Phần 4

21/09/201201:22(Xem: 6560)
Phần 4

Truyện Cổ Sự Tích Cứu Vật Phóng Sinh


Pháp sư Tịnh Không - Thích Phước Sơn dịch

Truyen_Co_Phat_Giao_Cuu_Vat_Phong_Sinh


Phần 4



31.Làm Lành Thoát Khỏi Ách Nạn

Vàođờinhà Minh có vị Vương cư sĩ, cả đời ưa làm phước,giúp người, đối với những kẻ nghèo cùng cô độc, ônglại càng hết longcứu giúp. Cư sĩ là người rất tin tưởngPhật pháp, nhưng vì không giữ giới ăn chay, nên ở nhà khôngcó chỗ để tụng kinh.

Trảiqua mấy năm liền, thiên hạ chịu nhiều tai ách, nạn trộmcướp lộng hành, lòng ông thấy xót xa như lửa đốt. Ngheđồn ở Tiểu Động Thiên có một vị Hòa thượng tu hànhđắc đạo, nên ông không quản ngại đường xa, tìm đếnđó để tham vấn. Lúc gặp Hòa hượng, ông thưa: "Thưa Tônđức, hiện tại xã hội đang bị nạn đạo tặc tung hoành,đất nước gặp cảnh nhiễu nhương, dân chúng sống trongđiêu đứng, bất an, mong Tôn sư mở long từ bi giang tay racứu vớt sinh linh".

Tôngiả mỉm cười, hỏi: "Ông phải là Vương Thành chăng?" Vươngthất kinh, lúng túng đáp: "Đệ tử chính là Vương Thành đây,chẳng hay Thầy có điều chi dạy bảo?"

"Nếuông không thể giữ giới ăn chay, thì có hỏi việc đó cũngvô ích thôi" lão Hòa thượng đáp.

Vươnglại hỏi nữa, nhưng vị sư không nói gì cả.

Ítnăm sau, ông lại đến Tiểu Động Thiên, Tôn giả cười bảo:"Khá đấy! Ông có thể liễu ngộ, để cảm hóa, hiện tạibọn đạo tặc lộng hành khắp cả bốn phương, chỉ có nhữngai giữ giới sát sinh thì may ra mới hy vọngcứu được".Nói xong nhắm mắt nhập định.

Vươngcư sĩ trở về,tích cực khuyên nhủ mọi người giữ giớisát sinh. Về cuối đời, đến lúc tuổi thọ rất cao, ôngmới qua đời.

32.Bà Cụ Hiền Lành Được Sống Lâu

Vàothời nhà Minh, tại Côn Sơn có cụ bà Hứa Thái phu nhân làthân mẫu của quan Hàn lâm TừTích Dư. Cả đời bà chuyênăn chay, ưa làm việc thiện, giúp đỡ người nghèo khốn khôngbiết mỏi mệt. Mỗi ngày bà đều có hai thời công phu buổisớm và buổi chiều, chưa hề gián đoạn. Người con phụngsự mẹ cực kỳ hiếu thuận, mẹ con vui vẻ sống an nhàntrải qua ngày tháng.

Khoảngnăm Đinh Dậu, niên hiệu Sùng Trinh, cụ bà Hứa Thái phu nhânđược lục tuần. Trước lễ mừng thọ lục tuần ba ngày,bà nấu cháo đem bố thí cho những người bần cùng và chomỗi người một phần tiền.

Đếnngày lễ khánh tuế, khách khứa đầy nhà, trông rất náo nhiệt,chủ đãi khách toàn bằng chay lạt. Thân thích và bạn bèlàm lễ chúc mừng cực kỳ linh đình. Phu nhân gọi con đếnbảo: "Nghi lễ chúc thọ không nên làm một cách tuỳ tiệnmà phải in một bộ kinh Pháp Hoa để ấn tống cho mọi người".TừTích Dư vâng dạ rồi lui ra, theo lời mẹ dạy tiến hànhcông việc. Trải qua ba năm, bộ kinh Pháp Hoa mới khắc bảnxong rồi đem in. Nhân dịp chúc thọ bà năm ấy, khách khứađến đông hơn, bà bèn đem bộ kinh đã in xong tặng cho mọingười.

