Đôi tượng Phật.

10/04/201311:41(Xem: 4846)
Đôi tượng Phật.

Đôi tượng Phật

Chiều dần buông, khách vãn chùa lần lượt ra về, chùa Bảo Quang trở lại ninh tịnh, yên ắng. Pháp sư Trí Thông bảo đám đệ tử hồi phòng ngơi nghỉ, còn tự mình quét dọn nhà chùa, phủi sạch bụi bặm trần ai, xua tan mọi huyên náo nóng nực của cả một ngày.

Khi đến bên tượng đồng Phật Tổ tọa ở hậu điện, làn chổi của Trí Thông khẽ chạm vào thân hình một người đang nằm co ro trên nền chùa và do đó khiến anh ta tỉnh giấc.

“Lạ thật, đến giờ này mà vị khách còn chưa chịu về?”. Trí Thông suy ngẫm, nghi hoặc. Người khách vội vàng đứng dậy, lễ phép thưa trình: “Tượng Phật đây vô cùng hiền từ sinh động, thần thái siêu phàm, thoạt trông đã không nén nổi cảm xúc nên vội vàng ghi lại đôi ba nét quý giá này. Đang khi lim dim suy nghĩ và thể hội hết vẻ đẹp diệu kỳ của pho tượng thì lạc vào cõi mộng lúc nào không hay và làm sư thầy bận tâm, thật có lỗi, dám xin sư thầy xá tội”.

Trí Thông đảo mắt nhìn người khách ăn bận giản dị, thân hình gầy gò với cặp kính trắng che đôi mắt long lanh, trên tay còn cả tập ký họa, nhà sư mỉm cười:“Con có thể cho ta xem những họa phẩm kia không?”.

“Dạ không dám, mong sư thầy đừng cười”, nói đoạn, người khách đưa cho Trí Thông tập ký họa. Quả nhiên trên trang giấy mỏng manh, những đường nét sinh động, hiền từ và cả thần thái siêu phàm của pho tượng Phật Tổ được khắc họa. Xem xong, ánh mắt Trí Thông ôn hòa trở lại, nhà sư hỏi: “Tượng Phật trong chùa có đến cả trăm, cớ sao con chỉ thích vẽ mỗi pho tượng này?”.

Người khách tươi cười: “Có thể con còn ngu dại, mong sư thầy bỏ qua, con mới dám nói… Theo con, các tượng khác đều là phàm tục, chỉ mỗi pho tượng này còn mang được đôi phần tiên khí.

Đầu óc Trí Thông bừng nóng, nhà sư nắm tay người khách, “Đi theo ta”, dẫn về phòng riêng của mình.

Trí Thông mời khách ngồi, dâng trà và nói: “Con thật có kiến giải, ta xem như thượng khách. Con thấy đấy, trong chùa này ngoài pho tượng đồng Phật Tổ, còn lại đều là giả!”.

“Đều là giả?”, người khách vặn hỏi.

“Những tượng Phật mà người trụ trì trước ta để lại, mười mấy năm nay đã hư hỏng, phải dựng mới. Nhưng thợ bây giờ khác trước xa, hồi ấy, tâm trung hữu Phật, thành tâm điêu khắc, bàn tay và tấm lòng là một, tạo nên tượng phẩm. Còn ngày nay, tâm trung vô Phật, chỉ nặn được hình hài mà không mang được thần sắc, âu cũng để lừa dối kẻ tục nhân. Những hoành phi, thư pháp treo ở đây cũng thế, toàn là bản sao, chính bản đã đưa về bảo tàng di tích (!) và đến cả hòa thượng cũng giả… con ạ (!)”.

“Sao? Hòa thượng cũng giả”.

“Ăn chay, mặc thiền mà lòng không quy Phật thì làm sao gọi là hòa thượng được? Ta có vài chục đệ tử nhưng chân tâm hướng Phật thì đã dễ mấy ai. Thân kề bên Phật mà lòng mong trần tục, cho nên họ cũng xem những Phật kia là giả, đều do đất đắp dựng và không cung kính”.

