08. Vì Hiếu Quên Thù

29/08/201105:03(Xem: 5898)
08. Vì Hiếu Quên Thù

LƯỢC TRUYỆNTIỀN THÂN ĐỨC PHẬT
Hòathượng Thích Ðức Niệm
PhậtHọc Viện Quốc Tế, California, 1998

Vì Hiếu Quên Thù

Một hôm trên pháp tòađang thuyết giảng về lý Nhân Quả, khi đề cập đến kiếp quá khứ, đức Phật nói vớiđại chúng rằng: Thuở đời quá khứ vô lượng kiếp có một nhà vua rất mực nhân từ,lấy điều nhân nghĩa hiền đức trị dân, nhờ vậy mà khắp nơi thanh bình lạcnghiệp, dân chúng trong nước mến phục đức vua, nên thường gọi vua làHiền-Vương. Lúc bấy giờ có vua nước lân bang vô cùng tham lam độc ác, bóc lộtdân lành, hành hạ trăm họ, tóm thâu của quý trong thiên hạ dồn vào kho tàng nhàvua. Vì vậy, đâu đâu trong nước của nhà vua ác độc kia cũng nghe thấy tiếng tathán oán hận. Nhân dân gọi vua đó là Ác-Vương.

Vua lân bang tham ácthấy nước của vị vua Hiền-Ðức ngày một thanh bình giàu mạnh, dân chúng sốnghạnh phúc ấm no, mới nghĩ bụng rằng, từ lâu nghe nói vị vua Hiền-Ðức nầy chưatừng sát sanh giết hại mạng sống của ai. Nếu nay ta đem quân đánh chiếm thìchắc dễ dàng chiến thắng. Nghĩ như vậy rồi, Ác-Vương liền hội họp triều thần,trình bày kế hoạch xuất quân tấn công nước của vua Hiền-Ðức. Quần thần văn võbá quan của Ác-Vương đều tán đồng ca tụng Ác-Vương là bậc vua anh hùng tài trí,dũng lược có tài cái thế an bang.

Nghe quân của Ác-Vươngtấn công xâm lăng nước mình, vua Hiền-Ðức còn đang suy nghĩ tấn thối lưỡng nan,thì các đại thần tướng sĩ hợp nhau lại tâu vua rằng: "Tâu Bệ-hạ! Xin bệ hạlập tức ra lệnh xuất binh dẹp trừ quân giặc xâm lăng. Hiện nay trong triềukhông thiếu gì mưu sĩ tướng tài quân giỏi. Xin Bệ-hạ phải nghĩ đến sự an nguycủa quốc gia xã tắc và sự sanh tồn của muôn dân mà lập tức hạ chiếu chỉ cấp tốcxuất quân để diệt trừ giặc".

Vua Hiền-Ðức nghĩrằng: "Nếu ta xuất quân thắng địch, thì sẽ gây ra quân ta và quân giặccảnh đầu rơi máu đổ, tạo điều đau khổ cho vợ con họ biết chừng nào. Còn nếu takhông xuất quân, thì dân tình sẽ tắm máu đào trong cảnh binh đao khói lửa, gâynên tang tóc khóc than ngút ngàn, bởi quân giặc hoành hành. Cho dù thắng haybại cũng chỉ vì ngôi vị đế vương của ta. Ta không thể nào nhẫn tâm làm việc nhưthế nầy".

Biết được ý nghĩ củavua Hiền-Ðức, nên đã bao lần quần thần hội họp triều kiến khẩn thiết lạy xinnhà vua hãy cấp tốc ra lệnh xuất quân phản công để diệt trừ quân giặc xâm lăng.Nhưng nhà vua vẫn thái độ trầm buồn yên lặng. Quần thần tướng sĩ đều cho nhưvậy là điều sỉ nhục quốc thể, khinh thường quốc dân, nên họ tự động cùng nhauđồng tâm quyết chí tự điều khiển binh mã ra trận chống giặc. Riêng vua Hiền-Ðứcbàn cùng thái tử rằng: "Ta không thể chứng kiến cảnh xương rơi máu đổ, chỉvì ngôi vị của cha con ta. Vậy cha con ta nên rời khỏi hoàng thành nầy. Mặc chokẻ giặc muốn chiếm nước chiếm ngôi, miễn bá tánh trăm họ tránh khỏi chết chóckhổ sở là cha an lòng rồi!"

