Phần 5

21/09/201201:22(Xem: 6568)
Phần 5

Truyện Cổ Sự Tích Cứu Vật Phóng Sinh


Pháp sư Tịnh Không - Thích Phước Sơn dịch

Truyen_Co_Phat_Giao_Cuu_Vat_Phong_Sinh


Phần 5



41.Giết Rắn Hại Đến Con

Ởvùng đất phía Nam thành Giang Sơn có một nông dân, tính ưasát sinh. Ông đã hơn bốn mươi tuổi mà bên mình chỉ cómột mụn con.

Vàomột ngày trong tháng năm, năm Đồng Trị thứ sáu, ngườinông dân ấy vác cày ra ruộng, bỗng thấy một con rắn lớn.Con rắn ấy thấy người nông dân, liền trừng mắt, le lưỡi,trông vừa có vẻ sợ hãi, vừa có vẻ muốᮠ?ầucứu.

"Thếnày thì nhất định phải giết thôi". - Người nông dân ấytự bảo thế. Rồi trong chớp nhoáng, ông buông cày xuống,dùng cuốc chặt con rắn đứt làm hai đoạn, không một chútxót thương.

Thếlà con rắn kia trở thành một thây chết bất động. Anh tatỏ ra cao hứng a hát vang trên đường trở về nhà.

Nămấy, đứa con cưng của y khoảng chừng bảy, tám tuổi. Kểtừ ngày y giết con rắn, đứa bé ban đêm thường mộng thấymột con rắn lớn đến cắn rất đau đớn. Rồi một buổisáng sớm, sau khi kinh hoàng tỉnh dậy, nó phát nóng lạnh,lại bị giấc mộng vừa rồi hành hạ, nó kêu la inh ỏi:"Con đau lắm, đau lắm!"

Ngườinông dân hoảng hốt không biết vì sao, lòng đau như cắt.Chính lúc đang chuẩn bị mời thầy thuốc đến chữa trịthì thấy đứa con cưng độc nhất le lưỡi ra dài chừng hơnmột tấc tựa hồ như hình ảnh con rắn hôm trước, rấtđáng sợ.

"Conôi, con của ta ôi!" - Người nông dân đau đớn kêu la thấtthanh. Nhưng mà chỉ trong chốc lát thì đứa bé đáng thươngấy hồn lìa khỏi xác.

42.Bầy Lươn Báo Thù

Ởmột vùng đất nọ tại tỉnh Quý Châu có một ông họ Lụcrất thích ăn thịt lươn; không có bữa cơm nào là không cóthịt lươn hầm nơi bàn ăn.

"Phảinói là thịt lươn ngon hết biết". - Hôm nào có bạn bè cùngngồi ăn thì Lục Mỗ thừơng cao hứng bảo như thế. Nămtháng đưa dần con người đến cõi già, thấm thoát mà LụcMỗ đã sáu mươi tuổi. Một hôm ông ra chợ định mua mộtmớ lươn mập.

"Ôngmuốn mua lươn phải không? Lươn của tôi đều còn sống cảlại rất mập mạp". - Đó là mời khách của người bán lươn.

LụcMỗ liền xắn tay áo, đưa tay mò vào trong chậu lươn, cóý chọn những con lươn vừa mập, vừa lớn. Theo kinh nghiệmriêng của ông thì chỉ cần rờ vào mình lươn là có thểbiết được con nào mập nhất.

Bỗngnhiên nghe tiếng kêu kinh hãi, sắc mặt của Lục Mỗ xanh ngợt,giộng kêu bi thảm như trâu rống. Người bán lươn quày đầunhìn lại, chợt thấy những con lươn trong chậu nhất loạtbắn mình lên, bám chặt vào cánh tay của Lục Mỗ, tranh nhaurỉa thịt.

Lúcấy, những người trong chợ vây quanh y đề xem. Trong số đó,có người tốt bụng vội chạy về nhà gọi con ông đến.Rồi họ đêm ông về nhà, ddùng dao bén chặt đứt các conlươn. Nhưng lạ thay, thân chúng tuy bị chặt đứt mà đầuchúng vẫn cắn chặt vào cánh tay Lục Mỗ, không một mảymay nào chịu nhả ra, nên không dễ gì rứt chúng ra được.Rốt cuộc, cánh tay của Lục Mỗ bị rỉa hết thịt, ôngkêu vang một lát rồi từ trần.