Người khách gật đầu lia lịa: “Sư thầy có lý, song những thứ giả ấy cũng không ngăn được tấm lòng thành của khách hành hương, mấy năm trở lại đây, nhà chùa vẫn đông vui, hương khói vẫn ấm áp kia mà?”.

“Cho nên ta không thể nhẫn tâm dùng cái giả để đánh lừa cái thật của mọi người. Nhưng trong những đoàn người hành hương vãn chùa đã mấy ai phân biệt được thật, giả?”. Nói đến đây Trí Thông đột nhiên đứng dậy: “Hiếm ai như con, có đôi mắt tinh tường, ta sẽ đưa con xem một cái thật nữa”.

Lát sau Trí Thông từ phòng trong bước ra, tay ôm hộp cẩm. Nhà sư mở hộp, lần giở lớp lụa mỏng thì hiện ra tượng Phật bằng ngọc, tư thế nằm nghiêng, đầu gối trên tay, kích thước cỡ bằng cuốn sách nhưng nom như hài nhi sơ sinh, sáng long lanh và vô cùng diễm lệ.

Người khách kinh ngạc, vội vàng đứng lên, mắt đắm vào ngọc Phật, hai tay giơ ra mà không dám chạm vào vật quý.

“Sao con?”.

“Tuyệt phẩm, vừa thoát khỏi trần tục, vượt lên thần khí, lại quy phục tự nhiên, con ngỡ Người sẽ nói điều gì, không dám chạm vào, sợ làm Người đau”.

Lòng Trí Thông xốn xang như lửa cháy, hận một điều là kẻ tu hành nên không tỏ bày tâm đắc cùng bạn tri âm kia.

“Con biết không? Ngọc phật bao giờ cũng thành đôi, pho kia còn tuyệt mỹ hơn pho này nữa”.

“Cầm bằng sư thầy cho xem ngọc Phật cả đôi thì dù cho từ hôm nay mắt con có vì thế mà mù lòa, không còn thấy gì nữa, con cũng cam lòng”.

Trí Thông vui mừng khôn tả, nhà sư lướt đi như bay, ôm ra hộp thứ hai…

… Khói trà vẫn nghi ngút tỏa lan, nhưng “kẻ tri âm” và ngọc Phật thì không còn nữa, vỏ hộp cẩm rơi xuống nền chùa.

Màn đêm buông xuống, chùa Bảo Quang ninh tịnh như bao năm xưa không dấu chân người.

Trí Thông mặt tràn lệ chảy, quỳ trước tượng Phật, mong tìm được một lời đáp từ trong khóe mắt và nụ cười hiền từ của Ngài, vì sao trên thế gian trần tục này, người ta xem cái giả là chân thật mà thờ phụng, chiêm ngưỡng, ngược lại cái thật lại cho là giả dối mà vứt bỏ, chối từ.

PHAN PHONG (Theo Tuyển tập Truyện ngắn Trung Quốc)

