26. Qua sông độ người

04/03/201103:31(Xem: 9815)
26. Qua sông độ người

MỘT TRĂM BÀI KINH PHẬT
Đoàn Trung Còn - Nguyễn Minh Tiến dịch và chú giải

PHẨM THỨ BA: THỌ KÝ BÍCH-CHI PHẬT

QUA SÔNG ĐỘ NGƯỜI

Lúc ấy, Phật đang ở xứ Ma-kiệt-đề, cùng với chư tỳ-kheo đi giáo hóa trong xứ, ngày kia đến bờ con sông Hằng. Nơi bờ sông chỗ ấy có một người đưa thuyền. Đức Phật nói với người này rằng: “Ngươi nên vì ta mà đưa các vị tỳ-kheo qua sông.” Người lái đò đáp: “Ông trả bao nhiêu tiền xin nói trước, rồi tôi mới thuận đưa các vị sang sông.”

Đức Phật liền nói với người ấy: “Ngươi nên biết rằng ta đây cũng là người đưa thuyền như ngươi không khác. Trong cõi đời khổ não này, ta là kẻ đưa người vượt qua biển khổ sanh tử, không phải là việc đáng làm đó sao? Như Ương-quật-ma-la lòng đầy sân hận, giết hại nhiều người, ta đã từng độ cho qua khỏi biển khổ sanh tử. Như Ma-na-đáp-đà lòng đầy kiêu ngạo, khinh miệt mọi người, ta cũng độ cho vượt qua biển khổ sanh tử. Như Ưu-lưu-tần-loa Ca-diếp ngu si không có trí, ta lại cũng độ cho vượt qua biển khổ sanh tử. Lại còn vô số người khác như vậy, ta cũng đã từng độ cho vượt qua biển khổ sanh tử, mà chẳng hề nói giá đòi tiền. Nay sao ngươi lại buộc ta phải nói giá trước rồi mới đưa người qua sông?”

Đức Phật thuyết đủ mọi lẽ với người lái đò như vậy, mà ông ta vẫn ngoan ngạnh, chẳng chịu đưa người qua sông.

Bấy giờ, nơi mé sông phía dưới gần đó, có một ông lái đò khác, nghe được những điều Phật nói, lòng sinh vui mừng, mới đến bạch Phật rằng: “Nay con xin vì Phật mà đưa chư vị tỳ-kheo sang sông.” Phật liền nhận lời.

Người lái đò liền chuẩn bị thuyền, mời các vị tỳ-kheo lên thuyền mà đưa sang sông. Khi ấy, các vị tỳ-kheo mới hiện thần biến, có người bay lên hư không, có người bay ra giữa sông, có người hiện lên ở bờ sông bên kia.

Lúc đó, mấy người lái đò nhìn thấy Phật và chư tăng hiện các phép thần biến, sinh lòng tin phục, kính ngưỡng, khen là việc chưa từng có, đều làm lễ Phật và chư tăng. Phật liền vì mọi người mà thuyết pháp. Nghe pháp rồi, tâm ý khai mở, đều được đắc quả Tu-đà-hoàn.

Bấy giờ, người lái đò lúc nãy đòi nói giá trước, giờ thấy người lái đò ở bến dưới đưa Phật với chư tăng qua sông, lại thấy được các phép thần biến, trong lòng sinh ra hổ thẹn, liền phủ phục xuống chí thành lễ bái, cầu sám hối với Phật. Lại xin thỉnh Phật và chư tăng về nhà dự lễ cúng dường. Phật liền nhận lời.

Người lái đò được Phật nhận lời, liền quay về nhà sắp sửa lễ cúng dường trang nghiêm, đủ các món ngon lạ, tinh sạch, đủ trăm mùi vị, tự thân lo lắng mọi việc, cúng dường Phật và chư tỳ-kheo tăng.

Lễ cúng dường xong, người liền sắp đặt một chỗ ngồi ở gần nơi Phật mà xin được nghe pháp. Khi ấy Phật vì người lái đò mà thuyết pháp. Ông nghe xong rồi tâm ý khai mở, mới phát lời đại nguyện rằng: “Con nay nhờ công đức cúng dường này, nguyện trong đời vị lai sẽ thành chánh giác, độ khắp chúng sanh, giống như Phật ngày nay không khác.”