Thânmẫu của TừTích Dư về sau thân thể càng khang kiện hơn,ăn uống cũng khỏe hơn, đến năm tám mươi tuổi mà trôngbà như người mới hơn lục tuần. Về sau, người con lạiđược htăng quan tiến chức, còn bà thì hửơng thọ hơn chínmươi tuổi mới qua đời.

33.Tuổi Thọ Có Thể Tăng Thêm

ViênLưu Trang vốn là một chuyên gia xem tướng. Một hôm có vịđại thần dẫn con đến nhờ ông đoán tướng. Viên xem tướngxong, biết đứa bé này vài năm sau sẽ chết, nên dùng lờinói thẳng bảo cho vị quan kia hay. Đương nhiên tâm tư vịquan ấy rất đau khổ nên vẻ mặt trông vô cùng thê thảm.Trên đường trở về, có một vị Hòa thượng gặp ông, thấythế hỏi: "Ngài có điều chi sầu não mà trông thê lươngnhư vậy?". Hòa Thượng hỏi xong liền xem tướng đứa bé,lập tức hiểu ra cớsự, bèn nói: "Trong đời này chỉ cóâm đức mớicứu vãn được số mạng của con ông. Nhưngcơ duyên để thực hiện âm đức cũng không phải dễ, thiếtnghĩ không gì hơn là tùy thời phóng sinh thì may ra mới tạođược phước lành".

Tinlời Hòa thượng, viên quan kia liền phát nguyện phóng sinh,làm đựơc ít năm thì sau đó Hòa thượng gặp lại cha conông, ngạc nhiên nói: "Thật lạ lùng thay, nếu không làm nhiềuviệc thiện thì mạng sống không thể tăng thêm như vậy!"

Viênquan ấy lại tiếp tục gia tăng công việc phóng sinh. Phàmđiều gì có lợi ích cho sinh linh thì ông đều nỗ lực thựchiện. Nhờcứu hộ sinh mệnh không kể số lượng, nên ngườicon rốt cuộc không xảy ra việc gì. Vị thầy tướng kia cứđinh ninh việc mình đoán là đúng không sai chạy chút nào.Thế rồi, mấy năm sau ông gặp lại cha con vị quan kia mớiphát hiện là sách tướng có chỗ còn khiếm khuyết, liềnnhất định khuyên người nhà làm việc thiện và phóng sinh;vì cho rằng có làm như vậy mới tăng thêm tuổi thọ và phúcđức lâu dài.

34.Phóng Sinh Tăng Tuổi Thọ

Vàođời Tiền Đường, Thái thú Đồ Cầm Ô một hôm bỗng nhiênmắc bệnh ngay kịch, thấy thuốc lại bốc nhầm thuốc nêntính mệnh cơ hồ sắp tuyệt. Ông bèn tự phát nguyện: "Tôinguyện lấy việc giúp người, làm lợi cho đời để sámhối, ngoài ra các việc khác tôi không thiết tha gì nữa".

Thếrồi, một hôm ông nằm mộng thấy đức Quan Âm Đại Sĩ đếnnói: "Đời trước ngươi làm quan tại nước Sở, khi gặﰠviệccông tỏ ra quá nghiêm khắc nên làm tổn thương đến đứcnhân từ, nhưng vì không có ý riêng tư nên chỉ giảm trừbổng lộc mà thôi. Hơn nữa, vì thường sát hại sinh linhnên bị quả báo đoản mệnh, cũng may là trong lúc lâm trọngbệnh, ngươi đã phát guyện kiên cố, mỗi nguyện đều lậpchícứu đời, lợi người, không một mảy may oán hận nêncõi U minh đã dùng phước của ngươi để khấu trừ, nhờđó mà có lợi cho ngươi. Chỉ có cái âm đức phóng sinh mạngsống mới có thể làm tăng thêm tuổi thọ của chính mình,lại còn tăng thêm lộc vị, ngươi phải thận trọng cố gắngmà tiếp tục thực hiện".

