83. Bàn tay vàng

04/03/201103:31(Xem: 10327)
83. Bàn tay vàng

MỘT TRĂM BÀI KINH PHẬT
Đoàn Trung Còn - Nguyễn Minh Tiến dịch và chú giải

PHẨM THỨ CHÍN: CÁC VỊ THANH VĂN

BÀN TAY VÀNG

Lúc ấy, Phật ở thành Xá-vệ, trong vườn Kỳ thọ Cấp Cô Độc. Trong thành có một người trưởng giả giàu có vô cùng, cưới một người vợ cũng thuộc dòng hào tộc, cuộc sống rất hoan lạc, vui thích.

Không bao lâu người vợ có thai, rồi sinh được một bé trai dung mạo đoan trang, xinh đẹp. Khi trẻ sinh ra, trong hai bàn tay có nắm hai đồng tiền vàng. Khi thả rớt ra thì lại hiện hai đồng tiền vàng khác, cứ thế chẳng bao giờ hết. Cha mẹ vui mừng mời thầy đến xem tướng, nhân việc có tiền vàng trong tay, liền đặt tên là Bảo Thủ.

Đến khi khôn lớn, tính tình hiền hậu, hiếu thuận, có lòng thương người, thời hay bố thí cho kẻ nghèo hèn, túng thiếu. Khi có người đến xin, liền lấy tiền vàng trong tay mà bố thí. Lấy đi rồi lại có trở lại, chẳng bao giờ hết.

Ngày kia, có dịp đi chơi cùng chúng bạn, lại đến tinh xá Kỳ Hoàn mà gặp Phật. Nhìn thấy đức Thế Tôn với ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, hào quang chiếu sáng quanh thân, oai nghi rực rỡ thù thắng vô cùng, Bảo Thủ liền sinh lòng hoan hỷ, kính tín, chấp tay bạch Phật rằng: “Xin đức Thế Tôn và chư tỳ-kheo tăng từ bi thọ nhận lễ cúng dường của con.”

Khi ấy, ngài A-nan đứng hầu bên Phật, liền lên tiếng hỏi rằng: “Nếu muốn cúng dường, cần phải có ít nhiều tài vật. Con chỉ là một đứa trẻ, làm sao có tiền mà mua sắm các thứ?” Bảo Thủ không đáp, chỉ xòe hai tay ra. Tiền vàng từ trong tay cứ rơi ra mãi, giây lát đã thành một đống tiền lớn.

Phật dạy A-nan: “Ngươi nên nhận lấy số tiền vàng này, cho người mua sắm các thứ, thỉnh Phật với chư tăng mà cúng dường.” A-nan vâng lời, lo việc thiết lễ cúng dường.

Lễ cúng dường xong, Phật liền vì Bảo Thủ mà thuyết pháp, khi nghe xong tâm ý khai mở, chứng quả Tu-đà-hoàn. Quay về nhà liền thưa với cha mẹ xin được xuất gia tu tập.

Cha mẹ thương yêu không muốn trái ý, liền đưa đến chỗ Phật để xin xuất gia. Phật nói: “Lành thay đó, tỳ-kheo!” Tức thì, tóc trên đầu tự nhiên rụng sạch, áo cà-sa hiện ra nơi thân, thành một vị tỳ-kheo oai nghi đầy đủ. Chuyên cần tu tập, chẳng bao lâu đắc quả A-La-hán, đủ Ba trí sáng, Sáu phép thần thông, Tám môn giải thoát, khắp cõi trời người ai gặp cũng đều kính trọng, ngưỡng mộ.

Ngài A-nan thấy vậy liền thưa hỏi rằng: “Bạch Thế Tôn! Tỳ-kheo Bảo Thủ trước đây đã tạo phước đức như thế nào, mà nay được sinh ra trong nhà hào phú, trong hai bàn tay tự nhiên hóa hiện tiền vàng, lại được gặp Phật, xuất gia đắc đạo?”

Phật bảo A-nan: “Ngươi hãy chú tâm lắng nghe, ta sẽ vì ngươi mà phân biệt giảng nói. Vào giữa Hiền kiếp này, xứ Ba-la-nại có vị Phật ra đời hiệu là Ca-diếp, giáo hóa đã xong, liền nhập Niết-bàn.

“Bấy giờ có vị vua tên là Ca-sí, thu thập xá-lỵ của Phật, dựng bốn ngọn tháp lớn đặt vào để thờ kính, cúng dường. Có vị trưởng giả đi ngang tháp ấy sinh tâm hoan hỷ, liền đến cúng một đồng tiền vàng, đặt chỗ bên dưới cổng tháp. Nhờ công đức ấy, từ đó về sau người chẳng bị đọa vào các nẻo dữ, khi sinh ra trong chốn trời người lại thời có tiền vàng hóa hiện trong hai bàn tay, cho đến nay gặp Phật xuất gia đắc đạo.”