Thế rồi, vua Hiền-Ðứcvà thái tử cùng nhau lén ra khỏi hoàng thành, lẩn tránh lên núi cao rừng thẳmẩn cư. Vài hôm sau quân giặc tấn công chiếm thành, tiến thẳng vào cung điện nhàvua lục soát, nhưng không thấy vua Hiền-Ðức đâu cả. Quân giặc cả giận truyềnlệnh: "Ai tìm bắt được hoặc chỉ chỗ ẩn cư của vua Hiền-Ðức thì sẽ đượctrọng thưởng trăm ngàn lượng vàng và chức quan lớn". Lệnh nầy chẳng baolâu truyền khắp cả nước.

Sau khi rời khỏi hoàngcung đi ẩn vào chốn thâm sơn cùng cốc, vua Hiền-Ðức ngày đêm tĩnh tọa suy tư sựđời: "Thế gian vô thường mộng huyễn, phú quý danh vọng phù du, quốc giahưng vong an nguy trong tấc bóng, mạng sống trong hơi thở. Chúng sanh vì sắctình danh vọng lợi lộc quyền uy, mà đời đời phải trôi lăn lặn hụp trong biểnkhổ luân hồi". Tư duy việc đời, rồi nghĩ đến thân phận bọt bèo, nên nhàvua suốt ngày sống trong chánh niệm thiền quán. Còn thái tử thì ngày ngày vàorừng tìm hoa trái để dâng cho vua cha độ nhựt. Vua và thái tử đã bắt đầu quenvới cuộc sống thanh đạm êm đềm, vui với cảnh thiên nhiên "cái thân ngoạivật là tiên trong đời".

Cuộc sống thanh tịnhbình thản trong chốn rừng già tịch mịch đã làm cho hai tâm hồn vua và thái tửan vui với những ngày chim kêu vượn hú, cây cỏ núi rừng, non nước trời mây; đêmđêm thả hồn với trăng sao, cõi lòng hòa cùng với bao la vũ trụ, quên hết chuyệnđời.

Cuộc sống ẩn dật củanhà vua lặng lẽ trôi qua như dòng suối mát, tưởng thế là đã yên phận. Nào ngờ,bỗng một hôm có người Bà-la-môn đến tìm gặp vua và nói: "Tôi là người đóikhổ không đủ cơm ăn áo mặc. Nghe lời truyền rao của vua Ác-Vương rằng: Ai kiếmđược Ngài thì sẽ được trọng thưởng trăm ngàn lượng vàng và được quan tước lớn.Vì lẽ sống, tôi không quản ngại cực khổ hiểm nguy, trải qua bao ngày tháng lặnlội đó đây để tìm Ngài, thì mãi đến hôm nay mới được gặp".

Vua Hiền-Ðức nghexong, bình thản đáp: "Hiện nay ta không còn gì hết! Thôi thì ta vui lòngcho nhà ngươi cái thân mạng của ta đây, để nhà ngươi đem nộp cho tân vương thìsẽ được trọng thưởng, hưởng giàu sang, quan to chức lớn".

Nghe nhà vua Hiền-Ðứcbảo thế, người Bà-la-môn rất đỗi vui mừng nhưng làm bộ than thở nói: "Vìhoàn cảnh chứ tôi nào có đành lòng làm chuyện nầy đâu!"

