lần vời về kinh, Sư từ chối mãi, sau bất đắc dĩ mới nhận lời. Về đến kinh, vua sắc Sư ở chùa Gia Lâm để giáo hóa.

Về già, Sư trở về quê trụ trì chùa làng Tháp Bát quận Mãn Đẩu. Chính Sư trùng tu lại được chín mươi lăm ngôi chùa.

(4) Trong Việt Nam Phật Giáo Sử Luận của HT Thích Nhất Hạnh đã dựa vào hành trạng của đệ tử (Thiền Sư Giới Không ) mới biết được lý lịch (Thiền Sư Quảng Phước ) bị khuyết lục 

Thế hệ thứ mười ba: Huệ Sinh (mất năm 1063), Thiền Nham (mất năm 1163), Minh Không (mất năm 1141), Bản Tịch (mất năm 1140) và hai người khuyết lục (có thể là Pháp Thông bạn đồng môn của Huệ Sinh và Biện Tài, giáo sư của Khánh Hỷ).

Thế hệ thứ mười bốn: Khánh Hỷ (mất năm 1142) và bốn vị khuyết lục trong đó có thể là Tính Nhãn và Tính Như, hai người bạn đồng môn, và Quảng Phúc, thầy của Giới Không.

Thế hệ thứ mười lăm: Giới Không (mất năm?), Pháp Dung (mất năm 1174) và một người khuyết lục, có lẽ là Thảo Nhất chùa Tĩnh Lự, thầy của Chân Không.

(5) Câu chuyện Thiền Sư Chỉ Y tự tại khi viên tịch còn ghi trong Ngữ Lục của Ngài Bổn Tịch Động Sơn (840-901) Tổ thứ hai của phái Tào Động 

 Thiền giả Chỉ Y đến tham vấn. Sư hỏi:

– Chỉ Y đó chăng?

– Dạ, không dám! _ Chỉ Y đáp.

Sư hỏi: Thế nào là việc của Chỉ Y?

Chỉ Y đáp: Áo lông cừu vừa mặc, vạn pháp thảy đều như!

Sư hỏi: Thế nào là dụng của Chỉ Y?

Chỉ Y đến gần cất tiếng dạ rồi thoát hóa.

Sư liền nói: Ngươi chỉ biết đi như thế, sao chẳng biết đến như thế?

Chỉ Y bỗng nhiên mở mắt hỏi: Chơn tánh minh linh, khi chẳng gá bào thai, thì thế nào?

Sư đáp: Chưa phải là diệu!

Chỉ Y hỏi: Thế nào mới là diệu?

Sư đáp: Chẳng gá mà gá!

Chỉ Y tạm biệt rồi thị tịch.

Sư làm bài tụng:

Giác tánh viên minh không tướng thân

Chớ đem tri kiến luận xa gần

Niệm khác, khiến cho Huyền thể ngại

Tâm sai, chẳng hợp đạo tương lân

Tình phân, vạn pháp chìm tiền cảnh

Thức chia, trăm mối mất bản chân

Trong câu, như thế toàn liễu ngộ

Rõ ràng vô sự, Tích thời nhân! (Người  bản lai)

(6) 

Trong câu thứ hai của bài kệ thị tịch           

Ta có một việc kỳ đặc,

Chẳng xanh vàng đen đỏ trắng.

Màu vàng là màu của trí tuệ 

Màu xanh màu của hy vọng 

Màu trắng màu của sự thanh tịnh 

Màu đen là màu của u ám , tang tóc 

Màu đỏ lòng từ bi,

 Màu lam chỉ sự vô thường , màu của khói hương 

(7) 

Bài   kệ trong các buổi lễ cầu siêu người quá vãng được các Thầy xướng khai thị sau khi dâng cơm và cúng trà lần thứ hai 

***............

Thấy Phật ngộ pháp tánh 

Kiến Phật liễu sinh tử 

Như Phật độ nhất thiết 

Vô biên phiền não đoạn 

Vô lượng pháp môn tu 

Thệ nguyện độ chúng sanh 

Đều trọn thành Phật Đạo ..



 