Saukhi tỉnh giấc, ông bảo người nhà không đựơc sát sinh,lại còn xuất tiền ra mua loạivật phóng sinh, nên ngay mùaĐông năm ấy được thăng chức và có lệnh thuyên chuyểnđến làm Thái tú Cửu Giang. Đến mùa Xuân năm thứ hai thìông hoàn toàn khỏe mạnh. Thái thú cảm niệmsự vĩ đạicủa Phật pháp nên lấysự tự lợi, lợi tha làm đại nguyện,dạy người khác phóng sinh, không được sát sinh, ăn chay lạt,đối xử với người cực kỳ khoan hậu, công chính mà khôngkhắt khe. Về sau, ông hưởng được tuổi thọ khá cao, khôngbệnh mà mất.

35.Tạo Hóa Vãn Hồi

Đờinhà Nguyên có một nhà triệu phú gia tài hàng trăm vạn, nhưngkhông có con; vợ chồng thường than thở về số phận côquả của mình. Vợ chồng tìm đủ trăm phương ngàn kế chỉmong cầu có con mà rốt cuộc không sinh được đứa nào.

Nghenói có một vị Hòa thượng ở một ngôi chùa nọ biết đượcviệc quá khứ, vị lai, lại đoán việc rất tài tình, do đóông tìm đến để vấn kế. Hòa thượng xem qua tướng mạo,phán đoán các việc rồi nói với ông triệu phú: "Đời trướcông tạo nghiệp sát sinh rất nặng khiến cho các loàivậtkhông thể bảo toàn được con cháu, do đó ngày nay ông bịquả báo này. Nếu muốn sám hối ông phải phóng sinh đủtám trăm vạn sinh linh, mới chuộc được tội lỗi. Thảnghoặc, khi lỡ làm hại một con trùng, con kiến, thì phải phóngsinh hàng trăm mạng sống mới tiêu được tội lỗi và táitạo công đức. Có như thế ông mới sinh được mộg đứacon ưu tú".

Nghelời Hoà htượng trình bày, ông triệu phú rất cảm động,liền đến trước Phật phát nguyện không sát sinh. Sau khitrở về nhà, ông đổ của ra lo việc phóng sinh, lòng dạchí thành, và thường đến các tự viện tham thiền, lễ Phật,hôm sớm rất chuyên cần. Mỗi lần ông phóng sinh vô số cácconvật được thoát chết, số lượng ấy chưa được támvạn con thì người vợ mang thai và chẳng bao lâu hạ sinh mộtđứa bé trai. Người con này về sau đậu đến Hiếu liêmrồi ra làm quan vinh hiển.

36.Tái Sinh Thọ Phước

Ngàyxưa tại tô Châu, Giang Tô có một người tên Vương ĐạiLâm. Suốt đời ông thường yêu thương các sinhvật và thườngmua chúng phóng sinh ròng rã mười năm trời, ngày nào cũngthế.

Khinào ông thấy mấy đứa trẻ trong làng bắt các loại cá chimthì liền xuất tiền ra mua chúng phóng sinh, đồng thời khuyêncác em: "Này các em thiếu niên, trăm nghìn lần không nên giếthại. Các em có thấy một con chim nhỏ ở trong rừng không?Nó đang vui thú biết bao, nhưng sau khi bị bắt, thì cha mẹnó sẽ xót xa, đau đớn muôn phần. Con cá trong nước cũngvậy. Nó đang sảng khoái, bơi qua bơi lại, trông có vẻ rấtkhả ái; vì sao lại bắt nó, khiến cho nó phải chịu nhữngnỗi oan khổ? Vì thế, các em không nên giết hại chúng".

Sauđó, các em nhỏ về nhà thuật lại những lý lẽ ấy vớicha mẹ chúng, khiến cha mẹ chúng cũng rất cảm động.

Nămấy, Vương Đại Lâm đột nhiên lâm bệnh rồi chết. Tronglúc chết , ông mơ màng nghe tiếng nói của thần linh, nửatin nữa ngờ, thần bảo: "Này Vương Đại Lâm, vì bình nhậtông ăn chay, phóng sinh nên ta cho hưởng thọ thêm ba mươi nămnữa".

Đếnchừng tỉnh lại, hóa ra đó là một giấc mộng mà bệnh ôngcũng dần dần bình phục.