Vua Hiền-Ðức từ hòanói với người Bà-la-môn: "Ngươi cứ nên làm theo ý định đã thúc đẩy ngươiđến đây tìm ta. Ta vui lòng xả bỏ thân nầy. Ðời người sớm muộn, già trẻ gì rồicũng một lần chết. Sống mà có ích cho đời thì đáng sống. Còn sống mà không cóích cho đời thì cái sống đó có ý nghĩa gì đâu? Chết mà mà có ích cho ai đượcnhiều, thì ít nhất cái chết của ta cũng giúp được cho ngươi sẽ có đời sống tốtđẹp hơn. Ðời người chỉ là một giấc mơ. Tất cả thế gian nầy đều là tạm bợ mộnghuyễn. Ngươi cứ tự tiện dùng thân mạng ta".

Người Bà-la-môn nói:"Nếu lòng từ bi của Ngài đã quyết, thì xin Ngài vui lòng theo tôi vào kinhthành để tôi hiến Ngài lên cho tân vương".

Nhà vua đôi lời từbiệt thái tử, rồi theo sau người Bà-la-môn để vào kinh thành. Thái tử kêu gàothan khóc, nhưng không dám làm phật lòng vua cha!

Vừa thấy vua Hiền-Ðứctrong phong thái thản nhiên trước bệ rồng của mình thì lòng vua Ác-Vương rấtđỗi ngạc nhiên, không dấu nỗi vui mừng đắc ý và truyền lệnh trọng thưởng chongười Bà-la-môn, đồng thời ra lệnh lập tức giam vua Hiền-Ðức vào ngục tối.

Sau khi nhốt vuaHiền-Ðức vào ngục, Ác-Vương ra lệnh truyền rao cho dân chúng biết ngày xử tửvua Hiền-Ðức bằng cách đốt sống. Dân chúng nghe tin nầy, ai nấy đều xúc độngrơi lệ khóc than như mất một bậc cha hiền. Việc gì đến rồi phải đến. Ngày đưavua Hiền-Ðức lên dàn hỏa diễn ra nơi pháp trường. Dân chúng khắp nơi trong nướcthương tiếc đổ về pháp trường như nước lũ vỡ bờ, để mong được chiêm ngưỡng bậcquốc phụ của họ lần cuối.

Riêng về thái tử, saukhi vua cha rời rừng sâu theo người Bà-la-môn về triều, thì giả dạng làm ngườithợ săn chen lẫn trong đám thường dân đông đảo đến pháp trường. Trước khi bịchâm lửa hành quyết, vua Hiền-Ðức ngước mắt nhìn trời thốt to lên mấy lời tâmhuyết cuối cùng: "Hỡi những người con hiếu thảo hãy noi gương cha mẹ hiềnđức nhân nghĩa mà dùng Từ-Bi-Hỷ-Xả nhân hậu đối xử với mọi người. Nên lấy ânbáo oán, thì oan khiên sẽ tiêu diệt. Không nên lấy thù trả oán thì thù oán sẽchất chồng, mà kiếp kiếp sẽ phải chìm đắm trong vòng sanh tử trả vay. Hãy nhớnhững lời ta đây, hỡi những người con hiếu thảo!"

Sau khi vua Hiền-Ðứcchết, thái tử trở lại núi rừng, nơi vua cha và thái tử đã từng sống qua nhữngngày tháng êm đềm thanh thoát, nhưng bây giờ đây chỉ còn lại kỷ niệm mà thôi.Thái tử một mình một bóng sống lặng lẽ với cỏ cây hoa lá thú rừng. Nhưng đôilúc thái tử nghĩ đến vua cha lòng trào dâng uất hận, quyết tìm cách báo thù.Những lúc ấy, hình ảnh của vua cha hiền từ thản nhiên ngồi trên dàn hỏa thốtlên những lời thống thiết cuối cùng lại hiện rõ về chiếm trọn tim óc của tháitử, làm cho lòng thái tử trở nên bình thản. Ðã nhiều lần nỗi uất hận trào dângthúc dục như thế, nhưng thái tử đều khắc phục dằn lòng được. Có những đêm một mìnhmột bóng dưới ánh trăng thâu, nghĩ đến cái chết của vua cha, nghĩ đến sự tantành của cả một hoàng tộc, lòng thái tử xót xa bất an uất ức, khí xung thiênsôi sục trào dâng.