Các vị tỳ-kheo nghe Phật thuyết nhân duyên này xong thảy đều vui mừng tin nhận.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
17/11/2011(Xem: 6486)
Tôi có ý nghĩ viết thành tập sách này vào đầu năm nay 97, nhân kỷ niệm mười năm tôi được xuất gia học đạo. Mười năm thường là cái mốc thời gian đáng nhớ cho những sự cố gì xảy ra trong một đời người. Sự cố ấy mang ý nghĩa của đổi thay dù sự đổi thay đó mang tính cách thế tục hay xuất thế. Trong đạo thầy đã dạy tôi rằng: "Sau một thời gian tu tập con cần nên cứu xét lấy mình, ngắn thì mỗi năm, dài thì năm năm, mười năm. Sau khoảng một thời gian dài ấy mà con thấy có niềm tin hơn, ý chí hơn trong sự tu tập thì đó là con đã tiến bộ. Giảm niềm tin, thiếu tinh tấn chính là con đã lui sụt. Tu tập mà không tiến bộ tức là thua sút, yếu hèn, phụ bạc công ơn thầy tổ nuôi nấng và sự thọ nhận cúng dường của đàn na thí chủ".
04/11/2011(Xem: 5900)
Tiếng súng nổ từ xa, dù lớn dù nhỏ, vẫn là chuyện thông thường không thắc mắc đối với dân Quảng Ngãi trong thời chiến tranh. Nhưng đêm nay, đêm mồng một Tết, tiếng súng nổ bên tai làm cả nhà tôi bàng hoàng. Không ai bảo ai đều giật mình thức giấc rồi chạy ào xuống nhà núp dưới chân cầu thang. Tiếng súng nổ gần quá, tôi nghe cả tiếng hô hoán: “Tiến lên!” giọng Bắc rặc của một người chỉ huy nào đó. Trời! Không lẽ mặt trận đang diễn ra trong thành phố? Tim tôi đập loạn xạ, dù mồ hôi vã ra, răng tôi vẫn đánh bò cạp. Tôi rúc vào lòng năm chị em gái và ba má của tôi. Tiếng khóc thút thít vì sợ hãi muốn oà ra nhưng tôi cố dằn lòng sợ địch quân nghe thấy. Ầm! Một trái pháo kích rớt trúng nhà phía sau của tôi. Ngói bể rơi loảng xoảng, khói đạn bay mịt mù. Tôi chỉ kịp thét lên, ôm cứng lấy má tôi, hồn như bay khỏi xác. Đó là năm Mậu Thân 1968, lúc tôi 14 tuổi.
27/10/2011(Xem: 31884)
Bùi Giáng, Người viết sách với tốc độ kinh hồn
12/10/2011(Xem: 26551)
Truyện thơ Tôn giả La Hầu La - Tác giả: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
01/10/2011(Xem: 10896)
Hàng ngũ phật tử thường được chia là phật tử tại gia và phật tử xuất gia. Các phật tử tại gia thường được gọi là cư sĩ. Trong lịch sử đạo Phật có ghi lại chuyện một số các vị cư sĩ nổi tiếng, tuy các vị ấy không xuất gia nhưng về phương diện tu hành, thấu hiểu đạo lý thì không thua kém gì các vị đã xuất gia. Có nhiều vị cư sĩ nổi tiếng nhưng bài này chỉ xin nhắc đến ông Duy Ma Cật, bà hoàng hậu Thắng Man, cư sĩ Huệ Năng lúc chưa xuất gia và sau đó đến gia đình ông Bàng Uẩn.
25/09/2011(Xem: 6353)
Lời hát ru nhẹ nhàng mà trầm buồn da diết ấy đi vào trong cả giấc mơ của Hiền. Bao lần chị giựt mình thảng thốt ngồi bật dậy… ngơ ngác nhìn quanh. Chẳng có gì khác ngoài bóng đêm lạnh giá bao trùm hai dãy xà lim hun hút. Chốc chốc vẳng lại tiếng thạch sùng chặc lưỡi, tiếng chí chóe của mấy chú tí ưa khuấy rối trong xó tối. Và cả tiếng thở dài của ai đó dội qua mấy bức tường xanh rêu im ỉm…
24/09/2011(Xem: 4408)
Ngày xưa có một chàng trai tên là Na Á. Anh mồ côi cha từ sớm, ở với mẹ già. Nhà Na Á nghèo, anh phải làm nghề đánh cá để nuôi thân, nuôi mẹ.
24/09/2011(Xem: 5238)
Một hôm em bé ngồi trong bóng cây trú nắng, gió cũng thổi mát quá, em ngủ quên, đến lúc thức dậy, thì đàn trâu đã đi mất. Em tìm khắp cánh đồng mà chẳng thấy.
21/09/2011(Xem: 4954)
Tờ Chú (có nghĩa là anh đen) nghèo nhất làng. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi không có một con dao mẻ để phát nương, một cái thuổng để đào củ mài.
21/09/2011(Xem: 4512)
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm nghề trồng dưa.