43.Hãn Độc Bị Cụt Lưỡi

Ởngoài thành Thường Châu có một người họ Vương, biệt hiệuHãn Độc, ông vốn là người Hoành Lâm.

Tạiđất Hoành Lâm này có một ít đám ruộng lau, chim sẻ thườngđến đậu ở đây. Vương Mỗ vốn là một tay giăng lướirất thiện nghệ, thường bủa lưới trong đám lau lách, lạinuôi một chú chim ưng thả vào rừng lau. Do chim ưng đuổibắt khiến chim sẻ hoảng loạn, bay tứ tung, sa vào trong lưới.Đoạn Vương Mỗ dùng một hòn đá lớn, đè lên bầy chimsẻ, rồi nhặt những con chết đem ra chợ bán trước. Y rấttự hào về lề lối sinh kế của mình, cho rằng không ai cóthể làm được. Chẳng hiểu làm nghề này trải qua bao nhiêunăm.

Dođâu mà người ta gọi y là Hãn Độc? Vì bình nhật, tínhtình của y hung hãn, dã man, vô lý. Nếu có ai sơ ý độngchạm đến việc bủa lưới bắt chim sẻ của y, thì nhấtđịnh y phẫn nộ, thốt ra những lời nguyền rủa độc địa,hạ cấp rất chói tai. Y sẽ lầm bầm suốt cả ngày như vậy.Do đó mà người trong làng, ngoài làng không ai là không ngány.

Vềsau, Vương Mỗ mắc một chứng bệnh kỳ quái, khắp cả thânthể đau đớn không chịu nổi, nằm trăn trở trên giường,kêu la ú ớ. Các thầy thuốc đều bó tay, vô phươngcứuchữa. Do dó cho nên cái tên Vương Mỗ hung bạo có biết danhlà Hãn Độc này không những mất đi cái oai phong ngày thường,mà hễ gặp ai thì y đều bảo: "Xin thương xót tôi,cứu giúpgiùm tôi!" Tiếng nói của y phát ra y hệt như tiếng kêu đauthương của chim sẻ không khác tí nào. Chỉ sau mấy ngày mắcchứng bệnh kỳ quái thì người ta phát hiện ra y đã cắndần đầu lưỡi của mình gần hết. Thất khiếu xuất huyết,y nằm chết rũ rượi, trong một trạng thái rất đáng kinhsợ.

44Quét Óc Nhồi Gieo Mầm Phước

Vàonăm Đinh mão niên hiệu Long Khánh, Hàn Thế Long ở TrườngChâu ban đêm nằm mộng, thấy một vị thần mặc giáp vàngđến bảo: "Ngươi sắp đựơc hưởng vinh lộc của một viênquan nhất phẩm, ta đến chúc mừng ngươi".

ThếNăng chưa dám tin, tỏ ra nghi ngờ, hỏi: "Do nguyên nhân gìvậy?".

Đoạn,vì thần mặc giáp vàng bèn trình bày mộtsự kiện công đứcnhư sau: Nhân vì ông nội của ngươi là Hàn Vĩnh Thung gia thếtuy bần hàn, nhưng ưa phóng sinh. Mỗi buổi rạng đông, ôngcầm chổi quét gom những con ốc nhồi ở 2 bên bờ một dòngsuối nhỏ trước nhà, rồi đem thả chúng vào trong nước,để khỏi bị người ta giẫm đạp mà chết uổng mạng. Cóhôm, ông nhịn đói, quét hơn mười dặm đường, rồi đemvô số kể những con ốc nhồi đi phóng sinh.

"Ôi!Ngươi that là một đứa ngốc nghếch! Tuổi còn non trẻ mànhàn rỗi, vôsự đến thế ư?".

