85. Da-xoa-mật-đa

04/03/201103:31(Xem: 9582)
85. Da-xoa-mật-đa

MỘT TRĂM BÀI KINH PHẬT
Đoàn Trung Còn - Nguyễn Minh Tiến dịch và chú giải

PHẨM THỨ CHÍN: CÁC VỊ THANH VĂN

DA-XOA-MẬT-ĐA

Lúc ấy, Phật ở gần thành Xá-vệ, trong vườn Kỳ thọ Cấp Cô Độc. Trong thành có một người trưởng giả giàu có vô cùng, chọn một người con nhà hào phú mà cưới về làm vợ, sống êm ấm bên nhau.

Không bao lâu, người vợ có thai, rồi sinh được một bé trai kháu khỉnh. Ngay khi sinh ra, trời đổ cơn mưa to. Cha mẹ vui mừng lắm, mời thầy đến xem tướng cho con. Thầy tướng bảo rằng, nhờ phước đức của cậu bé nên trời đổ cơn mưa lớn. Vì vậy, đặt tên là Da-xoa-mật-đa.

Đứa trẻ ấy chẳng bú sữa mẹ, từ trong miệng chỗ kẽ răng tự nhiên chảy ra loại nước quý đủ tám công đức, khiến trong người tự thấy no đủ.

Qua nhiều năm lớn lên, cùng với các vị thân hữu đến tinh xá Kỳ Hoàn lễ Phật. Nhìn thấy đức Thế Tôn với ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, hào quang chiếu sáng quanh thân, oai nghi rực rỡ thù thắng vô cùng, Gia-xoa-mật-đa sinh lòng tín kính, liền quỳ lễ Phật cầu xin xuất gia. Phật nói: “Lành thay đó, tỳ-kheo!” Tức thì, râu tóc tự nhiên rụng sạch, áo cà-sa hiện ra nơi thân, thành một vị tỳ-kheo oai nghi đầy đủ. Chuyên cần tu tập, chẳng bao lâu đắc quả A-La-hán, đủ Ba trí sáng, Sáu phép thần thông, Tám môn giải thoát, khắp cõi trời người ai gặp cũng đều kính trọng, ngưỡng mộ.

Bấy giờ, chư tỳ-kheo thấy vậy liền thưa hỏi: “Bạch Thế Tôn! Tỳ-kheo Da-xoa-mật-đa trước đây đã tạo phước đức như thế nào, mà khi sinh ra trời lại đổ mưa lớn, trong miệng tự có loại nước quý đủ tám công đức, lại được gặp Phật, xuất gia thành đạo quả?”

Phật bảo chư tỳ-kheo: “Các ngươi hãy chú tâm lắng nghe, ta sẽ vì các ngươi mà phân biệt giảng nói. Về khoảng giữa Hiền kiếp này, xứ Ba-la-nại có vị Phật ra đời hiệu là Ca-diếp.

Trong chúng hội của Phật, có người trưởng giả đã già yếu lắm rồi mới xuất gia. Người ấy nhọc mệt, chẳng thể tu tập chuyên cần được, lại thêm mắc bệnh rất nguy kịch. Thầy thuốc xem bệnh bảo phải dùng món sữa đặc pha thuốc uống mới khỏi bệnh. Liền nghe lời, theo như vậy pha thuốc mà uống.

Đến nữa đêm, thuốc công phạt trong người, khô khát nóng nảy, chạy tìm nước uống. Đến đâu cũng đều khô cạn, chẳng tìm được chỗ nào có nước. Chạy ra hồ nước phía trước, hồ cũng cạn khô, thậm chí chạy đến bờ sông, liền thấy sông cũng đã khô cạn. Tìm nước khắp nơi đều chẳng được, liền tự hối trách ác nghiệp của mình, nơi bờ sông cởi tấm y treo lên cây mà đi về.

Đến sáng hôm sau, đem chuyện như vậy trình lên thầy trú trì. Thầy nói: “Nghiệp khổ của nhà ngươi nay giống như loài ngạ quỷ. Ngươi nên lấy nước trong bình của ta, đến chỗ chư tăng mà phân phát.”

Vị tỳ-kheo ấy nghe lời thầy dạy, cầm bình đi chia nước, nước trong bình liền khô cạn.