Khi ông phát nguyện như vậy rồi thì đức Thế Tôn liền mỉm cười, từ nơi trán, giữa hai lông mày phóng ra một đạo hào quang năm sắc chiếu khắp thế giới, hóa hiện đủ các màu sắc, bay quanh Phật ba vòng rồi lại theo chỗ trên trán Phật mà bay trở vào.

Khi ấy, A-nan bạch Phật rằng: “Như Lai là đấng tôn quý, chẳng vô cớ mà cười bao giờ. Nay vì nhân duyên gì mà Phật mỉm cười, xin giảng giải cho được biết.”

Phật bảo A-nan: “Ngươi có nhìn thấy người lái đò đây sanh tâm hổ thẹn rồi phát nguyện cúng dường ta hôm nay chăng?” A-nan thưa: “Bạch Thế Tôn, con đã thấy.”

Phật bảo A-nan rằng: “Người lái đò này nhờ công đức sám hối, cúng dường ta, trong tương lai không còn bị đọa vào các đường ác nữa, lại thường được hưởng những điều khoái lạc trong cõi trời người. Trải qua ba a-tăng-kỳ kiếp nữa sẽ thành Phật Bích-chi, hiệu là Độ Sanh Tử Hải, hóa độ chúng sanh số lượng nhiều không thể tính đếm. Vì nhân duyên ấy mà ta mỉm cười.”