Đạikhái đó là những lời đùa cợt, đàm tiếu của thế nhân,nhưng ông đều nhẫn nhục cả. Ông chỉ biết mình đang làmviệc tốt là được, còn đối với những lời chê bai củathiên hạ thì chẳng màng để ý làm gì. Huống nữa, tronglúc ông đem hàng trăm con ốc nhồi thả vào trong dòng suốithì tự nhiên cảm thấy lòng mình dâng lên một niềm khoáilạc không gì sánh nổi. Niềm khoái lạc này thựcsự khôngcó tiền bạc nào có thể mua được.

Ôngnội của ngươi vui thú trong việc làm ấy không biết mỏimệt, trải qua như thế hơn bốn mưoi năm trường. Chính nhờcông đức phóng sinh ấy mà mấy đời đều quý hiển, âmđức này còn đượm nhuần cho đến nhà ngươi".

Vịthần giáp vàng nói xong thì biến mất. Từ sau giấc mộngấy, Hàn Thế Năng càng gắng sức làm nhiều việc tốt hơnnữa; quả nhiên ngày sau làm quan đến nhất phẩm, có lầnđược vua cử đi sứ sang Triều Tiên. Về sau, con cháu ôngđều hiển đạt cả.

45.Bắt Ếch Bị Quả Báo

Vàonăm Đạo Quang thứ 16, quan phủ tại Giang Âm ra cáo thị nghiêmcấm nông dân bắt ếch, vì giống ếch xanh vốn là loài độngvật bảo vệ lúa má, đối với ngũ cốc đã không có hạimà còn có ích. Những người có lòng tốt liền đem lời cáothị kia bảo cho Trương A Hỷ - một anh chàng không biết chữ- biết. Nhưng y đáp một cách vô lễ "Hừ! Tôi cứ việc bắtthì đã sao nào?"

Ngườibàng quang tốt bụng kia nghe thế hết cả hứng thú. Vì vậyvề sau không còn ai muốn đem những lời trung thực bảo choy nữa. Tên Trương A Hỷ bắt ếch này đã không biết chữmà tính tình lại quê mùa, thô kệch, nói năng lỗ mãng, lòngdạ ác độc. Mỗi năm, chính tay y bắt rồi đem bán vô sốkể những con ếch.

"Bắtếch thì có gì là không tốt? Hừ! Chẳng phải tôi đã dùngviệc này làm kế sinh nhai rất thuận lợi đó là gì?". Đạiloại, đó là lời tuyên bố huênh hoang của y.

Từngày y bắt ếch đem bán, cứ mỗi lần tu vài xị rượu, cóchút hơi men chui vào dạ dày rồi, thì y đắc ý bảo vớingười khác như thế.

Y bấtchấp cả lẽ phải, nói: "Ổ! Làm trái mệnh lệnh của quanphủ chẳng tốt lắm ru? Hừ! Có gì bảo là không tốt nào?Trong năm này, những việc làm trái lệnh của quan phủ xảyra cũng không nhiều lắm! Vả lại, cũng chẳng phải mỗi mìnhTrương A Hỷ này vi phạm lệnh quan".

Vàomột đêm kia, Trương A Hỷ đột nhiên mấttích. Hôm ấy trờikhông gió, không mưa, rất nhiều người dân ở hai bên bờsông đổ xô đi tìm y, than thở: "Kỳ quái nhỉ! Vậy chứhắn đi đâu?".

Đếnkhi họ tìm thấy tử thi của A Hỷ dưới dòng sông, thì cóvô số ếch xanh vây quanh trên xác của y rỉa thịt. Nhữngngười trông thấy cảnh tượng ấy không ai là không tán đởmkinh hồn, bản nhau: "Phải chăng đây là quả báo vềsự bắtếch của hắn?".

46.Kẻ Hung Tàn Bị Ác Báo

Trongquyển sách Quảng Ái Lục của Mãnh Bình Am tiên sinh có kểmột câu chuyện như sau:

Chủnhân của quán "Thiên Ngư Miến" ở vùng Tô Châu chính là ĐớiĐại Phan. Y vốn là một con người tự tư tự lợi, tàn nhẫn,ưa giết hại.Sự kinh doanh ở hàng quán của y sở dĩ đắckhách hơn so với người khác là vì y có một nghệ thuậtnấu nướng rất độc đáo. Y đem lươn bỏ vào một cái nắpbằng sắt rồi đặt cái nắp ấy lên trên nồi, bắc lênbếp chưng, thế rồi y dùng máu đó trộn với mì, hương vịthật thơm ngon.