Vềsau, Vương Đại Lâm sống đến chin mươi bảy tuổi, năm đờicùng sống chung một nhà, con cháu đều thành danh, rạng rỡ.Được như vậy là hoàn toàn nhờ hưởng phước báo củasự phóng sinh.

37.Kẻ Tàn Ác Chết Thảm Khốc

Đâyquả thực là mộtsự việc trông rất thê thảm, không aidám nhìn.

Ngàyxưa, có một viên Tri huyện, ngày thường ưa ăn chân vịtvà tim dê sống. Khi muốn ăn chân vịt thì ông sai người nhàđem con vịt bỏ vào trong chảo, rồi đốt lửa ở dưới.Lửa càng lúc càng cháy mạnh, chảo càng lúc càng nóng nhiềuhơn, vịt chịu nóng không thấu kêu la bi thẩm, nhưng viênTri huyện vẫn thản nhiên không chút động lòng. Vì lửa thiêumạnh nên chân vịt càng lúc càng phồng to. Sau cùng, máu toànthân dồn về đôi chân và vịt bị chết cháy, trong hình dángrất thê thảm.

Thếrồi, ông sai người nhà đem con dê buộc chặt vào cột trụ,rồi dùng dao khoét da, mổ bụng, đoạn dùng tay móc lấy timphổi sống của dê đem dầm vào rượu để làm thức nhấm.Khi ấy con dê kêu la be be, trông rất thảm thương.

Bấylâu nay viên quan huyện này đã giết hại và ăn thịt hếtbao nhiêu con vịt và dê thì không ai biết. Rồi một ngày kiacó một người bạn văn sĩ đến khuyến cáo ông không nênsát sinh, không những ông không màng nghe mà còn trách cứ ngườiấy. Văn sĩ liền bảo: "Ông sắp mang bệnh hiểm nghèo rồichết đóṦ?uot; nói xong liền bỏ đi.

Quảnhiên không lâu sau đó, quan huyện mắc ác tật, bèn cho ngườiđi khắp nơi tìm kiếm danh y, nhưng không một ai có thể chữađược chứng bệnh ngặt nghèo ấy. Thế rồi, chỉ một thờigian ngắn căn bệnh quái ác ấy hoành hành, ông đã trút hơithở cuối cùng, mùi hôi thối xông lên thấu tận trời xanh.

38.Cái Chết Thê Thảm Đáng Sợ

Vàonăm Ung Chính thứ mười đời Thanh, tại huyện Quỷ Hưng cómột người họ Ngụy, vốn là dân du mục, vô nghề nghiệp,chuyên nghề bắn súng, rất giỏi bắt chim. Những con chim bắtđược, ông đem đi bán, hoặc giết dầm rượu vô số kể.Ông cũng ưa bắt lươn, cá, ếch, rùa, trạnh; thậm chí còndùng thuốc độc để suốt cá, mỗi lần bắt được hằngmấy chục ký. Hoặc là y phá hủy ổ chim, không có việc ácnào mày không làm.

Cóngười thấy thế, khuyên ông: "Này ông Ngụy, không nên sátsinh mà nên cày ruộng, hoặc làm một nghề nghiệp chân chínhnào đó mới tốt".

ÔngNgụy không những không nghe mà trái lại còn oán thiên hạlà lắm chuyện. Lâu ngày chầy tháng, tội nghiệt của ôngcàng lúc càng sâu dày. Sau cùng, ông mắc một chứng mụt độc,khắp người mọc những bọc nước lớn như trứng bồ câu,mỗi bọc có một cục sắt, không bao lâu, da tiêu, thịt rữa,nềm trên giường kêu la như quỷ rống.

Mangbệnh ác nghiệt như thế trong ít ngày rồi chết. Sau khi chếtbỗng có số rùa, trạnh ếch, cá, chim, sẻ v.v…, xâm nhậpvào nhà tranh nhau ăn thịt. Vợ con biết là oan gia nghiệp báonên không dám làm hại chúng. Thế là chỉ trong khoảnh khắc,cái thây ma kia chỉ còn lại bộ xương trắng.