facebook-1
***
youtube
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/12/202109:05(Xem: 147)
Già San Đường Trí Quán Đại Tông Sư, vị đại học giả, vị Luật sư, Thiền sư nổi tiếng, vị Tổng vụ trưởng xuất sắc trong việc quản lý các vấn đề hành chính Phật giáo. Ngài được ca tụng lảu thông Tam tạng giáo điển, lý sự viên dung. Già San Đường Trí Quán Đại Tông Sư (가산당 지관대종사, 伽山堂 智冠大宗師, 1932-2012) tục danh Lý Hải Bằng (이해붕, 李海鵬), theo tộc phả tên Chung Bằng (종붕, 鍾鵬), Tổng vụ Viện trưởng Thiền phái Tào Khê đời thứ 32, Phật giáo Hàn Quốc, hiệu Già Sơn đường Trí Quán Đại tông sư (가산당지관대종사, 伽山堂智冠大宗師), sinh ngày 14/6/1932 (05/11/Nhâm Thân), nguyên quán làng Cheonghae-myeon, huyện Gyeongju, tỉnh Gyeongsangbuk-do, Đại Hàn. Phụ thân của Ngài là cụ ông Lý Khuê Bạch (이규백, 李圭白) và Hiền mẫu của Ngài là cụ bà Kim Tiên Y (김선이, 金先伊). Gia đình truyền thống Phật giáo lâu đời, kính tin Tam bảo.
26/11/202119:42(Xem: 255)
“‘Giống như một vị Bồ Tát’ là người mà tôi có thể mô tả về thuyền trưởng Jeon Je Young,” ông Nguyễn Hùng Cường, người tổ chức lễ tưởng niệm vị thuyền trưởng vừa qua đời, tại chùa Huệ Quang, Santa Ana, nói hôm Thứ Bảy, 14 Tháng Mười Hai. Ông Cường là một trong 96 người được vị thuyền trưởng vớt trong hành trình vượt biển vào lúc 6 giờ 45 phút chiều ngày 14 Tháng Mười Một, 1985, trong lúc chiếc thuyền chở ông đang lênh đênh trên Biển Đông, bị nhiều tàu khác làm lơ trước đó. Ông Cường nói thêm: “Ông là ‘tộc trưởng’ của nhóm 96 người chúng tôi. Ông vừa ra đi với hai bàn tay trắng, nhưng ông để lại biết bao yêu thương của không những 96 người, mà với cộng đồng Việt Nam.”
16/11/202118:12(Xem: 181)
Sào Phủ Hứa Do là tên một tích truyện cổ Trung Quốc, lấy tên hai nhân vật trong đó là Sào Phủ (chữ Hán:巢父) và Hứa Do (許由). Theo truyền thuyết, hai nhân vật này sống đời vua Nghiêu. Câu chuyện như sau (lời đối thoại theo "Chuyện giải buồn" của Huỳnh Tịnh Của): Hứa Do được tiếng là người hiền, vua Nghiêu vời vào để truyền ngôi. Hứa Do từ chối, cười mà về rồi ra suối rửa tai. Khi đó, Sào Phủ mới dắt trâu tới suối uống nước, thấy Hứa Do rửa tai, bèn hỏi tại sao. Hứa Do trả lời: "Ông Nghiêu đòi tôi, biểu tôi thì làm vua." Sào Phủ bèn dắt trâu bỏ lên trên giòng nước cho uống. Hứa Do hỏi tại sao, Sào Phủ đáp: "Anh rửa tai anh xuống đó tôi sợ trâu tôi uống nhằm." Sào Phủ lại nói: "Anh đi đâu cho người ta biết vua mà muốn nhường ngôi vua cho anh, ấy là tại bụng anh vẫn còn danh lợi." Huỳnh Tịnh Của phê rằng, "Nghe mà rửa, chi bằng giữ vẹn đừng nghe."
16/11/202109:48(Xem: 445)
Sức mạnh của thiên nhiên rốt cuộc đáng sợ như thế nào? Thông qua những hình ảnh dưới đây, chúng ta cùng cảm nhận. Ngày nay, dưới vòng hào quang của sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, rất nhiều người đã dần quên rằng, con người thực tế chỉ là một bộ phận của thiên thiên. Thế nên con người mới sinh ra tư tưởng làm chủ thiên nhiên, cải tạo thiên nhiên, ‘bắt thiên nhiên’ phục vụ con người, và lầm tưởng rằng, thiên nhiên cũng chẳng qua như thế mà thôi. Con người đã đánh mất cái tâm kính úy đối với thiên nhiên. Nhưng sự thực có thực như vậy không? Trước sức mạnh tuyệt đối của thiên nhiên, tất cả những gì mà chúng ta lấy làm tự hào đều bị hủy diệt trong khoảnh khắc. Khi núi lửa Kilauea phun trào ở Hawaii, dùng nham thạch nóng chảy giống như một dòng sông của địa ngục...
16/11/202109:09(Xem: 586)
Hạnh phúc luôn là “KPI” của mỗi người và mỗi quốc gia. Mỗi người hạnh phúc sẽ góp phần xây nên một một quốc gia hạnh phúc. Vậy quốc gia nào hạnh phúc nhất thế giới? Hãy cùng mayvesinhmienbac.com.vn gọi tên top 10 quốc gia hạnh phúc nhất thế giới trong năm 2021 nhé!