Thế rồi, vào một ngàykia, nỗi oán hận căm thù xâm chiếm lòng thái tử. Thái tử không còn có thể yêntâm tiếp tục sống trong chốn u tịch rừng già, nên rời bỏ chốn sơn lâm để giảdạng người thường dân lẩn vào chốn kinh thành quyết chờ dịp báo thù cha, đền nợnước cho hả dạ. Nhờ sẵn có bẩm tánh tài trí thông minh với sự khôn ngoan lịch thiệnkhéo léo, nên thái tử đã được người giới thiệu vào làm kẻ tôi tớ giúp việc chomột vị quan đại thần triều đình. Chẳng bao lâu, thái tử đã được phép gần gũi vịquan đại thần và được lòng tin cậy, xem như người tâm phúc, cho làm cận vệ sănsóc hằng ngày. Vị quan đại thần rất đắc ý về người cận vệ tài ba lại chu đáocủa mình. Một hôm, nhân lúc cao hứng, quan đại thần hỏi: "Ngoài việc hằngngày con hầu cận bên ta, con còn có tài đặc biệt nào nữa không?"

Thái tử đáp:"Nghề nào con cũng có thể làm được. Nhưng đặc biệt là nghề nấu ăn thì concó khả năng và thích thú nhất".

Quả thật không sai,sau mấy lần nấu ăn, quan đại thần rất hài lòng về hương vị những món ăn do tháitử nấu. Từ đấy trở đi, quan đại thần lấy làm đắc ý, thường bày yến tiệc mời vuavà các quan đại thần trong triều. Ðặc biệt, mỗi lần vua dự tiệc do thái tử đíchthân đầu bếp thì đều Ác-Vương tấm tắt khen thức ăn đặc biệt ngon. Nhờ sự khéotay, chẳng bao lâu tiếng khen về tài nấu ăn của thái tử được đồn khắp cả hoàngtriều.

Biết được ý vua muốnngười đầu bếp của mình, đồng thời vị quan đại thần nầy cũng muốn đẹp lòng vua,nên đã tiến cử thái tử để cho vua dùng. Nhà vua được người đầu bếp đặc biệtxuất sắc, nên rất đỗi hài lòng. Chẳng bao lâu, thái tử được nhà vua thương mếntin cậy, phong chức quan yến trù để coi việc ăn uống và yến tiệc cho vua. Nhờcách ăn nói khôn ngoan, với tài nấu thức ăn khéo léo, chẳng bao lâu thái tửđược vua xem như người tâm phúc, luôn luôn được gần gũi bên cạnh vua. Từ ngàyđược hôm sớm hầu cận chăm sóc thức ăn cho Ác-Vương, thái tử lại càng tỏ ra tếnhị khôn khéo hiền hậu chân thật, nên Ác-Vương vô cùng thương mến tin cẩn.

Một hôm Ác-Vương bảothái tử chuẩn bị thức ăn để cùng vào rừng săn bắn. Trong lúc Ác-Vương hứng thúmải mê đuổi theo một con nai, nên bỏ đoàn tùy tùng cách xa phía sau. Chỉ cóÁc-Vương và thái tử đuổi theo nai lạc sâu vào rừng già. Ðến trưa, Ác-Vương quámệt mỏi nằm nghỉ dưới gốc cây, trao bảo kiếm cho thái tử cầm giữ. Dưới bóngmát, gió rừng phảng phất hiu hiu, hương rừng thoảng nhẹ, Ác-Vương gối đầu lênbắp vế của thái tử ngủ say lúc nào không hay.