ĐớiĐại Phan vừa tính toán vừa cười khanh khách, nói: "Thu nhậpcàng ngày càng khấm khá nhỉ!"

"Baơi, chúng ta đổi nghề khác đi ba. Cái nghề này sao mà tànnhẫn quá!" Đó là lời nói của Đới Hỷ Tín con trai củay.

"Cáithằng nhỏ u mê kia! Chẳng phải tiền vô nườm nượp làgì? Còn mong thứ gì nữa? Đi đi, đổi nghề gì nào? Đổinghề khác thì có được nhiều lợi như thế này không? Toànlà ăn nói hồ đồ!" Đới Đại Phan vung tay ra nói với connhư vậy.

Thếrồi, năm tháng trôi qua. Một ngày kia, người cha đi đâu khôngthấy về, Đới Hỷ Tín men theo bờ sông đi tìm kiếm.

"Ôi,cha ôi!". Hỷ Tín đau đớn kêu thất thanh.

Thếlà người ta chỉ thấy cái thây của Đới Đại Phan trôitấp vào bờ, trên thân hàng vạn con lươn đeo bám xung quanh.

Trênbờ sông dần dần vô số người kéo nhau đến xem, không ailà không kinh hãi, cùn nhau bàn tán xôn xao.

47.Dùng Đồng Tiền Oan Nghiệt, Bị Quả Báo

TriệuDụng là một người chuyên bắt của đem bán để làm kếsinh nhai. Nhưng ông lại là một người con hiếu thảo. Mỗingày bắt cua đổi được tiền, ông liền đi mua dầu gạovà cácvật dụng cần thiết khác để cung phụng cho cuộcsống của mẹ già.

Bàcụ già đã không biết dạy con hướng về đường thiệnmà còn đem tất cả số tiền do con bắt cua kiếm được tiêuphí hết sạch.

Mộthôm, vào lúc hoàng hôn, ánh đèn trong nhà leo lét như hạtđậu. Bà cụ bị bệnh nằm trên giường rên hì hì khôngdứt.

TriệuDụng vừa về đến nhà, đi thẳng vào phòng, bỗng mộtsựkiện xảy ra không khỏi làm ông kinh hồn. Nguyên do, mẹ ôngtựa hồ như đang bị bệnh thần kinh, lấy cái dây cỏ màhằng ngày ông dùng để cột cua, nuốt vào trong bụng, thínhmệnh sắp dứt. Triệu Dụng thấy thế kinh hoảng, chạy đếnngăn lại, thì bà cụ đưa tay ra cự tuyệt. Trong chốc lát,bà nuốt hết sợi dây cỏ vào bụng, rồi lại kéo ra, kéora rồi lại nuốt vào. Cứ như thế trở đi trở lại hoàihoài.

Sựkiện quái dị ấy làm kinh động những người hàng xóm lâncận, khiến họ vây đến xem đông như kiến.

Bỗngcó tiếng kêu kinh hãi phát ra từ trong đám người đó: "Ôi,ôi!". Thế rồi, người ta chỉ thấy máu bẩn từ trong ganphổi của bà theo dây cỏ tuôn ra đầy miệng, từng đợt,từng đợt, tanh tưởi, nồng nặc, ác hình, ác trạng, khiếncho ai nấy đều ghê rợn.

"Nhữngđồng tiền oan nghiệt của con ta, ta đã tiêu pha lãng phí,vì thế mà ta phải chịu quả báo này chăng? Nếu không thếthì ta đâu phải chịu cảnh tượng này!". Bà ấy rơi nướcmắt kêu than như thế.

TriệuDụng ảo não đau xót không thể kể xiết, hai mắt đẫm lệ,ngồi bên cạnh mẹ. Tình trạng bi thương ấy kéo dài khôngđược mấy hôm, thì cuối cùng bà ta cũng vĩnh biệt cuộcđời.