08/11/202110:42(Xem: 304)
Mấy em tôi gọi điện thoại qua mét, giọng bực bội: “ Chị nói với Ba. Ổng bệnh vậy mà cứ lén hút thuốc hoài.” Ba tôi đã trên chín mươi và đang bị ung thư gan. Ai cũng nói ung thư gan sẽ đi rất nhanh. Ba tôi đã chuẩn bị tinh thần. Má tôi và chị em tôi cũng đã chuẩn bị tinh thần cả rồi nhưng ba vẫn kiên cường trụ được hơn ba năm dù lâu lâu phải cấp cứu. Bản thân tôi đã hơn ba lần bay về để tiễn biệt ba. Tụi nó mét tôi vì nghĩ rằng tôi là chị lớn, lại là người cung cấp tài chánh cho ông cụ mấy chục năm nay. Chúng tin là tôi có uy tín với ông nhất. Tôi hỏi lại:” Lén hút là sao?”
06/11/202118:35(Xem: 299)
Kinh Hoa Nghiêm là tên gọi tắt của bộ ‘Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh’ do Ngài Long Thọ Bồ tát viết ra vào thế kỷ thứ 2, tức khoảng 600 năm sau khi Đức Thích Ca Mâu Ni nhập diệt. Hoa Nghiêm (Avatamsaka) có nghĩa là đóa hoa tuyệt đẹp, thanh khiết. Phần Hán tự đã được dịch ra từ thế kỷ thứ 5, dưới ba hệ thống Bát Nhã (40 quyển), Giác Hiền (60 quyển) và Nan Đà (80 quyển) . Nhập-Pháp-Giới (Gandavyuha) là phẩm thứ 39 trong số 40 phẩm, cũng là phẩm dài nhất, tiêu biểu cho giáo lý căn bản của kinh Hoa Nghiêm nói riêng và Phật giáo Đại thừa nói chung, diễn tả con đường cầu đạo của ngài Thiện Tài Đồng Tử qua 52 vị Thiện Tri Thức dưới nhiều hình tướng, khởi đầu là ngài Văn Thù Sư Lợi, chư Thiên, Dạ thần, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Đức Phật Di Lặc..., và cuối cùng là Ngài Phổ Hiền.
04/11/202116:27(Xem: 287)
Sau khi lên ngôi không lâu, Tào Phi tìm cách trừ khử mọi mối nguy hiểm với ngai vàng của ông. Trong số đó có em trai ruột – Tào Thực cũng trở thành mục tiêu. Tào Thực nổi tiếng với tài thơ văn xuất chúng hơn người. Tài năng này của ông được các sử liệu công nhận và cả trong các tác phẩm văn học đề cập đến ông. Trong Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, Tào Phi khi mới lên ngôi vua, trước mặt quần thần đã ép Tào Thực nội trong bảy bước chân phải làm một bài thơ về đề tài huynh đệ, và trong thơ không được có 2 từ huynh đệ, nếu không được sẽ xử chết.
04/11/202112:11(Xem: 753)
306. Thiền Sư Tịnh Giới (? - 1207) Đời thứ 10, Thiền Phái Vô Ngôn Thông (Vào thời Vua Lý Anh Tông) Đây là Thời Pháp Thoại thứ 306 của TT Nguyên Tạng từ 6.45am, Thứ Năm, 04/11/2021 (30/09/Tân Sửu) 🙏🌷🙏🌼🙏🌺🙏🌹🌺🍀💐🌼🌹🥀🌷🌸🏵️🌻🌺🍀💐🌼🌹🥀🌷🌸🏵️ Múi giờ : pháp thoại của TT Trụ Trì Thích Nguyên Tạng (trong thời gian cách ly vì đại dịch Covid-19) về chư vị Tổ Sư Ấn Độ, Trung Hoa, Việt Nam…) - 06: 45am (giờ Melbourne, Australia) - 12:45pm (giờ Cali, USA) - 03:45pm (giờ Montreal, Canada) - 09:45pm (giờ Paris, France) - 02:45am (giờ Saigon, Vietnam) 🙏🌷🙏🌼🙏🌺🙏🌹 💐🌹🥀🌷🍀💐🌼🌸🏵️🌻🌼💮🍂🍁🌾🌱🌿🍃 Youtube: Tu Viện Quảng Đức (TT Thích Tâm Phương, TT Thích Nguyên Tạng, Melbourne, Australia) https://www.youtube.com/channel/UCxfUXUxU65FtOjrehu9zMMw Facebook: https://www.facebook.com/ThichNguyenTang/
02/11/202108:01(Xem: 1058)
305. Thiền Sư Minh Trí (? - 1196) Đời thứ 10, Thiền Phái Vô Ngôn Thông (Vào thời Vua Lý Cao Tông) Đây là Thời Pháp Thoại thứ 305 của TT Nguyên Tạng từ 6.45am, Thứ Ba, 02/11/2021 (28/09/Tân Sửu) 🙏🌷🙏🌼🙏🌺🙏🌹🌺🍀💐🌼🌹🥀🌷🌸🏵️🌻🌺🍀💐🌼🌹🥀🌷🌸🏵️ Múi giờ : pháp thoại của TT Trụ Trì Thích Nguyên Tạng (trong thời gian cách ly vì đại dịch Covid-19) về chư vị Tổ Sư Ấn Độ, Trung Hoa, Việt Nam…) - 06: 45am (giờ Melbourne, Australia) - 12:45pm (giờ Cali, USA) - 03:45pm (giờ Montreal, Canada) - 09:45pm (giờ Paris, France) - 02:45am (giờ Saigon, Vietnam) 🙏🌷🙏🌼🙏🌺🙏🌹 💐🌹🥀🌷🍀💐🌼🌸🏵️🌻🌼💮🍂🍁🌾🌱🌿🍃