Khi ấy, trong lòng vị tỳ-kheo sinh ra lo lắng, hốt hoảng, sợ rằng khi mạng chung sẽ phải đọa làm thân ngạ quỷ, liền tìm đến chỗ Phật mà cầu khẩn: “Bạch Thế Tôn! Con nay khốn khổ, trong lòng lo sợ phải đọa làm thân ngạ quỷ. Mong được đức Thế Tôn từ bi chỉ giáo.”

Phật dạy: “Ngươi nên ở giữa chúng tăng, phát tâm cung phụng nước sạch tinh khiết, có thể nhờ đó thoát thân ngạ quỷ.”

Vị tỳ-kheo ấy nghe vậy hết sức vui mừng, liền đến giữa chúng tăng mà phát nguyện rằng: “Từ nay tôi sẽ lo việc cung phụng nước sạch cho chư tăng.”

Người làm như vậy trải qua đến hai mươi ngàn năm rồi mới mạng chung. Quả nhiên thoát khỏi chẳng đọa vào thân ngạ quỷ. Khi sinh ra trong chốn trời người đều sẵn có nước quý đủ tám công đức hiển hiện trong người, không dùng sữa mẹ. Cho đến nay được gặp Phật, xuất gia đắc đạo.”

Phật lại dạy rằng: “Vị tỳ-kheo già yếu thuở xưa, nay là tỳ-kheo Da-xoa-mật-đa đó.”