48.Tội Lỗi, Chết Cũng Không Che Đậy Được

"Mìnhơi, bệnh của mình có bớt không?" - Vợ của Tạ Mỗ sốtruột hỏi y như thế.

Thếnhưng, người chồng lắc đầu không nói.

Nguyênvì trên lưng Tạ Mỗ bỗng nhiên mọc một mụt nhọt bự,bốn phía có vô số những mụt nhọt nhỏ, đắp bất cứloại thuốc gì cũng đều không có hiệu quả.

"Đólà chứng bệnh "bách điểu triều vương", (trăm con chim chầumột vì vua), một chứng bệnh ký quái!". - Một vị danh y lắcđầu thở ra, nói.

Lạimột thầy lang khác xem bệnh rồi cũng phụ họa: "Thực rachứng bệnh này dù tốn hao tiền bạc bao nhiêu đi nữa cũngkhông thể nàocứu chữa được".

TạMỗ vốn là một thợ mộc, tính tình cần mẫn, sinh kế lươngthiện, tay trắng mà làm nênsự nghiệp. Chỉ có điều anhta chuyên môn khảocứu cvề kỹ thuật ăn uống. Do đó, bấtluận là dùng để đãi khách hay tự mình thưởng thức, yđều sắm sửa cực kỳ xa xỉ.

Anhta khoái nhất là dùng cái thực đơn đặc biệt được gọilà "bách điểu triều vương". Món ăn này dùng nhiều chim sẻnhồi vào bụng con vịt, khi ăn dùng đũa tách bụng vịt ra,sẽ thấy la liệt những con chim sẻ, hương vị rất thơm ngon.Chính và ngày thường chỉ chăm lo cung phụng cho cái miệngvà bụng, giết hại vô số chim sẻ mà ngày nay phát sinh chứngbệnh "bách điểu triều vương" này. Nghĩa là mụt nhọt lớnví như vì vua, những mụt ghẻ ví như đàn chim.

Thếrồi, mụt nhọt ấy vỡ ra, đau noun, khiến y rên rỉ suốtngày.

Mộttháng, rồi hai tháng trôi qua… cho đến nhiều tháng, khắpmình máu mủ túa ra, hôi thối không thể ngửi nổi. Dù giatài Tạ Mỗ có hàng vain quan tiền, chung cục cũng đành bótay, mang quái bệnh đau đớn ấy cho đến khi lìa đời.

49.Sát Sinh Bị Quả Báo Nhãn Tiền

TrầnVăn Bảo là một nhân sĩ đất Thái Hồ. Bình sinh ông thíchlàm việc thiện, cả nhà đều vun bồi công đức, siêng năngbố thí, thường thường phóng sinh.

"Cứvào buổi trưa đến nhà thợ săn mua được con chim nào đềuđem phóng sinh hết cả sao?" - Có người hỏi thế.

"Đúngvậy, lâu nay thường phóng sinh bằng cách ấy". - Bà của yđáp.

"Cólàm như thế thì giờ đây bọn chúng mới được tự do, tựtại bay bổng trên bầu trời bao la, hoặc nhởn nhơ nơi rừngsâu núi thẳm được chứ". - Trầm Văn Bảo tỏ ra cao hứng,dương mi chớp mắt, nói một cách tự hào.

Mộtxóm dân cư ở đất Thái Hồ này phần nhiều làm nghề bủalưới, cắm câu, chỉ độc nhất nhà họ Trầm không nhữngkhông ngửi đến mùi thịt cá mà còn thường đến nhà nhữngngười kia mua chim về phóng sinh. Vì thế phần lớn ngườita đều cho rằng gia đình họ Trầm dùng tiền của vào việcphóng sinh là ngu không thể tưởng tượng được.

"Điềuđó có gì là tốt nào?" - Có người cười nhạo bảo nhưthế.