Saukhi ông chết, hoàn toàn bị tuyệt tự, không một mụn connối dõi.

39.Hàng Vạn Con Chết Trong Nháy Mắt

Cómột viên quan huyện từng giữ giới sát sinh đã lâu ngày,nhưng phu nhân của ông tính tình cực kỳ tàn ác, lại thammiếng ngon. Hằ஧?ngày bà sai người nhà giết các súcvậtchế biến thức ngon để cung cấp cho bà.

Mộtnăm kia, vào ngày sinh nhật của bà, bà sai những người đầubếp chuan bị bữa tiệc thịnh soạn để đãi khách. Dướinhà bếp, các giống heo, dê, gà, vịt ngẩng đầu kêu la bithảm. Viên Tri huyện trông thấy cảnh tượng ấy, lòng bấtnhẫn nói với bà: "Ngày mai là ngày sinh nhật của phu nhânmà các convật lại bị chết, nghĩ thật đáng thương, phunhân nên mở rộng lòng từ, gieo trồng cội phúc".

Phunhân nổi giận, nói: "Cứ theo thời ông bảo, tôn sùng đứcPhật, giữ giới sát sinh, thì khoảng mười năm nữa trongthiên hạ này sẽ đầy ắp loài cầm thú! Tôi sẽ không đểcho ai lừa mình đâu".

Đếnngày hôm sau, khi giết heo thì hồn của phu nhân gá vào thânheo chịu nỗi thống khổ không thể tưởng tượng. Kế đếnlại gá vào thân dê để chịu nỗi khổ củasự lăng trì.Rồi gá vào thân loài gà, vịt chịusự cắt xẻ đau thấucả tâm can. Cứ một lưỡi dao, chịu mộtsự đau đớn, cuốicùng bà giác ngộ được tấn bi kịch vềsự tham thực củamình, nên không bao giờ dám sát sinh nữa. Nhân giữ giới sátmà hưỡng được cao tuổi, nên bà càng gắng sức gìn lòngtừ thiện.

40.Nhờ Giữ Giới Sát Mà Khỏi Bị Bắt

Cómột anh tú tài họ Triệu, vốn là người thẳng thắn, lạirất có lòng từ thiện, bình sinh giữ giới không sát sinhrất nghiêm ngặt. Một ngày kia, ông đi đến một xứ nọđể thăm viếng người thân, trong lúc đang đi trên chiếcthuyền, bỗng thấy một người đứng trên thuyền hơi cóvẻ kỳ lạ, trông kỹ thì chính là người đầy tớ củamình đã chết trước đó ba năm, khiến ông kinh hãi, hỏi:"Hiện nay ngươi làm gì?"

Ngườiấy đáp: "Hiện nay tôi giữ chức vụ bắt hồn người xuốngâm phủ. Ngày nay tôi phụng mệnh truy bắt ba mạng người".

- Bangười đó là ai vậy?

- Mộtngười ở Hồ Quảng, một người khác chính là người thânmà ông định viếng thăm, và người thứ ba là…

- Làai thế?

Ngườiđầy tớ ấy không trả lời. Triệu Tú Tài biết là chỉcho mình. Rồi hắn bảo: "Chớ có kinh sợ, đến đêm mà kẻtôi tớ này không tới nhà ông thì có thể điều kia khôngứng nghiệm". Triệu Tú Tài lại hỏi nguyên cớ, thì y đáp:"Trên đường đi sẽ có người giải thích cho ông rõ, vìông cùng cả gia đình từng giữ giới sát sinh".