Các vị tỳ-kheo nghe Phật thuyết nhân duyên này xong thảy đều vui mừng tin nhận.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/10/2010(Xem: 5967)
Hằng Nga trong cung trăng: Theo sách của Hoài Nam Tử, Hậu Nghệ xin thuốc trường sinh của bà Tây Vương Mẫu, Hằng Nga là vợ của Hậu Nghệ uống trộm...
27/10/2010(Xem: 26725)
Mục đích của chúng tôi trong khi sưu tập những mẫu chuyện kể này là để mọi người thưởng thức những tinh hoa hay đẹp của giáo – lý qua những câu chuyện tươi sáng đẹp đẽ. Nếu công việc sưu tập ca – dao là một việc khó thì công việc sưu tập và trình bày những mẩu chuyện cổ của đạo Phật cũng là một việc khó khăn và đòi hỏi sự hợp lực của nhiều người. Hàng chục ngàn mẫu chuyện đạo, nào thuộc loại tiền thân, nào thuộc loại lịch sử, nào thuộc loại thí dụ, nào thuộc loại triết lý. . . những câu chuyện đó thật là phong phú và chứa đựng những tinh hoa của giáo - lý, từ - bi và trí tuệ. . . Ðọc những mẫu chuyện đạo ấy, không ai thấy chán nản cả. Các em thiếu nhi thích đã đành, người lớn chúng ta cũng vẫn thích và hơn thế nữa, lắm lúc cũng phải suy nghĩ nhiều để có thể hiểu được triết – lý của một câu chuyện. Chúng tôi sức lực không bao lăm thành thử trông mong rất nhiều ở các vị học giả thâm uyên và dày công nghiên cứu. Chúng tôi chỉ muốn làm công việc nói lên những nguyện vọng, và tr
22/10/2010(Xem: 6878)
Tại biên giới của tỉnh Tây Khương sát với Tây Tạng, có một bà lão sống cô độc, chồng và đứa con trai duy nhất của bà đã qua đời. Bà sống nhờ một thửa đất nhỏ trồng những hạt ngũ cốc. Vì cuộc đời đã trải qua nhiều gian truân từ nhỏ, bà lão cảm thấy nghiệp chướng trong người rất nặng nên đã cố công tìm hỏi những người chung quanh phương pháp chuộc tội để cầu xin cho tâm hồn được bình yên.
21/10/2010(Xem: 16091)
Bị xổng một lần trong khóa tu học kỳ 6 tại Bỉ, vì chọn ngày hè trật đường rầy (hãng tôi làm việc phải chọn hè từ đầu tháng 2); năm sau, tôi quyết tâm canh ngày giờ cho đúng để tham dự cho bằng được khóa tu học kỳ 7 tại Đan Mạch, do Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Âu Châu tổ chức.
19/10/2010(Xem: 15276)
Khi xe chúng tôi đến nơi, đồng hồ chỉ đúng 12 giờ khuya. Phòng ốc dành cho 300 giường đã không còn chỗ trống. Ban Tổ Chức đành trưng dụng phòng họp, phòng học - một cho phái nữ, một cho phái nam - với các tấm nệm lót dưới đất cho chúng tôi ngủ tạm. Giải quyết một lúc cho phái đoàn Thụy Sĩ 30 người - chưa kể các nước khác - đâu phải dễ. Vả lại đi chùa thì phải chấp nhận "ăn chay nằm đất". Nằm "đất" còn phải chịu, lựa là nằm "nệm", nên chúng tôi vui vẻ nhận lời, không than van gì cả. Mà than van nỗi gì được khi đã hiểu giáo lý (dù chút chút) của đạo Phật. Mọi sự phải do "duyên" mà có. Và "duyên" này khởi từ "nhân" chiều nay.
17/10/2010(Xem: 16744)
Hơn 6 tiếng xe lửa từ Aschaffenburg, tôi trở về đến nhà gần 10 giới tối. Lục đục tắm rửa, ăn chén súp nóng (do chồng nấu cho) huyên thuyên kể chuyện, rồi đánh răng... mãi gần 12 giờ khuya tôi mới lên giường đi ngủ. Sáng sớm hôm sau 6 giờ thức dậy sửa soạn đi... cày. Công việc ứ đọng của 2 ngày thứ 5, thứ 6 (lấy hè, cộng với công việc của thứ 2 đầy ắp trên bàn. Tôi một mình chịu trách nhiệm một phòng không ai thay thế). Ông xếp trước khi về văn phòng còn đứng đó chờ đợi, vẻ lo âu. Tôi trấn an ông:
17/10/2010(Xem: 8504)
Tết Trung Thu ăn vào ngày rằm tháng 8. Nguyên cuối đời nhà Tây Hán (206 trước 23 sau D.L.), Vương Mãng nhân được cầm giữ chính quyền...
17/10/2010(Xem: 5295)
Một vị thương gia lập nghiệp từ tay trắng, sau kiếm được rất nhiều tiền nhưng vì buôn bán trong thời kinh tế không ổn định, khiến anh ta trở nên phá sản, nợ nần chồng chất. Nghĩ mãi không tìm ra cách giải quyết, anh ta bèn ra bờ sông tự tử. Vào lúc canh ba một đêm nọ, anh ta đến trước bờ sông, bỗng nhiên nhìn thấy một thiếu nữ đang ngồi khóc thảm thiết, anh bèn đến hỏi cô gái: - Có chuyện gì mà đêm hôm khuya khoắt cô ngồi khóc một mình ở đây?
16/10/2010(Xem: 6905)
Hàng ngàn năm trước tây lịch, khi thổ dân Dravidian còn ngự trị khắp lãnh thổ Ấn Độ cổ thời, vùng phía tây Hy Mã Lạp Sơn là lãnh địa của rắn. Vốn là vùng rừng núi bạc ngàn nằm trên nóc nhà thế giới, Hy Mã Lạp Sơn là nơi thâm u bí hiểm với sơn lam chướng khí trùng trùng và vô số loài thú dữ cư ngụ sẵn sàng lấy mạng người để làm thức ăn. Thời đó, thổ dân Dravidian không có đủ vũ khí hùng mạnh để chống cự với các loài mãnh thú và tự bảo vệ mình. Từng người vào rừng săn tìm thức ăn đã không thấy trở về. Độc địa nhất không phải chỉ là những hổ, cọp, gấu, beo nằm lồ lộ chờ mồi bên bờ suối, dưới gốc cây hay trong khe đá, mà ngay bên dưới lớp lá khô mục của đường rừng là những loài rắn nguy hiểm chực chờ bước chân người.
16/10/2010(Xem: 6588)
Trong thiền không có đầu đuôi, khúc chiết, lý luận. Nó đập vỡ lý luận. Đó là thế giới lý tưởng của câu thơ lớp ba mồ côi luận lý. Thế giới của những câu cuối lấc cấc, mẹ gà con vịt. Đừng bắt tôi giải thích; hãy lang thang với tôi trong câu cuối của dăm ba chuyện thiền nổi tiếng.