Các vị tỳ-kheo nghe Phật thuyết nhân duyên này xong thảy đều vui mừng tin nhận.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/10/2010(Xem: 5966)
Hằng Nga trong cung trăng: Theo sách của Hoài Nam Tử, Hậu Nghệ xin thuốc trường sinh của bà Tây Vương Mẫu, Hằng Nga là vợ của Hậu Nghệ uống trộm...
27/10/2010(Xem: 26725)
Mục đích của chúng tôi trong khi sưu tập những mẫu chuyện kể này là để mọi người thưởng thức những tinh hoa hay đẹp của giáo – lý qua những câu chuyện tươi sáng đẹp đẽ. Nếu công việc sưu tập ca – dao là một việc khó thì công việc sưu tập và trình bày những mẩu chuyện cổ của đạo Phật cũng là một việc khó khăn và đòi hỏi sự hợp lực của nhiều người. Hàng chục ngàn mẫu chuyện đạo, nào thuộc loại tiền thân, nào thuộc loại lịch sử, nào thuộc loại thí dụ, nào thuộc loại triết lý. . . những câu chuyện đó thật là phong phú và chứa đựng những tinh hoa của giáo - lý, từ - bi và trí tuệ. . . Ðọc những mẫu chuyện đạo ấy, không ai thấy chán nản cả. Các em thiếu nhi thích đã đành, người lớn chúng ta cũng vẫn thích và hơn thế nữa, lắm lúc cũng phải suy nghĩ nhiều để có thể hiểu được triết – lý của một câu chuyện. Chúng tôi sức lực không bao lăm thành thử trông mong rất nhiều ở các vị học giả thâm uyên và dày công nghiên cứu. Chúng tôi chỉ muốn làm công việc nói lên những nguyện vọng, và tr
22/10/2010(Xem: 6878)
Tại biên giới của tỉnh Tây Khương sát với Tây Tạng, có một bà lão sống cô độc, chồng và đứa con trai duy nhất của bà đã qua đời. Bà sống nhờ một thửa đất nhỏ trồng những hạt ngũ cốc. Vì cuộc đời đã trải qua nhiều gian truân từ nhỏ, bà lão cảm thấy nghiệp chướng trong người rất nặng nên đã cố công tìm hỏi những người chung quanh phương pháp chuộc tội để cầu xin cho tâm hồn được bình yên.
21/10/2010(Xem: 16088)
Bị xổng một lần trong khóa tu học kỳ 6 tại Bỉ, vì chọn ngày hè trật đường rầy (hãng tôi làm việc phải chọn hè từ đầu tháng 2); năm sau, tôi quyết tâm canh ngày giờ cho đúng để tham dự cho bằng được khóa tu học kỳ 7 tại Đan Mạch, do Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Âu Châu tổ chức.
19/10/2010(Xem: 15275)
Khi xe chúng tôi đến nơi, đồng hồ chỉ đúng 12 giờ khuya. Phòng ốc dành cho 300 giường đã không còn chỗ trống. Ban Tổ Chức đành trưng dụng phòng họp, phòng học - một cho phái nữ, một cho phái nam - với các tấm nệm lót dưới đất cho chúng tôi ngủ tạm. Giải quyết một lúc cho phái đoàn Thụy Sĩ 30 người - chưa kể các nước khác - đâu phải dễ. Vả lại đi chùa thì phải chấp nhận "ăn chay nằm đất". Nằm "đất" còn phải chịu, lựa là nằm "nệm", nên chúng tôi vui vẻ nhận lời, không than van gì cả. Mà than van nỗi gì được khi đã hiểu giáo lý (dù chút chút) của đạo Phật. Mọi sự phải do "duyên" mà có. Và "duyên" này khởi từ "nhân" chiều nay.
17/10/2010(Xem: 16741)
Hơn 6 tiếng xe lửa từ Aschaffenburg, tôi trở về đến nhà gần 10 giới tối. Lục đục tắm rửa, ăn chén súp nóng (do chồng nấu cho) huyên thuyên kể chuyện, rồi đánh răng... mãi gần 12 giờ khuya tôi mới lên giường đi ngủ. Sáng sớm hôm sau 6 giờ thức dậy sửa soạn đi... cày. Công việc ứ đọng của 2 ngày thứ 5, thứ 6 (lấy hè, cộng với công việc của thứ 2 đầy ắp trên bàn. Tôi một mình chịu trách nhiệm một phòng không ai thay thế). Ông xếp trước khi về văn phòng còn đứng đó chờ đợi, vẻ lo âu. Tôi trấn an ông:
17/10/2010(Xem: 8504)
Tết Trung Thu ăn vào ngày rằm tháng 8. Nguyên cuối đời nhà Tây Hán (206 trước 23 sau D.L.), Vương Mãng nhân được cầm giữ chính quyền...
17/10/2010(Xem: 5295)
Một vị thương gia lập nghiệp từ tay trắng, sau kiếm được rất nhiều tiền nhưng vì buôn bán trong thời kinh tế không ổn định, khiến anh ta trở nên phá sản, nợ nần chồng chất. Nghĩ mãi không tìm ra cách giải quyết, anh ta bèn ra bờ sông tự tử. Vào lúc canh ba một đêm nọ, anh ta đến trước bờ sông, bỗng nhiên nhìn thấy một thiếu nữ đang ngồi khóc thảm thiết, anh bèn đến hỏi cô gái: - Có chuyện gì mà đêm hôm khuya khoắt cô ngồi khóc một mình ở đây?
16/10/2010(Xem: 6905)
Hàng ngàn năm trước tây lịch, khi thổ dân Dravidian còn ngự trị khắp lãnh thổ Ấn Độ cổ thời, vùng phía tây Hy Mã Lạp Sơn là lãnh địa của rắn. Vốn là vùng rừng núi bạc ngàn nằm trên nóc nhà thế giới, Hy Mã Lạp Sơn là nơi thâm u bí hiểm với sơn lam chướng khí trùng trùng và vô số loài thú dữ cư ngụ sẵn sàng lấy mạng người để làm thức ăn. Thời đó, thổ dân Dravidian không có đủ vũ khí hùng mạnh để chống cự với các loài mãnh thú và tự bảo vệ mình. Từng người vào rừng săn tìm thức ăn đã không thấy trở về. Độc địa nhất không phải chỉ là những hổ, cọp, gấu, beo nằm lồ lộ chờ mồi bên bờ suối, dưới gốc cây hay trong khe đá, mà ngay bên dưới lớp lá khô mục của đường rừng là những loài rắn nguy hiểm chực chờ bước chân người.
16/10/2010(Xem: 6588)
Trong thiền không có đầu đuôi, khúc chiết, lý luận. Nó đập vỡ lý luận. Đó là thế giới lý tưởng của câu thơ lớp ba mồ côi luận lý. Thế giới của những câu cuối lấc cấc, mẹ gà con vịt. Đừng bắt tôi giải thích; hãy lang thang với tôi trong câu cuối của dăm ba chuyện thiền nổi tiếng.