----o0o---

Nguồn: http://www.sggp.org.vn/SGGP12h/2007/9/119990/
Trình bày: Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/01/2018(Xem: 16231)
Hồi còn tại thế xưa kia Trên đường giáo hóa Phật đi qua làng Ngài đi cùng ông A Nan Khai tâm gieo ánh đạo vàng giúp dân. Đang đi ngài bỗng dừng chân Bước quanh lối khác có phần xa thêm Ông A Nan rất ngạc nhiên Vội lên tiếng hỏi. Phật liền giảng ra: "Này A Nan phía trước ta Có quân giặc cướp thật là hiểm nguy Sau ta ba kẻ đang đi Gặp quân giặc đó khó bề thoát qua!"
08/01/2018(Xem: 14782)
Ở bên Ấn Độ thuở xưa Nơi thành Xá Vệ, buổi trưa một ngày Gia đình kia thật duyên may Phật thương hóa độ, dừng ngay tại nhà, Tiếc thay chồng vợ tỏ ra Tham lam, độc ác, xấu xa, hung tàn. Hóa thành một vị đạo nhân Phật đi khất thực dừng chân trước thềm Ôm bình bát, đứng trang nghiêm, Anh chồng đi vắng, vợ liền nhảy ra Tay xua đuổi, miệng hét la
07/01/2018(Xem: 9702)
Sau mỗi lần có dịp viếng thăm các chứng tích như tượng đài, lăng mộ, viện bảo tàng, nhà lưu niệm, ..., của những nhân vật mà cuộc đời phần nào liên quan đến đời sống vật chất hay tinh thần, sự thịnh suy ,... của một nhóm người, một dân tộc, một vùng, một quốc gia,..., tôi ra về lòng những bâng khuâng với hai câu : Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ ? trong bài thơ Ông Đồ của nhà thơ Vũ Đình Liên.
21/12/2017(Xem: 5915)
Anh sinh ra và lớn lên ở miền gió cát khô nóng Phan Rang. Là một Phật tử thuần thành, lại được phước báu khi có đến hai người con trai xuất gia, nên nhân duyên đưa đẩy đã trở thành đạo hữu của tôi qua nhiều lần hội ngộ lạ lùng ở các thiền viện thuộc dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Kết tình đạo hữu với nhau đã gần mười năm rồi, mỗi lần gặp mặt, tôi và anh đều tay bắt mặt mừng, trò chuyện thân mật, nhưng người huyên thiên lúc đàm đạo là anh, còn tôi thì cứ chỉ biết gật gù, mỉm cười, họa hoằn lắm mới buông một đôi câu phụ họa. Anh quý mến tôi ở điểm đó.
15/12/2017(Xem: 12432)
Hương Lúa Chùa Quê" Bản Tình Ca Quê Hương của nhị vị Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và Thích Như Điển. Sau khi đọc tác phẩm “Hương Lúa Chùa Quê” chúng con không dám mong ước giới thiệu sự nghiệp văn học, văn hóa cả đạo lẫn đời của nhị vị Hòa Thượng. Vì công trình tạo dựng sự nghiệp của các bậc xuất sĩ không nằm trong “nguồn văn chương sáng tác”. Vì xuyên qua mấy chục năm hành đạo và giúp đời, nhị vị đã xây dựng nhiều cơ sở Phật giáo đồ sộ trên nhiều quốc độ khác nhau như: chùa Pháp Bảo tại nước Úc; chùa Viên Giác và Tu viện Viên Đức tại nước Đức. Nhị vị cũng đã mang ánh Đạo vàng đến khắp muôn nơi, soi sáng cho bước chân “người cùng tử” được trở về dưới mái nhà xưa, để thấy lại “bóng hình chân nguyên”; dẫn đường cho những người chưa thể “tự mình thắp đuốc lên mà đi” được tìm lại “bản lai diện mục”. Đó mới gọi là “sự nghiệp” của bậc xuât sĩ. Điều nầy đã có lịch sử ghi nhận từ mạch nguồn công đức biểu hiện và lưu truyền.
15/12/2017(Xem: 129124)