Thếrồi, vào một đêm tối nọ, Lý Mỗ là người duy nhất ronglàng chưa ngủ. Trong lúc mơ màng, ông bỗng thấy hai con quỷôn dịch hình trạng rất đáng sợ, mỗi con cầm một lá cờnhỏ đang đi vào trong xóm; lắng tai nghe thì dường như chúngbảo nhau: "Trừ nhà họ Trầm ra - vì ông ta htường hay phóngsinh - còn các nhà khác thì đều theo thứ tự cắm mỗi nhàmột là cờ".

Mấyhôm sau, hơn ba trăm gia đình ở làng Thái Hồ bị bệnh dịchtruyền nhiễm, chết hơn phân nửa.

Nóira thì cũng kỳ, Trầm Văn Bảo và người nhà của ông vẫnkhỏe mạnh như thường, bình an vôsự, chẳng hề hấn gìcả.

"Chungcục, hễ ai làm việc tốt sẽ cósự báo ứng tốt". Có ngườiđã tỉnh ngộ bảo như vậy.

Vềsau, Trầm Văn Bảo hưởng thọ rất cao, không bệnh mà mấtmột cách an nhiên.

50.Ếch Đòi Mạng

Tạitỉnh An Huy, huyện Vô Vi có một người làm nghề hớt tóctên là Lương Gia Thọ. Khi lớn lên, ông có hình dạng đầucheo, mặt chuột, tướng mạo dị kỳ. Y là người tính toántừng đồng từng cắc, phẩm hạnh không tu dưỡng, và rấtthích ăn thịt ếch. Mỗi bữa ăn hằng ngày của y không thểnào thiếu thịt ếch được. Về kỹ thuật bào chế thịtếch đều do một tay y làm, hoặc ram hồng, hoặc chưng xanh.Đám bạn bè chồn cáo chó lợn của y, khi chứng kiến chínhtay y biến chế thịt ếch, không ai là không tấm tắc khenngợi. Kết quả, được khen ngợi càng nhiều thì y càng giếtbạo, tựa hồ loài ếch kia là kẻ thù số một của y. Tậpquán ưa ăn thịt ếch được duy trì mãi cho đến năm bốnmươi tuổi mà y vẫn chưa hề chấm dứt.

Mỗihôm, vào lúc xế chiều, trong lúc y đang ngủ ngon giấc thìbỗng nhiên cảm thấy toàn thân ngứa ngày, mơ màng thấy trênmền, trên chiếu, trên tay áo toàn là ếch. "Thật là kỳ quáixiết bao!" - Y lầm bầm nói. Thế rồi, y bắt tất cả nhữngcon ếch đó bỏ vào trong nồi nấu ăn. Xong xuôi, y bèn leolên giường trở lại, thì lại thấy ếch đầy cả giường.Bị quấy nhiễu như thế suốt cả buổi tối, không thể nàochợp mắt được.

Ngàyhôm sau, y mời vài người láng giềng đến nhà, rồi đem chuyệnkỳ quái khi hôm kể cho họ nghe. Trong lúc đang đàm đạo caohứng thì bỗng nhiên y đưa tay rờ sau lưng, nói: "Ếch lạiđến nữa rồi!". Trong chốc lát lại kêu: "Ếch nằm tronglông mi của tôi. Ếch ở trên đầu tóc của tôi". Thế rồi,y dùng dao cạo tóc và lông mày sạch nhẵn. Tuy nhiên, mọingười không ai thấy ếch đâu cả. Họ thầm nhủ: "Thằngcha này bị điên mất rồi!".