TriệuTú Tài vừa đến nhà người thân thì nghe trong nhà có tiếngthan khóc. Đoạn ông rở về nhà, trải qua một đêm, nhưngkhông thấy người đầy tớ ấy đến, cũng chẳng có hềhấn gì. Rốt cuộc, nhờ cội phúc sâu dày mà ông sống rấtthọ.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24/01/2015(Xem: 6615)
Mỗi sáng sớm khi sương còn mù mịt trên sông, chiếc thuyền con của lão già đã là đà rẽ nước, hướng về bờ – lúc thì bờ đông, lúc thì bờ tây, nơi những ngôi nhà tranh và những chiếc ghe nhỏ tụ tập. Mái chèo khua nhè nhẹ như thể sợ động giấc ngủ của thế nhân. Chẳng ai biết chắc lão có gia đình, nhà cửa ở đâu hay không. Nhưng người ta có thể đoán chiếc thuyền con ấy chính là nhà của lão, vì lão phơi thuốc, xắc thuốc, nấu thuốc ngay trên đó. Trên thuyền không còn ai khác. Ban đêm, thuyền của lão neo ở đâu không ai biết, nhưng sáng sớm thì thấy lù lù xuất hiện trên sông hoặc nơi bờ cát. Lão già đến và đi, một mình. Mỗi ngày xách cái túi nhỏ rời thuyền, thường là đi hái thuốc trên núi, ven rừng, bờ suối, có khi vào làng chữa bệnh cho bá tánh rồi ghé chợ mua vài thứ lĩnh kĩnh.
21/01/2015(Xem: 13494)
1. Chân như đạo Phật rất mầu Tâm trung chữ Hiếu niệm đầu chữ Nhân, Hiếu là độ được song thân Nhân là cứu độ trầm luân muôn loài. 5. Thần thông nghìn mắt nghìn tay Cũng trong một điểm linh đài hóa ra,
16/01/2015(Xem: 5281)
Sau 30-4-75, tất cả giáo chức chúng tôi đều phải đi học tập chính trị trong suốt 3 tháng hè mà họ gọi nôm na là "bồi dưỡng nghiệp vụ". Một buổi chiều sau mấy ngày "bồi dưỡng", tôi đạp xe lang thang qua vùng Trương minh Giảng, tình cờ gặp Báu - một người học trò năm xưa, rất xưa, đang ngơ ngẩn đứng trước cửa nhà. Dừng xe đạp, tôi chào: - Báu hả? Phải em là Trương thị Báu không? Có nhớ ra cô không? Báu giương mắt nhìn tôi, nhìn đi nhìn lại rồi nghiêng đầu lại nhìn...Em không nhớ nổi... Tôi đã thoáng thấy được một tâm thần bất thường qua thần sắc cũng như qua đôi mắt trống rỗng vô hồn!
16/01/2015(Xem: 6644)
Năm 1954 ông Thiện khăn gói đùm đề đưa mẹ, vợ và hai đứa con gái xuống con tàu há mồm vào Nam.Trên bờ, Thụ, người em trai của ông còn đưa tay vẫy vẫy. Đêm hôm qua, ông và người em trai bàn rất nhiều về chuyến ra đi này.Người em nói: - Đất nước đã hòa bình, độc lập, anh nên ở lại, dù gì cũng là nơi chôn nhau cắt rốn.Vào Nam xứ lạ quê người, chân ướt chân ráo trăm bề khổ sở... Ông Thiện đã trả lời em:
15/01/2015(Xem: 6510)
Trong cả thành phố này, anh chị chỉ có tôi là chỗ thân nhất, vừa là thầy vừa là bạn. Buổi sáng anh gọi phone bảo trưa nay đến đón tôi về nhà dùng cơm cho vui. Hôm nay là sinh nhật của thằng Alexander con một của anh chị.
14/01/2015(Xem: 14713)