Trong lúc đó, thái tửnghĩ rằng: "Giờ đây kẻ thù đã nằm trong tay ta rồi!" Thái tử rút gươmđịnh chém Ác-Vương. Nhưng ngay khi đó, lời trăn trối của vua cha vang vọng sốngdậy nơi lòng: "Hỡi những người con hiếu thảo! Không nên lấy oán trả oán,thì oán sẽ diệt dứt ... " Rồi thái tử lại nhè nhẹ tra thanh kiếm vào vỏ.Ba lần rút kiếm ra định chém đầu Ác-Vương. Nhưng ba lần hình ảnh của vua chaHiền Ðức hiện rõ về trong tâm thức với lời trăng trối thống thiết trước khichết trên dàn hỏa đỏ rực, làm cho thái tử ngừng tay.

Ác-Vương giựt mìnhtỉnh giấc hoảng hốt kêu to trong giọng nói kinh hoàng, đôi mắt trân trân nhìnthái tử nói: "Vừa rồi trẫm chiêm bao thấy có người cầm gươm muốn giếttrẫm! Kinh khủng quá!"

Thái tử từ tốn lễ độthưa: "Tâu Bệ-hạ! Có lẽ bệ hạ vì quá mỏi mệt, nên ngủ chiêm bao thế thôi.Có hạ thần đây rồi, ai mà dám hại Bệ-hạ! Xin Bệ-hạ cứ yên tâm".

Ác-Vương nghe ngườiđầu bếp tâm phúc của mình nói thế, lấy làm yên lòng rồi năm ngủ tiếp. Nhưngchẳng bao lâu, nhà vua lại giựt mình hoảng hốt thốt lên: "Trẫm chiêm baothấy có người rút gươm muốn giết trẫm!" Ðến lần chiêm bao thứ ba, Ác-Vươngquá kinh hãi về giấc mộng khủng khiếp, nên ngồi chỗi dậy kể cho thái tử nghe:"Trong giấc chiêm bao, trẫm thấy rõ thái tử con vua Hiền-Ðức rút gươm muốnchém ta! Lạ thật! Tại sao chỉ trong thời gian ngắn, mà trẫm đã ba lần chiêm baogiống nhau như thế nầy?" Ác-Vương rất đỗi lo âu cho mệnh hệ của mình.

Thái tử thấy thái độcủa Ác-Vương bàng hoàng khủng hoảng, động mối từ tâm, không còn muốn che dấunỗi lòng sâu kín đã ấp ủ từ lâu, liền bày tỏ tự sự với Ác-Vương: "TâuBệ-hạ! Bệ-hạ có biết chăng? Con của tiên vương Hiền-Ðức chính là hạ thần đây!Trong khi Bệ-hạ mỏi mệt say mê trong giấc ngủ, hạ thần đã ba lần rút gươm toanmuốn chém đầu Bệ-hạ để trả thù cho Phụ-vương. Nhưng nhớ lại lời phụ vương củahạ thần khi bị đưa lên dàn hỏa bức tử, trước khi nhắm mắt, người còn thốngthiết căn dặn: "Hỡi những người con hiếu thảo! Không nên lấy oán báo oán,oán sẽ chất chồng. Nên lấy ân trả oán, thì oán sẽ dứt diệt ..." Do vậy màhạ thần đã dừng tay. Và sáng nay, khi mải mê rượt đuổi nai, hạ thần cố ý làmcho Bệ-hạ lạc vào rừng sâu, chứ đâu phải hạ thần không biết lối ra! Hạ thần đãcó những việc lỗi lầm như thế, xin Bệ-hạ tùy ý xử phạt".

Ác-Vương nghe thái tửthuật xong, rất đỗi xúc động phán rằng: "Ta rất khâm phục tiên vương làbậc nhân đức.Ta rất xúc động quý mến khanh là kẻ chí hiếu đáng nêu gương chođời noi theo. Còn so lại ta đây, thật quả là kẻ quá tham ác tàn nhẫn. Giờ đâyta hiểu rõ điều thiện lẽ ác rồi. Ðúng lúc ta vui lòng đền tội để giải nỗi oankhiên khổ tâm thầm kín của khanh bấy lâu".