Từđó trở đi, ròng rã suốt sáu năm trường không lúc nào lày không bị chứng bệnh kia hành hạ đau khổ. Cuối cùng yphát bệnh điên thật rồi chết. Việc này có người thật,việc thật hẳn hoi, chứ không phải là chuyện bịa đặt.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24/01/2015(Xem: 6615)
Mỗi sáng sớm khi sương còn mù mịt trên sông, chiếc thuyền con của lão già đã là đà rẽ nước, hướng về bờ – lúc thì bờ đông, lúc thì bờ tây, nơi những ngôi nhà tranh và những chiếc ghe nhỏ tụ tập. Mái chèo khua nhè nhẹ như thể sợ động giấc ngủ của thế nhân. Chẳng ai biết chắc lão có gia đình, nhà cửa ở đâu hay không. Nhưng người ta có thể đoán chiếc thuyền con ấy chính là nhà của lão, vì lão phơi thuốc, xắc thuốc, nấu thuốc ngay trên đó. Trên thuyền không còn ai khác. Ban đêm, thuyền của lão neo ở đâu không ai biết, nhưng sáng sớm thì thấy lù lù xuất hiện trên sông hoặc nơi bờ cát. Lão già đến và đi, một mình. Mỗi ngày xách cái túi nhỏ rời thuyền, thường là đi hái thuốc trên núi, ven rừng, bờ suối, có khi vào làng chữa bệnh cho bá tánh rồi ghé chợ mua vài thứ lĩnh kĩnh.
21/01/2015(Xem: 13496)
1. Chân như đạo Phật rất mầu Tâm trung chữ Hiếu niệm đầu chữ Nhân, Hiếu là độ được song thân Nhân là cứu độ trầm luân muôn loài. 5. Thần thông nghìn mắt nghìn tay Cũng trong một điểm linh đài hóa ra,
16/01/2015(Xem: 5286)
Sau 30-4-75, tất cả giáo chức chúng tôi đều phải đi học tập chính trị trong suốt 3 tháng hè mà họ gọi nôm na là "bồi dưỡng nghiệp vụ". Một buổi chiều sau mấy ngày "bồi dưỡng", tôi đạp xe lang thang qua vùng Trương minh Giảng, tình cờ gặp Báu - một người học trò năm xưa, rất xưa, đang ngơ ngẩn đứng trước cửa nhà. Dừng xe đạp, tôi chào: - Báu hả? Phải em là Trương thị Báu không? Có nhớ ra cô không? Báu giương mắt nhìn tôi, nhìn đi nhìn lại rồi nghiêng đầu lại nhìn...Em không nhớ nổi... Tôi đã thoáng thấy được một tâm thần bất thường qua thần sắc cũng như qua đôi mắt trống rỗng vô hồn!
16/01/2015(Xem: 6645)
Năm 1954 ông Thiện khăn gói đùm đề đưa mẹ, vợ và hai đứa con gái xuống con tàu há mồm vào Nam.Trên bờ, Thụ, người em trai của ông còn đưa tay vẫy vẫy. Đêm hôm qua, ông và người em trai bàn rất nhiều về chuyến ra đi này.Người em nói: - Đất nước đã hòa bình, độc lập, anh nên ở lại, dù gì cũng là nơi chôn nhau cắt rốn.Vào Nam xứ lạ quê người, chân ướt chân ráo trăm bề khổ sở... Ông Thiện đã trả lời em:
15/01/2015(Xem: 6511)
Trong cả thành phố này, anh chị chỉ có tôi là chỗ thân nhất, vừa là thầy vừa là bạn. Buổi sáng anh gọi phone bảo trưa nay đến đón tôi về nhà dùng cơm cho vui. Hôm nay là sinh nhật của thằng Alexander con một của anh chị.
14/01/2015(Xem: 14714)