Tiếng Hồng chung Phật Học Viện Hải Đức Nha Trang nói riêng và các chùa trong thành phố Nha trang nói chung, sớm khuya ai cũng có thể nghe được, nhưng nghe để “Trí tuệ lớn” và “Bồ-đề sinh” thì tùy theo “phiền não” của đối tượng nghe có vơi nhẹ hay không? Riêng với nhà văn Võ Hồng, qua tác phẩm “Tiếng chuông triêu mộ” cho thấy Trí tuệ và Bồ đề của ông sanh trưởng tốt. Nhưng nhân duyên như thế cũng chưa đủ, ông là giáo sư của PHV, của trường Bồ Đề, là thiện tri thức của các bậc cao Tăng ở đồi Đông và đồi Tây non Trại Thủy. Có thế mới có truyện ngắn “Cây khế lưng đồi”, có tùy bút “Con đường thanh tịnh”. Thưa thầy Võ Hồng, chừng ấy đủ rồi, đủ cho PHV đi vào lịch sử văn học, đủ cho 100 năm sau, 1000 năm sau hay nhiều hơn thế nữa, nhìn thấy PHV uy nghi như một Linh Thứu thời Phật và cũng cho thấy các bậc cao Tăng Miền Trung nói riêng xứng đáng là những Sứ giả Như Lai đầy trách nhiệm đối với sự trường tồn của Phật giáo Việt Nam.
09/01/2015(Xem: 5957)
Tháng 10 năm 1962, TT Chủ Tịch Ủy Ban Liên Phái… nhờ Tôi đi công tác Vũng Tàu, Tôi đi chuyến xe đò lúc 8g30 sáng, xe chạy vừa khỏi hãng xi-man Hà Tiên, thì có 3 người đón xe. Anh tài xế nói với tôi : “Thầy vui lòng xuống hàng ghế phía dưới để cho “mấy cha”ngồi, vui nghen Thầy”! Tôi lách mình qua khoản trống thì có 2 vị đưa tay đón và đở nhường chỗ ngồi còn nói lớn: “Ngộ ha, cha quí hơn Thầy “! Tôi sợ gây chuyện không vui, nên đưa tay và lắc đầu xin yên lặng. Vì đương thời bấy giờ bóng dáng của các áo đen có nhiều sát khí thế lực! Nhưng, Mộc dục tịnh, nhi phong bất đình 木欲淨而風不亭.Xe chạy êm ả, gió lùa mát rượi.
26/12/2014(Xem: 19401)
Phât tử Chơn Huy ở Hoa Kỳ về có đem theo tập tự truyện dày của Tỳ Kheo Yogavacara Rahula. Cô nói truyện rất hay, khuyên tôi đọc và nhờ tôi dịch ra Việt ngữ để phổ biến trong giới Phật tử Việt Nam. Câu chuyện rất lý thú, nói về đời của một chàng trai Mỹ đi từ chỗ lang bạt giang hồ đến thiền môn. Truyện tựa đề "ONE NIGHT'S SHELTER (From Home to Homelessness)--The Autobiography of an American Buddhist Monk". Tôi đọc đi rồi muốn đọc lại để thấu đáo chi tiết trung thực của một đoạn đời, đời Thầy Yogavacara Rahula. Nhưng thay vì đọc lại, tôi quyết định dịch vì biết rằng dịch thuật là phương pháp hay nhứt để hiểu tác giả một cách trọn vẹn. Vả lại, nếu dịch được ra tiếng Việt, nhiều Phật tử Việt Nam sẽ có cơ duyên chia sẻ kinh nghiệm quý báu của Thầy Rahula hơn.
06/12/2014(Xem: 4909)
T huở nhỏ tôi mồ côi bố sớm, ở vào cái tuổi con nít vừa mới chập chững biết đi chưa nói được câu gọi bố lần đầu, bố tôi đã đi về miền cát bụi. Sự ra đi của ông đột ngột quá, còn trẻ quá mới 27 tuổi đầu làm sao không để lại bao luyến tiếc cho người ở lại. Dĩ nhiên mẹ tôi là người chịu nhiều đau đớn nhất, mới lấy chồng được hai năm cộng thêm đời chiến binh nên chỉ ở gần chồng vỏn vẹn có một tháng là nhiều. Con thơ còn bế ngửa trên tay, đầu quấn khăn tang người chồng yêu quí, đã phải xách tay nải leo lên chiếc thuyền viễn xứ nhổ neo lên đường như một bài hát nào đó.
01/12/2014(Xem: 17555)
Nguyên gốc tác phẩm này là của Genro, một Thiền sư thuộc tông Tào động Nhật Bản, viết và xuất bản năm 1783. Mỗi câu chuyện là một công án mà tác giả đã có lời bình và kệ đi kèm. Fugai, người thừa kế Genro, thêm nhận xét của sư, câu đối câu, vào sách của thầy. Tôi sẽ dịch các câu chyện hay tắc, gồm cả lời bình của Genro và nhận xét của Fugai trong hầu hết các câu chuyện để tham khảo. Có khi gặp bài kệ cũng dịch để khuyến khích học tập.