Nghe qua những lờinầy, thái tử quá xúc động quỳ khóc trước mặt Ác-Vương, rồi ngước mặt lên trờiphát nguyện những lời thống thiết: "Giữa Bệ-hạ và tiểu thàn nầy kể từ naytrở đi không còn thù hận gì nửa. Xin Trời Ðất và Phụ-vương chứng cho lòng thànhcủa con!"

Ác-Vương cảm động nắmlấy tay của thái tử rưng rưng rơi lệ, nghẹn ngào thốt không nên lời. Thế rồihai người, Ác-Vương và thái tử cùng nhau ra khỏi rừng già, thì thấy đoàn tùytùng đều lộ vẻ lo âu cho nhà vua, họ đã chờ đợi nhà vua từ lúc nào.

Ác-Vương hướng về đámquần thần tùy tùng nói lớn: "Các khanh hãy nghe đây! Hôm nay ta muốn chocác khanh biết một điều tối quan trọng. Các khanh có biết thái tử con của tiênvương Hiền-Ðức giờ nầy đang ở đâu không?"

Mọi người đều ngơ ngácnhìn nhau trước câu hỏi bất ngờ của Ác-Vương. Thì trong đám tùy tùng có một đạithần bước ra quỳ gối tâu rằng: "Tâu Bệ-hạ! Khi hành quyết hỏa thiêu vuaHiền-Ðức, thì thái tử con của vua ấy đã thất kinh hồn vía chạy lạc mất cho đếnnay, không còn biết tông tích ở đâu nữa cả".

Ác-Vương xoay lại nắmlấy tay thái tử giơ cao lên hướng về mọi người mà phán to rằng: "Ðây chínhlà thái tử con của tiên vương Hiền-Ðức. Ðúng là một người con chí hiếu, một bậctrung thần nhân hậu, không trả thù, mà lấy ân báo oán. Nhờ đức tánh trung hậuquân tử đó, nên ta còn được sống mà gặp lại các khanh nơi đây. Nếu không, ta đãrơi đầu nơi rừng sâu, đâu còn có cơ hội gặp lại các khanh nữa. Nay ta quyếtđịnh trả nước lại cho thái tử và làm lễ đăng quang để thái tử lên ngôi kế vìtiên vương Hiền-Ðức. Từ đây hai nước kết giao thân hữu".

Trước lời tuyên bố bấtngờ của Ác-Vương, quần thần ngơ ngác ngạc nhiên. Sau đó, thái tử được suy tônlên ngôi vua, dân chúng cả nước vạn triệu người như một hân hoan khấp khởi vuimừng, âu ca lạc nghiệp.

Giảng xong câu chuyệntiền kiếp trên đây, đức Phật hướng về đại chúng nói rằng: "Vị Ác-Vương ởthời quá khứ kia chính là Ðề-Bà Ðạt-Ða. Còn vị thái-tử trung hiếu kia là tiềnthân của A-Nan. Vị vua Hiền-Ðức thời quá khứ đó chính là tiền thân của Thích-CaNhư-Lai đây vậy".