Tiếng Hồng chung Phật Học Viện Hải Đức Nha Trang nói riêng và các chùa trong thành phố Nha trang nói chung, sớm khuya ai cũng có thể nghe được, nhưng nghe để “Trí tuệ lớn” và “Bồ-đề sinh” thì tùy theo “phiền não” của đối tượng nghe có vơi nhẹ hay không? Riêng với nhà văn Võ Hồng, qua tác phẩm “Tiếng chuông triêu mộ” cho thấy Trí tuệ và Bồ đề của ông sanh trưởng tốt. Nhưng nhân duyên như thế cũng chưa đủ, ông là giáo sư của PHV, của trường Bồ Đề, là thiện tri thức của các bậc cao Tăng ở đồi Đông và đồi Tây non Trại Thủy. Có thế mới có truyện ngắn “Cây khế lưng đồi”, có tùy bút “Con đường thanh tịnh”. Thưa thầy Võ Hồng, chừng ấy đủ rồi, đủ cho PHV đi vào lịch sử văn học, đủ cho 100 năm sau, 1000 năm sau hay nhiều hơn thế nữa, nhìn thấy PHV uy nghi như một Linh Thứu thời Phật và cũng cho thấy các bậc cao Tăng Miền Trung nói riêng xứng đáng là những Sứ giả Như Lai đầy trách nhiệm đối với sự trường tồn của Phật giáo Việt Nam.
09/01/2015(Xem: 5958)
Tháng 10 năm 1962, TT Chủ Tịch Ủy Ban Liên Phái… nhờ Tôi đi công tác Vũng Tàu, Tôi đi chuyến xe đò lúc 8g30 sáng, xe chạy vừa khỏi hãng xi-man Hà Tiên, thì có 3 người đón xe. Anh tài xế nói với tôi : “Thầy vui lòng xuống hàng ghế phía dưới để cho “mấy cha”ngồi, vui nghen Thầy”! Tôi lách mình qua khoản trống thì có 2 vị đưa tay đón và đở nhường chỗ ngồi còn nói lớn: “Ngộ ha, cha quí hơn Thầy “! Tôi sợ gây chuyện không vui, nên đưa tay và lắc đầu xin yên lặng. Vì đương thời bấy giờ bóng dáng của các áo đen có nhiều sát khí thế lực! Nhưng, Mộc dục tịnh, nhi phong bất đình 木欲淨而風不亭.Xe chạy êm ả, gió lùa mát rượi.
26/12/2014(Xem: 19403)
Phât tử Chơn Huy ở Hoa Kỳ về có đem theo tập tự truyện dày của Tỳ Kheo Yogavacara Rahula. Cô nói truyện rất hay, khuyên tôi đọc và nhờ tôi dịch ra Việt ngữ để phổ biến trong giới Phật tử Việt Nam. Câu chuyện rất lý thú, nói về đời của một chàng trai Mỹ đi từ chỗ lang bạt giang hồ đến thiền môn. Truyện tựa đề "ONE NIGHT'S SHELTER (From Home to Homelessness)--The Autobiography of an American Buddhist Monk". Tôi đọc đi rồi muốn đọc lại để thấu đáo chi tiết trung thực của một đoạn đời, đời Thầy Yogavacara Rahula. Nhưng thay vì đọc lại, tôi quyết định dịch vì biết rằng dịch thuật là phương pháp hay nhứt để hiểu tác giả một cách trọn vẹn. Vả lại, nếu dịch được ra tiếng Việt, nhiều Phật tử Việt Nam sẽ có cơ duyên chia sẻ kinh nghiệm quý báu của Thầy Rahula hơn.
06/12/2014(Xem: 4909)
T huở nhỏ tôi mồ côi bố sớm, ở vào cái tuổi con nít vừa mới chập chững biết đi chưa nói được câu gọi bố lần đầu, bố tôi đã đi về miền cát bụi. Sự ra đi của ông đột ngột quá, còn trẻ quá mới 27 tuổi đầu làm sao không để lại bao luyến tiếc cho người ở lại. Dĩ nhiên mẹ tôi là người chịu nhiều đau đớn nhất, mới lấy chồng được hai năm cộng thêm đời chiến binh nên chỉ ở gần chồng vỏn vẹn có một tháng là nhiều. Con thơ còn bế ngửa trên tay, đầu quấn khăn tang người chồng yêu quí, đã phải xách tay nải leo lên chiếc thuyền viễn xứ nhổ neo lên đường như một bài hát nào đó.
01/12/2014(Xem: 17559)
Nguyên gốc tác phẩm này là của Genro, một Thiền sư thuộc tông Tào động Nhật Bản, viết và xuất bản năm 1783. Mỗi câu chuyện là một công án mà tác giả đã có lời bình và kệ đi kèm. Fugai, người thừa kế Genro, thêm nhận xét của sư, câu đối câu, vào sách của thầy. Tôi sẽ dịch các câu chyện hay tắc, gồm cả lời bình của Genro và nhận xét của Fugai trong hầu hết các câu chuyện để tham khảo. Có khi gặp bài kệ cũng dịch để khuyến khích học tập.