Trải hơn 25 thế kỷ, Chánh Pháp của Phật vẫn được tuyên dương và lưu truyền bởi hàng đệ tử xuất gia lẫn tại gia, đem lại giải thoát và giác ngộ cho những ai học hỏi và thực hành đúng đắn. Chánh Pháp ấy là thuốc hay, nhưng bệnh mà không uống thì chẳng phải là lỗi của thuốc. Trong kinh Di Giáo, đức Phật cũng ân cần huấn thị lần chót bằng những lời cảm động như sau: “Thể hiện lòng đại bi, Như Lai đã nói Chánh Pháp ích lợi một cách cứu cánh. Các thầy chỉ còn nỗ lực mà thực hành… Hãy tự cố gắng một cách thường trực, tinh tiến mà tu tập, đừng để đời mình trôi qua một cách vô ích, và sau này sẽ phải lo sợ hối hận.” Báo Chánh Pháp có mặt để góp phần giới thiệu đạo Phật đến với mọi người. Ước mong giáo pháp của Phật sẽ được lưu chuyển qua những trang báo nhỏ này, mỗi người sẽ tùy theo căn tánh và nhân duyên mà tiếp nhận hương vị.
29/11/2017(Xem: 8791)
Trong loạt bài Kể Chuyện Đường Xa lần này, người viết đặt thêm tên cho mục này Vòng Quanh Thế Giới, để có cùng tên với loạt phóng sự sẽ đưa lên tvtsonline.com.au với nhạc hiệu mở đầu của bài “Vòng quanh thế giới” người viết sáng tác gần bốn thập niên trước đây. Từ năm 1990, chúng tôi đã bắt đầu viết bút ký với chuyến đi Bangkok (Thái Lan) và loạt bài cuối cùng là chuyến du lịch Âu Châu vào năm 2015.
27/11/2017(Xem: 7285)
Nếu chấp nhận thuyết nhân duyên của Đạo Phật thì có thể dễ dàng, giải thích cho mọi tình huống và mọi sự việc xảy ra trong cuộc đời nầy. Nhân duyên hay duyên sanh cũng tương tự với nhau. Đó là: „Cái nầy có cho nên cái kia có; cái nầy sanh cho nên cái kia sanh. Cái nầy diệt, cho nên cái kia cũng diệt theo“. Không ai trong chúng ta có thể biết trước được việc gì sẽ xảy đến cho mình về sau nầy cả; dầu cho chúng ta có cố gắng làm mọi việc tốt đẹp trong hiện tại; nhưng dư báo trong quá khứ, ai biết được thiện, ác còn lại bao nhiêu mà lường được. Chỉ khi nào nắp quan tài đậy lại trong kiếp nầy, thì lúc ấy ta mới biết được cái quả trong hiện tại là cái nhân như thế nào mà trong quá khứ của chúng ta đã gây ra và chính cái quả của ngày hôm nay sẽ là cái nhân cho ngày sau nữa.
01/11/2017(Xem: 6767)
Hôm nay ngày 1.11 tôi viết bài này chỉ nhằm kể một câu chuyện thực tế lịch sử; vì đâu, nguyên nhân, tôi xin miễn đào sâu vì cũng không có đủ hiểu biết, thời gian và cũng không phải mục đích tôi muốn chia sẻ ở đây! Ba mẹ tôi đều sinh ra và lớn lên tại Huế, học xong tú tài ở trường Khải Định năm 1955 (tên lúc bấy giờ của trường Quốc Học Huế). Giai đoạn đó đất nước vừa chia đôi, TT Ngô Đình Diệm vừa chấp chính. Ông Diệm xuất thân từ gia đình quan lại, bản thân ông cũng từng đỗ đạt ra làm thượng thư như cha của ông là Ngô Đình Khả, anh là Ngô Đình Khôi, nên rất trọng bằng cấp, học vấn như lối suy nghĩ của tầng lớp trí thức nho học thời bấy giờ. Vì vậy ông Diệm rất ưu tiên cho ngành giáo dục, đặc biệt trong giai đoạn sau 1954 khi người Pháp rời khỏi VN, cần xây dựng một nền giáo dục bản xứ thay thế cho nền giáo dục thuộc địa của Pháp.
19/10/2017(Xem: 21963)
Truyện thơ: Hoàng Tử Khéo Nói và Con Thủy Quái, (thi hóa, phỏng dịch theo bản văn xuôi PRINCE GOODSPEAKER AND THE WATER DEMON của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson) , Ngày xưa có một ông vua Trị vì đất nước rất ư công bằng Cạnh bên hoàng hậu đoan trang Vua yêu, vua quý, chứa chan hương tình. Thế rồi hoàng hậu hạ sinh Một trai kháu khỉnh đẹp xinh vô cùng Nhà vua sung sướng vui mừng Nghĩ suy chọn lựa tìm đường đặt tên Mong cho con lúc lớn lên Vẻ vang ngôi vị, êm đềm tương lai Vua bèn đặt tên con trai Hoàng tử Khéo Nói, nhiều tài mai sau.