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/01/2018(Xem: 17269)
Hồi còn tại thế xưa kia Trên đường giáo hóa Phật đi qua làng Ngài đi cùng ông A Nan Khai tâm gieo ánh đạo vàng giúp dân. Đang đi ngài bỗng dừng chân Bước quanh lối khác có phần xa thêm Ông A Nan rất ngạc nhiên Vội lên tiếng hỏi. Phật liền giảng ra: "Này A Nan phía trước ta Có quân giặc cướp thật là hiểm nguy Sau ta ba kẻ đang đi Gặp quân giặc đó khó bề thoát qua!"
08/01/2018(Xem: 17458)
Ở bên Ấn Độ thuở xưa Nơi thành Xá Vệ, buổi trưa một ngày Gia đình kia thật duyên may Phật thương hóa độ, dừng ngay tại nhà, Tiếc thay chồng vợ tỏ ra Tham lam, độc ác, xấu xa, hung tàn. Hóa thành một vị đạo nhân Phật đi khất thực dừng chân trước thềm Ôm bình bát, đứng trang nghiêm, Anh chồng đi vắng, vợ liền nhảy ra Tay xua đuổi, miệng hét la
07/01/2018(Xem: 9853)
Sau mỗi lần có dịp viếng thăm các chứng tích như tượng đài, lăng mộ, viện bảo tàng, nhà lưu niệm, ..., của những nhân vật mà cuộc đời phần nào liên quan đến đời sống vật chất hay tinh thần, sự thịnh suy ,... của một nhóm người, một dân tộc, một vùng, một quốc gia,..., tôi ra về lòng những bâng khuâng với hai câu : Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ ? trong bài thơ Ông Đồ của nhà thơ Vũ Đình Liên.
21/12/2017(Xem: 6257)
Anh sinh ra và lớn lên ở miền gió cát khô nóng Phan Rang. Là một Phật tử thuần thành, lại được phước báu khi có đến hai người con trai xuất gia, nên nhân duyên đưa đẩy đã trở thành đạo hữu của tôi qua nhiều lần hội ngộ lạ lùng ở các thiền viện thuộc dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Kết tình đạo hữu với nhau đã gần mười năm rồi, mỗi lần gặp mặt, tôi và anh đều tay bắt mặt mừng, trò chuyện thân mật, nhưng người huyên thiên lúc đàm đạo là anh, còn tôi thì cứ chỉ biết gật gù, mỉm cười, họa hoằn lắm mới buông một đôi câu phụ họa. Anh quý mến tôi ở điểm đó.
15/12/2017(Xem: 12766)
Hương Lúa Chùa Quê" Bản Tình Ca Quê Hương của nhị vị Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và Thích Như Điển. Sau khi đọc tác phẩm “Hương Lúa Chùa Quê” chúng con không dám mong ước giới thiệu sự nghiệp văn học, văn hóa cả đạo lẫn đời của nhị vị Hòa Thượng. Vì công trình tạo dựng sự nghiệp của các bậc xuất sĩ không nằm trong “nguồn văn chương sáng tác”. Vì xuyên qua mấy chục năm hành đạo và giúp đời, nhị vị đã xây dựng nhiều cơ sở Phật giáo đồ sộ trên nhiều quốc độ khác nhau như: chùa Pháp Bảo tại nước Úc; chùa Viên Giác và Tu viện Viên Đức tại nước Đức. Nhị vị cũng đã mang ánh Đạo vàng đến khắp muôn nơi, soi sáng cho bước chân “người cùng tử” được trở về dưới mái nhà xưa, để thấy lại “bóng hình chân nguyên”; dẫn đường cho những người chưa thể “tự mình thắp đuốc lên mà đi” được tìm lại “bản lai diện mục”. Đó mới gọi là “sự nghiệp” của bậc xuât sĩ. Điều nầy đã có lịch sử ghi nhận từ mạch nguồn công đức biểu hiện và lưu truyền.
15/12/2017(Xem: 134219)
Trải hơn 25 thế kỷ, Chánh Pháp của Phật vẫn được tuyên dương và lưu truyền bởi hàng đệ tử xuất gia lẫn tại gia, đem lại giải thoát và giác ngộ cho những ai học hỏi và thực hành đúng đắn. Chánh Pháp ấy là thuốc hay, nhưng bệnh mà không uống thì chẳng phải là lỗi của thuốc. Trong kinh Di Giáo, đức Phật cũng ân cần huấn thị lần chót bằng những lời cảm động như sau: “Thể hiện lòng đại bi, Như Lai đã nói Chánh Pháp ích lợi một cách cứu cánh. Các thầy chỉ còn nỗ lực mà thực hành… Hãy tự cố gắng một cách thường trực, tinh tiến mà tu tập, đừng để đời mình trôi qua một cách vô ích, và sau này sẽ phải lo sợ hối hận.” Báo Chánh Pháp có mặt để góp phần giới thiệu đạo Phật đến với mọi người. Ước mong giáo pháp của Phật sẽ được lưu chuyển qua những trang báo nhỏ này, mỗi người sẽ tùy theo căn tánh và nhân duyên mà tiếp nhận hương vị.
29/11/2017(Xem: 9461)
Trong loạt bài Kể Chuyện Đường Xa lần này, người viết đặt thêm tên cho mục này Vòng Quanh Thế Giới, để có cùng tên với loạt phóng sự sẽ đưa lên tvtsonline.com.au với nhạc hiệu mở đầu của bài “Vòng quanh thế giới” người viết sáng tác gần bốn thập niên trước đây. Từ năm 1990, chúng tôi đã bắt đầu viết bút ký với chuyến đi Bangkok (Thái Lan) và loạt bài cuối cùng là chuyến du lịch Âu Châu vào năm 2015.
27/11/2017(Xem: 7494)
Nếu chấp nhận thuyết nhân duyên của Đạo Phật thì có thể dễ dàng, giải thích cho mọi tình huống và mọi sự việc xảy ra trong cuộc đời nầy. Nhân duyên hay duyên sanh cũng tương tự với nhau. Đó là: „Cái nầy có cho nên cái kia có; cái nầy sanh cho nên cái kia sanh. Cái nầy diệt, cho nên cái kia cũng diệt theo“. Không ai trong chúng ta có thể biết trước được việc gì sẽ xảy đến cho mình về sau nầy cả; dầu cho chúng ta có cố gắng làm mọi việc tốt đẹp trong hiện tại; nhưng dư báo trong quá khứ, ai biết được thiện, ác còn lại bao nhiêu mà lường được. Chỉ khi nào nắp quan tài đậy lại trong kiếp nầy, thì lúc ấy ta mới biết được cái quả trong hiện tại là cái nhân như thế nào mà trong quá khứ của chúng ta đã gây ra và chính cái quả của ngày hôm nay sẽ là cái nhân cho ngày sau nữa.
01/11/2017(Xem: 6899)
Hôm nay ngày 1.11 tôi viết bài này chỉ nhằm kể một câu chuyện thực tế lịch sử; vì đâu, nguyên nhân, tôi xin miễn đào sâu vì cũng không có đủ hiểu biết, thời gian và cũng không phải mục đích tôi muốn chia sẻ ở đây! Ba mẹ tôi đều sinh ra và lớn lên tại Huế, học xong tú tài ở trường Khải Định năm 1955 (tên lúc bấy giờ của trường Quốc Học Huế). Giai đoạn đó đất nước vừa chia đôi, TT Ngô Đình Diệm vừa chấp chính. Ông Diệm xuất thân từ gia đình quan lại, bản thân ông cũng từng đỗ đạt ra làm thượng thư như cha của ông là Ngô Đình Khả, anh là Ngô Đình Khôi, nên rất trọng bằng cấp, học vấn như lối suy nghĩ của tầng lớp trí thức nho học thời bấy giờ. Vì vậy ông Diệm rất ưu tiên cho ngành giáo dục, đặc biệt trong giai đoạn sau 1954 khi người Pháp rời khỏi VN, cần xây dựng một nền giáo dục bản xứ thay thế cho nền giáo dục thuộc địa của Pháp.
19/10/2017(Xem: 22603)
Truyện thơ: Hoàng Tử Khéo Nói và Con Thủy Quái, (thi hóa, phỏng dịch theo bản văn xuôi PRINCE GOODSPEAKER AND THE WATER DEMON của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson) , Ngày xưa có một ông vua Trị vì đất nước rất ư công bằng Cạnh bên hoàng hậu đoan trang Vua yêu, vua quý, chứa chan hương tình. Thế rồi hoàng hậu hạ sinh Một trai kháu khỉnh đẹp xinh vô cùng Nhà vua sung sướng vui mừng Nghĩ suy chọn lựa tìm đường đặt tên Mong cho con lúc lớn lên Vẻ vang ngôi vị, êm đềm tương lai Vua bèn đặt tên con trai Hoàng tử Khéo Nói, nhiều tài mai sau.